Thư Ba, 20/3/2007

 
 

 

“Việc cổ võ vấn đề bình đẳng và tăng quyền hạn của nữ giới”

ĐTGM Celestino Migliore Đại Diện Tòa Thánh ở Liên Hiệp Quốc Nữu Ước Hoa Kỳ với Khóa Họp 61 của Tổng Hội Đồng ngày 8/3/2007

Thưa Bà Chủ Tịch,

Để mở đầu, đại biểu tôi đây xin cám ơn bà về việc triệu tập cuộc Tranh Luận Bán Chính Thức Theo Đề Tài này của Tổng Hội Đồng về Việc Cổ Võ Quyền Bình Đẳng Giống Tính và Việc Tăng Quyền cho Nữ Giới,  cùng với những cuộc tranh luận theo nhóm sau đó về nữ giới trong việc thực hiện quyết định và gia tăng quyền lực cho nữ giới bao gồm cả vấn đề tiểu tài trợ. Cuộc tranh luận hợp thời này là một thứ góp phần quan trọng cho những suy tư về các vấn đề nhân phẩm, quyền lợi và nghĩa vụ của nữ giới cũng như vào vai trò cùng những chiến đạt của họ trong những lãnh vực khác nhau nơi xã hội.

Việc tìm cầu hợp lý cho quyền bình đẳng giữa nam nhân và nữ giới đã đạt được các thành quả tích cực ở lãnh vực bình đẳng về quyền lợi. Việc tìm cầu này cần phải được kèm theo ý thức rằng quyền bình đẳng này được đi liền với và không được gây tai hại, lại càng không được tương phản, với sự nhìn nhận cả tính cách khác biệt lẫn tính cách bổ xung giữa nam nhân và nữ giới. Thiếu sự nhìn nhận này thì cuộc tranh đấu cho quyền bình đẳng sẽ không còn tính cách đích thực nữa.

Thật vậy, dường như thông thường thì những ý nghĩ về quyền bình đẳng quyền lợi giữa nam nhân và nữ giới đã từng được đánh dấu bằng một đường lối đối kháng đề cao cái trái nghịch giữa họ với nhau. Đường lối này đặt nữ giới phản lại nam nhân hay ngược lại, trong khi căn tính và vai trò của bên  này được nhấn mạnh với chủ ý làm giảm thiểu căn tính và vai trò của bên kia. Việc thành đạt trong việc tìm cầu quyền bình đẳng và gia tăng quyền hạn cho nữ giới chỉ có thể thành đạt một cách tốt đẹp nhất khi cái đối kháng này nhường bước cho sự tương kính và nhìn nhận căn tính cùng vai trò của bên này đối với bên kia.

Khuynh hướng thứ hai đó là việc làm lu mờ đi, nếu không muốn nói là hoàn toàn chối bỏ, những khác biệt giữa nam nhân và nữ giới. Để tránh sự thống trị của phái tính này trên phái tính kia, những sự khác biệt của chúng có khuynh hướng bị trở thành lu mờ đi hay được thấy như là những hậu quả thuần túy của điều kiện lịch sử và văn hóa. Cái khác biệt về thể lý thường được giảm thiểu, trong khi chiều kích thuần túy về văn hóa lại được gia tăng tối đa và được coi là chính yếu. Việc làm lu mờ đi những sự khác biệt này đã ảnh hưởng tới tính cách bền vững của xã hội cũng như của các gia đình, chưa kể tới quyền bình đẳng nơi các mối liên hệ giữa nam nhân và nữ giới. Quyền bình đẳng giữa nữ giới và nam nhân và việc gia tăng quyền hạn cho nữ giới sẽ đạt được khi những khác biệt về phái tính được nhìn nhận và đề cao như là những gì bổ xung, và yếu tố về văn hóa của giống tính được hiểu theo chiều hướng đúng đắn của nó.

Việc gia tăng quyền hạn cho nữ giới có liên quan tới việc gia tăng sức mạnh của họ về xã hội, chính trị, kinh tế và tâm linh, cả về tính cách cá nhân lẫn đoàn thể, cũng như tới việc loại trừ đi những trở ngại bất lợi cho nữ giới và không cho họ được hoàn toàn hội nhập vào các lãnh vực khác nhau trong xã hội.  Nói một cách cụ thể thì nó có nghĩ a là giải quyết những việc thực hành kỳ thị tỏ ra kỳ thị nữ giới trong các tiến trình quyết định, thường bị gây ra hay quá trớn bởi sự kỳ thị theo chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo và vị thế của nữ giới.

Việc nữ giới trong xã hội cần phải được tham gia vào việc quyết định chẳng những đúng vì những lý do bình đẳng mà còn vì những minh thức đặc biệt được nữ giới mang lại cho tiến trình ấy nữa. ‘Tinh hoa của nữ giới’ sẽ là những gì cho thấy sáng giá nhất, khi nữ giới càng ngày càng đóng vai trò chính yếu trong việc giải quyết những thách đố trầm trọng mà thế giới đang đương đầu. Việc tăng quyền hạn cho nữ giới cũng có nghĩa là trả lương bình đẳng cho việc làm như nhau, là công bình nơi việc thăng tiến về nghề nghiệp, và là sự bình đẳng giữa vợ chồng nơi các quyền lợi trong gia đình. Cũng thế, nó có nghĩa là thành phần nữ giới quyết định làm vợ và làm mẹ cần phải được bảo vệ và không bị tác hại.

Về vấn đề gia tăng quyền hạn cho nữ giới bằng việc tiểu tài trợ, đại biểu tôi lấy làm hãnh diện nơi sự kiện là qua nhiều thập niên có một số tổ chức và cơ quan của Giáo Hội Công Giáo đã chủ động thực hiện việc tiểu tài trợ này. Chỉ cần lấy một thí dụ, đó là cơ quan Các Dịch Vụ Cứu Trợ Công Giáo – Catholic Relief Services, một cl7 quan hoạt động ở 99 quốc gia thuộc các châu lục, bắt đầu những chương trình tiểu tài trợ vào năm 1988 ở năm quốc gia. Giờ đây c ác chương trình này đang thực hiện ở ít là 30 quốc gia, với trên 850 ngàn thân chủ, trong đó 75% là nữ giới. Chương trình này tập trung vào người nghèo, nhất là nữ giới nghèo, ở các cộng đồng thôn quê hẻo lánh xa xôi, nơi không có phương tiện để được hưởng những dịch vụ về tài chính. Ngoài ra, để xây dựng những khả năng về tài chính và bảo đảm tín h cách khả trợ của chương trình, các thân chủ trực tiếp được tham gia vào việc điều hành và quản trị của những dịch vụ họ thừa hưởng nữa.

Các cuộc nghiên cứu đã cho thấy việc tiểu tài trợ đã dẫn tới chỗ cải tiến rộng lớn ra sao về tình trạng của nữ giới, từ việc chiếm được sự tôn trọng hơn nữa từ nam nhân đến việc được nhận biết như là thành phần đóng góp quan trọng của xã hội, từ việc chiếm đạt được tình trạng sức khỏe gia đình tốt đẹp hơn đến việc nhận thức hơn giá trị của vấn đề giáo dục; từ việc tự tin hơn đến việc đóng vai trò lãnh đạo trong vấn đề giảm nghèo. Những thành quả tích cựa này nọ nơi cuộc sống hằng ngày của nữ giới cho chúng ta thấy rằng việc tiểu tài trợ là những gì được ân cần ủng hộ. Tuy nhiên, chúng ta cần phải nhận thức rằng khó có thể là một thứ thuốc chữa bách bệnh cho tất cả mọi thứ bệnh nạn đang hoành hành nữ giới ở các quốc gia đang phát triển. Ngoài ra, hệ thống này không tránh khỏi việc lạm dụng. Thật vậy, vấn đề được ghi nhận là trong một số hoàn cảnh và nơi chốn, người nam yêu cầu vợ mình mượn tiền từ việ ctiểu tài trợ này, rồi lấy số tiền mượn đó đi làm ăm cho mình, hay thậm chí sử dụng số tiền đó cho các mục đích khác.

Song song với những thiện ích gia tăng quyền hạn cho nữ giới mang lại từ những khởi động như việc tiểu tài trợ, là nhu cầu giáo dục và nâng cao ý thức, nhất là ở cấp độ cộng đồng địa phương. Việc giáo dục nữ giới vẫn đặc biệt là dụng cụ quan trọng nhất trong vấn đề cổ võ quyền bình đẳng giữa nam nhân và nữ giới, cũng như trong vấn đề gia tăng quyền hạn của nữ giới để đóng góp một cách trọn vẹn vào vào xã hội. Về phần mình, Tòa Thánh mong ước tiếp tục giáo dục những người con trai con gái, những người nam nữ, hãy nuôi dưỡng và nâng dỡ phẩm giá, vai trò và quyền lợi của nữ giới. Bằng những dụng cụ như thế, việc gai tăng quyền hạn của nữ giới có thể bắt đầu đâm rễ và triển nở ở những nơi vấn đề gia tăng quyền hạn này vẫn còn đầy thiếu hụt.

Cám ơn Bà Chủ Tịch.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 8/3/2007 - Thoidiemmaria.net

 

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)