| |
Tự
Sắc “Summorum Pontificum” của ĐTC Biển Đức XVI
“Cho
tới thời điểm của chúng ta đây, các vị giáo hoàng vẫn liên lỉ
quan tâm tới việc bảo đảm rằng Giáo Hội Chúa Kitô có được một
lễ nghi xứng đáng đối với Sự Uy Nghi Thần Linh, ‘để chúc tụng
và tôn vinh danh Ngài’, và ‘để mưu lợi ích cho toàn thể Hội Thánh
của Người’.
“Từ
thời xa xưa, cũng như cho cả tương lai sau này, cần phải gìn giữ
nguyên tắc ‘mội một Giáo Hội riêng cần phải đồng nhất với Giáo
Hội hoàn vũ, chẳng những về tín lý đức tin và về các dấu hiệu
về bí tích, mà còn về cả những việc sử dụng được chấp nhận chung
theo tông truyền liên tục nữa, một truyền thống cần phải tuân
giữ để chẳng những tránh được những lầm lỗi mà còn truyền đạt
sự vẹn toàn của đức tin, vì luật lệ về việc nguyện cầu của Giáo
Hội tương hợp với luật đức tin của Giáo Hội’ (General Instruction
of the Roman Missal, 3rd ed., 2002, no. 397).
“Trong
số những vị giáo hoàng tỏ ra mối quan tâm cần thiết đó, đặc biệt
nhất là danh xưng của Thánh Grêgôriô Cả, vị đã hết sức bảo đảm
rằng các dân tộc mới ở Âu Châu đã lãnh nhận đức tin Công Giáo
và các kho tàng thờ phượng cùng văn hóa là những gì được những
người Rôma thu tích trong các thế kỷ trước đó. Ngài đã truyền
rằng hình thức của phụng vụ thánh như được cử hành ở Rôma (liên
quan tới Thánh Lễ và Phụng Vụ Giờ Kinh) cần phải được bảo trì.
Ngài đã tỏ ra hết sức quan tâm trong việc bảo đảm việc truyền
bá cũa những đan sĩ nam nữ, thành phần tuân theo Luật Thánh Biển
Đức, cùng với việc loan truyền Phúc Âm là những gì được minh chứng
nơi đời sống của họ điều khoản khôn ngoan trong Lệ Luật của họ
là ‘không gì được đặt trước công việc của Thiên Chúa’. Như thế,
phụng vụ thần linh, được cử hành theo việc sử dụng của n gười
Rôma, đã làm phong phú chẳng những đức tin và lòng đạo đức mà
còn cả văn hóa của nhiều dân tộc. Thật vậy, vấn đề đã rõ là phụng
vụ Latinh của Giáo Hội ở các hình thức khác nhau, nơi mỗi một
thế kỷ của kỷ nguyên Kitô Giáo, đã là một tác lực cho đời sống
thiêng liêng của nhiều vị thánh, đã tái củng cố nhiều dân tộc
trong việc sống nhân đức đạo giáo và làm phong phú lòng đạo đức
của họ.
“Nhiều
vị giáo hoàng Rôma khác, trong giòng lịch sử của các thế kỷ, đã
đặc biệt tỏ ra quan tâm trong việc bảo đảm rằng phụng vụ thánh
cần hoàn thành công việc này một cách hiệu nghiệm hơn nữa. Nổi
bật trong các vị là Thánh Piô V, vị được được thúc đẩy bởi tấm
lòng rất nhiệt tình về mục vụ và thực hiện những lời huấn dụ của
Công Đồng Chung Triđentrinô, một công đồng đã canh tân toàn bộ
phụng vụ của Giáo Hội, đã kiểm thị việc ấn hành các sách phụng
vụ được tu chính và ‘canh tân theo các qui tắc của các vị Nghị
Phụ’, và cung cấp những sách này để Giáo Hội Latinh sử dụng.
“Một
trong những sách phụng vụ của lễ nghi Rôma là Sách Lễ Rôma, một
sách lễ đã được phác họa ở thành Rôma, và qua các thế kỷ, từ từ
đã mặc lấy các hình thức rất giống với các hình thức lễ nghi này
có được trong thời gian gần đây.
“'Chính
vì nhắm đến cùng một mục đích này mà các vị Giáo Hoàng sau đó
đã dồn nỗ lực của mình trong các thế kỷ tiếp theo để bảo đảm rằng
các lễ nghị và các sách phụng vụ cần phải được cập nhật hóa và
khi cần thiết được sáng tỏ hơn. Từ đầu thế kỷ này chúng đã trải
qua một cuộc canh tân tổng quan hơn’ (John Paul II, Apostolic
Letter "Vicesimus quintus annus," 4 December 1988, 3:
AAS 81 [1989], 899). Bởi thế mà các vị tiền nhiệm của chúng ta
là Clêmentê VIII, Urbanô VIII, Thánh Piô X (cùng nguồn vừa dẫn),
Biển Đức XV, Piô XII và Chân Phước Gioan XXIII tất cả đều đã góp
phần.
“Vào
những thời gian gần đây hơn nữa, Công Đồng Chung Vaticanô II đã
bày tỏ lòng mong ước rằng việc tôn thờ thần linh cần phải canh
tân và thích ứng với các nhu cầu của thời đại chúng ta. Được tác
động bởi lòng mong ước này, vị tiền nhiệm của chúng tôi là Đức
Giáo Hoàng Phaolô VI đã phê chuẩn vào năm 1970 các sách phụng
vụ, đã canh tân và một phần đã lạm lại các sách về phụng vụ cho
Giáo Hội Latinh. Những sách phụng vụ này, được chuyển dịch sang
các thứ ngôn ngữ khác nhau trên thế giới, đã được các vị giám
mục, linh mục và tín hữu mau mắn chấp nhận. Đức Gioan Phaolô II
đã tu chính ấn bản mẫu thứ ba của Sách Lễ Rôma. Như thế, các vị
Giáo Hoàng Rôma đã hoạt động để bào đảm rằng “vấn đề xây dựng
phụng vụ này … một lần nữa cần phải tỏ ra ngời sáng cái giá trị
và sự hòa hợp của mình” (St. Pius X, Apostolic Letter Motu propio
data, "Abhinc duos annos," 23 October 1913: AAS 5 (1913),
449-450; cf John Paul II, Apostolic Letter "Vicesimus quintus
annus," no. 3: AAS 81 [1989], 899).
“Thế
nhưng, ở một số miền, không ít tín hữu gắn bó và tiếp tục đầy
lòng yêu thích và cảm mến với những hình thức phụng vụ trước.
Những hình thức này đã cắm rễ sâu xa vào nền văn hóa của họ và
tinh thần của họ đến nỗi vào năm 1984, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô
II, cảm kích quan tâm tới việc mục vụ chăm sóc cho thành phần
tín hữu ấy, bằng văn kiện ‘Quattuor abhinc anno’ ân xá đặc biệt,
do Thánh Bộ Thờ Phượng ban hành, cho phép sử dụng Sách Lễ Rôma
của Chân Phước Gioan XXIII năm 1962. Sau đó, vào năm 1988, qua
Tông Thư được ban bố như là một Tự Sắc ‘Ecclesia Dei’, đã khuyến
khích các vị giám mục hãy rộng rãi sử dụng quyền này đối với tất
cả mọi tín hữu hết lòng mong ước.
“Theo
những lời nguyện cầu nài van của thành phần tín hữu ấy, những
lời nguyện cầu được vị tiền nhiệm Gioan Phaolô II cân nhắc lâu
dài, và sau khi đã lắng nghe các quan điểm của các vị Nghị Phụ
Hồng Y của Mật Nghị ngày 22/3/2006, cuộc mật nghị suy nghĩ sâu
xa về tất cả mọi khía cạnh của vấn đề, chúng tôi, sai khi kêu
cầu cùng Thánh Linh và tin tưởng vào ơn trợ giúp của Thiên Chúa,
ấn định những điều sau đây:
“Khoản
1. Sách Lễ Rôma được Đức Phaolô VI ban hành là việc bày tỏ bình
thường của ‘Lex orandi’ (Luật cầu nguyện) của Giáo Hội Công Giáo
thuộc lễ nghi Latinh. Tuy nhiên, Sách Lễ được Thánh Giáo Hoàng
Piô V ban hành và được tái ban hành bởi Chân Phước Giáo Hoàng
Gioan XXIII cần phải được coi là một việc bày tỏ ngoại lệ của
cùng ‘Luật cầu nguyện’ này, và cần phải tôn trọng cách xứng đáng
việc sử dụng đáng kính và cổ kính của nó. Hai việc bày tỏ này
của Luật cầu nguyện trong Giáo Hội không được dẫn tới chổ chia
rẽ ‘Lex credendi’ (Luật tin kính) của Giáo Hội. Thật vậy, chúng
là hai việc sử dụng của cùng một lễ nghi Rôma duy nhất.
Bởi
thế, nó vẫn được phép cử hành Hy Tế Thánh Lễ theo ấn bản mẫu của
Sách Lễ Rôma do Chân Phước Gioan XXIII ban hành năm 1962 và không
bao giờ bị loại trừ như là một hình thức ngoại lệ của Phụng Vụ
Giáo Hội. Các điều kiện để sử dụng Sách Lễ này đã được đề ra nơi
các văn kiện trước đây ‘Quattuor abninc annis’ và ‘Ecclesia Dei’,
được thay đổi như sau:
“Khoản
2. Trong các Thánh Lễ được cử hành không có giáo dân tham dự thì
mỗi vị linh mục Công Giáo theo lễ nghi Latinh, dù là mãi mãi hay
thường lệ, có thể sử dụng Sách Lễ Rôma được Đức Gioan XXIII ban
hành năm 1962, hay Sách Lễ Rôma được Đức Phaolô VI ban hành năm
1970, và có thể làm như thế vào bất cứ ngày nào ngoại trừ Tam
Nhật Phục Sinh. Đối với các việc cử hành như thế, cử hành theo
Sách Lễ này hay khác, vị linh mục không cần phép của Tòa Thánh
hay Bản Quyền địa phương của mình.
“Khoản
3. Các Cộng Đồng Dòng Tu sống đời tận hiến và các Hội sống đời
tông đồ, thuộc quyền Tòa Thánh hay giáo phận, muốn cử hành Thánh
Lễ theo ấn bản Sách Lễ được ban hành năm 1962, cho việc cử hành
chung ‘cộng đồng’ ở nguyện đường của mình, thì được phép làm như
vậy. Nếu cộng đồng riêng nào hay cả một Hội Dòng hay một Hội muốn
thực hiện những việc cử hành như thế thường xuyên, theo thói quen
hay thường trực, quyết định này cần phải được thực hiện bởi vị
Bề Trên Cả, theo luật và những qui định đặc biệt của họ.
“Khoản
4: Các cuộc cử hành Thánh Lễ được đề cập tới ở khoản 2 trên đây
có thể – khi tuân giữ tất cả mọi qui chuển của luật lệ – cũng
có thể có giáo dân tham dự, thành phần tự động muốn được dự phần.
(còn tiếp)
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo VIS ngày 7/7/2007
- Thoidiemmaria.net
|
|