| |
Diễn giải về ý nghĩa của “Bản thông cáo” của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin về cha Jon Sobrino, SJ.
VietCatholicNews 20/03/2007)
Như các phương tiện truyền thông đã đưa tin, ngày 15 tháng 3 năm 2007, Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin đã chính thức công bố thông cáo về hai tác phẩm (viết bằng tiếng Tây Ban Nha) của Linh Muc Jon Sobrino: Jesucristo liberador. Lectura histórico-teológica de Jesús de Nazaret (Madrid, 1991) — tạm dịch là Giêsu Kitô, Đấng Giải Phóng — và cuốn La fe en Jesucristo. Ensayo desde las víctimas (San Slavador, 1999) — tạm dịch là Đức Tin Vào Giêsu Kitô.
Trước nhu cầu và sự quan tâm ngày càng tăng của tín hữu trong việc tìm hiểu và học hỏi về các chân lý đức tin, bài viết này có ý diễn giải một cách đơn sơ, dễ hiểu các lập luận trong thông cáo của Thánh Bộ, như một công cụ để các giáo lý viên, những bạn trẻ và các tu sĩ, chủng sinh trẻ tham khảo. Hy vọng những điều trình bày ở đây không những giúp các bạn hiểu rõ hơn bản thông cáo, mà còn tạo cơ hội khuyến khích các bạn học hỏi, trau dồi thêm kiến thức của mình về các điểm căn bản của đức tin, để các bạn có thể tự tin sống tốt đức tin của mình và còn trình bày cho người khác nữa.
Bài viết này chỉ có ý diễn giải mục đích, nội dung của bản thông cáo, không có ý đi sâu vào cuộc tranh luận chuyên môn liệu xem Thánh Bộ có hiểu đúng ý tác giả Sobrino hay không và liệu rằng những “cáo buộc” của bản thông cáo có công bằng, khách quan và hợp lý hay không. Để đi vào cuộc tranh luận có tính chuyên môn đó, ta cần phải nghiên cứu chi tiết các tác phẩm của tác giả, để hiểu cách trung thực nhất có thể được ý tác giả muốn nói gì. Điều đó, thiết nghĩ, hiếm có ai làm tốt hơn chính tác giả. Nhưng chúng ta hãy xem mục đích của bản thông cáo trước đã, xem xem đi vào cuộc tranh luận như vậy có cần thiết không.
1. Mục đích và bản chất của bản thông cáo
Trước hết, bản thông cáo không có mục đích lên án cá nhân cha Jon Sobrino là lạc đạo, mà thậm chí còn thán phục nỗ lực của ngài sống giữa người nghèo, đấu tranh, suy tư và viết thần học cho họ. Mối quan tâm đối với người nghèo luôn là ưu tiên hàng đầu của tất cả Giáo Hội.
Bản thông cáo cũng không quả quyết rằng ý của cha Sobrino cố ý muốn nói sai các chân lý đức tin, mà rằng một số câu, một số cụm từ, một số chữ trong hai tác phẩm đó có khuynh hướng và nguy cơ làm cho người khác hiểu sai các chân lý đức tin. Bản thông cáo khẳng định rằng, các câu chữ đó, nếu đọc trong ngữ cảnh của toàn bộ cuốn sách, có thể sẽ có nghĩa khác, không sai với chân lý đức tin. Nhưng Thánh Bộ vẫn cảm thấy cần phải đưa ra những lưu ý minh bạch về các câu chữ đó, vì chúng “nguy hiểm”, tức có nguy cơ làm cho người khác hiểu lầm, hiểu sai chân lý đức tin.
Thiết nghĩ, cần phải nói thêm về ý nghĩa của tính từ “nguy hiểm” mà bản thông cáo gán cho một số câu, chữ đó. Thiết tưởng không nên hiểu “nguy hiểm” ở đây theo nghĩa là “đây là một tội phạm nguy hiểm”. Ta lấy một ví dụ: thường thì ta lái xe máy bằng hai tay, nhưng đôi khi, vì nhu cầu (cầm gì đó), vì bắt buộc (đau tay chẳng hạn), cũng có thể lái bằng một tay. Ta hay nói rằng: “lái xe máy bằng một tay là nguy hiểm”. Không phải là tuyệt đối không thể (bất cứ ai, trong bất cứ trường hợp nào) lái xe máy bằng một tay được, nhưng mà là nguy hiểm khi làm như thế. Mức độ nguy hiểm khác nhau tuỳ theo người lái: học sinh cấp hai, vừa mới tập lái xe máy, mà lái bằng một tay thì sẽ nguy hiểm hơn là chú cảnh sát giao thông, đã lái xe máy phân khối lớn lâu năm, cũng lái bằng một tay. Lại càng nguy hiểm hơn nữa nếu có ai chủ trương rằng, bất cứ ai, trong bất cứ trường hợp nào, hễ lái xe máy thì phải lái bằng một tay (!).
Thiết nghĩ, tính từ “nguy hiểm” có thể hiểu tương tự như vậy (tuy rất khập khiễng) khi gán cho các câu, chữ của cha Sobrino. Bản thông cáo nói rõ, chính vì thực tế rằng, hai cuốn sách trên đang rất phổ biến, nên để tránh nguy cơ những người mới học thần học tưởng lầm rằng, hễ cứ làm thần học thì phải làm thần học như vậy, hễ muốn hiểu về Đức Kitô thì phải hiểu như vậy (so sánh với: hễ cứ lái xe máy thì phải lái bằng một tay), nên Thánh Bộ mới ra thông cáo để nói rằng, hiểu về Đức Kitô như vậy là “nguy hiểm”. Liên hệ với lập luận “lái xe máy bằng một tay” ở trên, ta có thể nói rằng, không phải là không thể hiểu về Đức Kitô Giêsu như một số câu chữ của cha Sobrino gợi ý, nhưng hiểu như thế là nguy hiểm. Mức độ nguy hiểm tùy thuộc vào người đọc, và nguy hiểm nhất là chủ trương rằng đó là cách hiểu duy nhất đúng đắn về Đức Kitô.
Bây giờ chúng ta đi vào nội dung của bản thông cáo, xem những điểm nào cần lưu ý trong các tác phẩm của cha Sobrino, và tại sao.
2. Tiền đề- phương pháp
Chúng ta đều biết rằng trong một lập luận, thì kết luận được rút ra từ các tiền đề. Tiền đề, giống như nền móng của một ngôi nhà, nếu sai hoặc không vững chắc, thì cả ngôi nhà lập luận bị sụp. Chúng ta cũng đều biết rằng, trước khi làm một điều gì đó, thì việc chọn phương pháp, phương tiện làm cũng rất là quan trọng.
Bản thông cáo cho rằng tiền đề về phương pháp làm Kitô học của cha Sobrino không vững chắc, thậm chí còn sai nữa. Bản thông cáo cho rằng, theo cha Sobrino, thì phải nhìn Đức Kitô bằng con mắt của người nghèo (tức trong tâm trạng, với những mong đợi của người nghèo) thì mới làm Kitô học đúng đắn được.
Thánh Bộ cho rằng khẳng định như vậy có thể dẫn đến sai lầm về việc chọn khởi điểm để làm Kitô học. Mọi suy tư thần học, nói riêng là Kitô học trong trường hợp này, phải phát xuất từ đức tin tông truyền, tức là đức tin được các Tông Đồ truyền lại trong Giáo Hội, qua các thời đại từ trước đến nay. Đây là chân lý chung mà hiếm có nhà thần học nào chối cãi.
Nhưng có một chân lý nữa về phương pháp mà cũng hiếm có người chối cãi, đó là, đức tin tông truyền đó phải đối diện với các hoàn cảnh cụ thể hiện tại, và phải tìm cách đối thoại với chúng thì mới có thể được diễn tả và trình bày cách ý nghĩa và thiết thực được.
Cả hai chân lý đều tối cần thiết, hoà quyện và ảnh hưởng lẫn nhau không thể tách rời. Có thể nói rằng, cha Sobrino nhấn mạnh chân lý thứ hai, còn bản thông cáo thì cho rằng, một số khẳng định của ngài có nguy cơ làm cho người đọc coi nhẹ hoặc phớt lờ chân lý thứ nhất.
Ta đừng vội nghĩ rằng có một sự đối kháng giữa môt bên là “quan điểm của người nghèo” và bên kia là “quan điểm của đức tin tông truyền”, như thể là “quan điểm của đức tin tông truyền” là quan điểm của người giàu vậy (!). Ta nên nhớ lại rằng, đa số các Tông Đồ đều là người nghèo. Nhưng vào thời đó, không phải tất cả mọi người nghèo đều đi theo Đức Kitô và tin vào Ngài như các Tông Đồ. Như vậy, “quan điểm của đức tin tông truyền” nhất thiết là quan điểm của người nghèo, người nghèo của Yahweh. Nhưng “quan điểm của người nghèo” không nhất thiết là quan điểm đức tin của các Tông Đồ, vì có những người nghèo vô sản, vô thần chẳng hạn, họ không hề tin vào Đức Giêsu Kitô.
Dĩ nhiên, để cho khách quan và công bằng, ta phải nói rằng không nên bắt bẻ cha Sobrino trên từ ngữ, mà phải xét cách cụ thể xem “quan điểm của người nghèo” của cha Sobrino có nằm ngoài “quan điểm tông truyền” hay không, nhưng việc này, như đã nói trên, vượt ngoài giới hạn của bài viết này. Nhưng cũng nên nói rằng, từ ngữ cũng có thể gây hiểu lầm. Và riêng bản thông cáo thì cho rằng là có, vì cụ thể có những điểm trong nội dung Kitô học của cha Sobrino có nguy cơ đi sai chệch đức tin tông truyền. Ta hãy xét xem các điểm đó là gì.
3. Thiên tính của Đức Kitô
Bản thông cáo nói rằng, cha Sobrino không chối bỏ thiên tính của Đức Kitô, nhưng có thể gây ấn tượng sai rằng Tân Ước không nói gì về thiên tính của Đức Kitô cả, mà đó chỉ là sáng chế của Giáo Hội sau này, nhất là vào thời các Công Đồng đầu tiên. Một lần nữa, bài viết này không bàn tới việc liệu có đúng cha Sobrino có ý nói như vậy hay không. Vả lại, lời dẫn nhập của bản thông cáo, như đã nói trên, dường như cũng không có ý nói rằng chủ ý của cha Sobrino là nói như vậy, nhưng chỉ có ý nói rằng, một số câu chữ của ngài có thể gây hiểu lầm như vậy. Nói cách khác, bản thông cáo khuyến dụ rằng người đọc, khi đọc cha Sobrino, không nên hiểu các câu chữ của ngài theo nghĩa như vậy.
Vì quả thật là nguy hiểm nếu lập luận rằng, vì các Công Đồng dùng các khái niệm triết học để nói về thiên tính của Đức Kitô, và vì các khái niệm triết học đó không có trong Tân Ước, nên thiên tính của Đức Kitô không có trong Tân Ước. Thực ra, Tân Ước đã diễn tả rất rõ đức tin của các Tông Đồ và các tín hữu tiên khởi vào thiên tính của Đức Kitô rồi. Đức tin đó đã được diễn tả bằng các câu chuyện, các câu tuyên xưng đức tin xúc tích, các câu tung hô trong phụng vụ. Nhưng dĩ nhiên, các tín hữu tiên khởi chưa hề biết đến các khái niệm triết học Hy Lạp như “bản tính”, “bản thể”, “ngôi vị” mà dùng để diễn tả đức tin vào thiên tính đó của Đức Kitô. Đó là điều mà các Công Đồng sau này đã làm để tuyên xưng và trình bày đức tin của các tông đồ truyền lại, một cách “khoa học” cho một xã hội đề cao tinh thần triết học. Như vậy có một sự “khác biệt” nhưng cũng có một sự “liên tục” giữa các giai đoạn diễn tả và tuyên xưng đức tin khác nhau của Giáo Hội. “Liên tục” ở chỗ giai đọan trước tạo nền tảng, tiền đề, điều kiện, đà phát triển cho giai đoạn sau. Các Công Đồng đã có những định tín thế này thế kia chính vì (chứ không phải mặc dù rằng) Tân Ước đã nói thế này thế kia. “Khác biệt” không chỉ ở chỗ là các diễn tả chân lý đức tin rõ ràng là khác nhau, nhưng còn đụng chạm ở một mức độ nào đó đến “chất” của đức tin nữa. Vì, như triết học ngôn ngữ hiện đại khẳng định, không chỉ “ý tưởng” quyết định đến dạng thức của “diễn tả”, nhưng chính “diễn tả” cũng gây ảnh hưởng ngược lại trên “ý tưởng”. Khi ta hiểu thì ta nói được, nhưng khi ta nói ra được rồi, ta lại càng hiểu hơn, và cách ta nói ra thế nào sẽ ảnh hưởng đến cách ta tiếp tục hiểu vấn đề.
Quá trình “phát triển trong liên tục”, “sáng tạo trong truyền thống” này diễn ra trong lịch sử, tức theo thời gian. Mà thời gian thì không thể quay ngược lại được, vì con người có tính lịch sử, hình thành tính cách, danh tính và cả bản chất của mình qua lịch sử. Nên cái mạch liên thông của quá trình phát triển giáo lý đức tin của Giáo Hội là rất quan trọng và không thể chối cãi hay xoá bỏ được mà không gây hậu quả nghiêm trọng. Ta lấy một ví dụ trên bình diện cá nhân: một người tự dưng mất hết trí nhớ, mất hết các khả năng của một con người mà anh ta đã học tập, thu luyện được từ trước tới nay, sẽ không còn là chính mình nữa, thậm chí, sẽ không còn là người đúng nghĩa nữa. Nếu sự mất trí nhớ đó diễn ra liên tục (như trong phim Memento chẳng hạn) thì anh ta sẽ phải liên tục bắt đầu lại ngay từ đầu trong ý thức về bản ngã của mình, do đó sẽ không thể xây dựng bản ngã chính mình, sẽ không còn biết mình là ai, và sẽ không thể xây dựng cuộc sống liên tục của một con người được.
4. Chúa Con và Đức Kitô?
Bản thông cáo cho rằng, cha Sobrino có vẻ có khuynh hướng phân biệt thái quá, và có thể dẫn đến một sự tách biệt giữa Chúa Con và Đức Kitô. Một sự tách biệt như vậy, chính Nestorius đã làm rồi khi nói rằng, Đức Mẹ chỉ là mẹ của Đức Kitô, chứ không thể được gọi là Mẹ Thiên Chúa được, và Công Đồng Ephesus đã lên án sự tách biệt đó. Công Đồng cho rằng Đức Kitô chính là Chúa Con trong điều kiện làm người. Chứ không phải là, có sẵn một bên là một thực thể gọi là Đức Giêsu, bên kia là một thực thể khác gọi là Chúa Con, rồi tới một lúc nào đó, thực thể Chúa Con nhập vào thực thể Đức Giêsu thành một. Như vậy, cái “một” này không hoàn toàn thực sự là một, mà chỉ là “hai trong một”. Công Đồng khẳng định rằng chỉ có một chủ thể duy nhất, đó là Chúa Con, toàn năng, vẫn có đó từ đời đời, nhưng trong lịch sử, Ngài đã trở thành người như chúng ta; và khi trở thành người thì Ngài là Đức Giêsu Kitô, một con người thực sự.
Công Đồng cũng cho rằng, vì là một chủ thể duy nhất, nên mọi đặc tính của Chúa Con cũng là của Đức Kitô, và ngược lại. Vì Chúa Con là Thiên Chúa toàn năng, nên, trong ngôn ngữ Kitô giáo, ta cũng có thể nói được rằng Đức Kitô là Thiên Chúa toàn năng. Dĩ nhiên, thần học sẽ phải tìm hiểu xem cách thức mà Chúa Con sống và thể hiện sự toàn năng của Ngài trong điều kiện làm người cụ thể là như thế nào, để không mâu thuẫn hoặc phá huỷ bản chất, tính cách con người thực sự của Ngài. Bởi nếu không diễn tả được điều đó, thì thần học sẽ rơi vào một nguy cơ khác, thường được gọi là monophysitism, một chủ thuyết mà Công Đồng Chalcedon (ngay sau Công Đồng Ephesus) đã lên án. Để bảo vệ, nhấn mạnh đến thiên tính của Đức Kitô, chủ thuyết này đại khái cho rằng Ngài không thật sự là người, mà là Chúa Con, chỉ “giả vờ” làm người mà thôi. Như vậy ta thấy rằng chân lý đức tin về Đức Kitô không dễ diễn tả tí nào, và rất dễ rơi vào nguy cơ cực đoan. Thiết nghĩ rằng, cha Sobrino đang cố gắng làm điều đó, nhưng những nỗ lực của ngài được bản thông cáo cho thấy là có nguy cơ gây hiểu lầm.
5. Đức Giêsu Kitô và Nước Thiên Chúa?
Bản thông cáo cho rằng, cha Sobrino cũng không nói rõ lên được mối liên hệ chặt chẽ nội tại duy nhất giữa Đức Kitô và Nước Thiên Chúa. Thần học Công Giáo luôn khẳng định rằng Đức Kitô không chỉ làm cho Nước Thiên Chúa đến, mà chính Ngài là Nước Thiên Chúa đã đến và đang đến. Cho nên nhân tố thiết yếu thúc đẩy và mang lại việc hiện thực hoá Nước Thiên Chúa trên trái đất này không phải chỉ là những việc Đức Kitô làm hay những điều Ngài dạy, mà là chính bản thân, chủ thể, con người Ngài. Dĩ nhiên Nước Thiên Chúa không hoàn toàn đồng hoá với Đức Kitô, nhưng nếu không có sự hiện diện của Ngài, thì sẽ không có Nước Thiên Chúa. Mà ta thấy rằng Đức Kitô là Chúa Con, danh tính của Ngài là độc nhất vô nhị, nên không ai có thể thay thế Ngài trong việc khởi đầu việc hiện tại hoá Nước Thiên Chúa.
Nếu không làm rõ mối liên hệ nội tại đó giữa con người Đức Kitô và Nước Thiên Chúa thì sẽ có nguy cơ dẫn đến suy luận rằng, Nước Thiên Chúa có thể được hiện thực hoá mà không cần Đức Kitô, chỉ cần bất cứ ai đó, có thể làm những điều như Đức Kitô đã làm là đủ rồi. Như thế, Socrates, Marx, Mẹ Therese, Bác Hồ cũng có thể đem Nước Chúa đến y như Đức Kitô vậy. Dĩ nhiên là mọi người đều có quyền và trách nhiệm góp phần vào việc làm cho Nước Thiên Chúa đến, nhưng nếu không có sự khởi đầu nơi Đức Kitô thì mọi công lao của chúng ta đều vô ích hết.
6. Đức tin của Đức Giêsu?
Bản thông cáo cho rằng cha Sobrino, khi nói về đức tin của Đức Giêsu (vốn không có gì là sai cả), đã không làm nổi bật lên được ý thức mình là Chúa Con của Ngài, tức mối tương quan mật thiết độc nhất vô nhị của Ngài đối với Chúa Cha. Điểm này có liên quan đến cuộc tranh luận về ý thức nhân loại của Đức Giêsu về chính mình. Ngài có biết mình chính là Chúa Con hay không? Rõ ràng Đức Giêsu, một người Do Thái vào thế kỷ thứ nhất, không thể nghĩ về mình dựa theo các khái niệm Hy Lạp “tam vị nhất thể”, vốn chỉ thật sự hình thành vào thế kỷ thứ tư. Nhưng Tân Ước luôn nhấn mạnh mối tương quan đặc biệt thân tình, mật thiết của Ngài với Thiên Chúa mà Ngài gọi bằng Cha.
Một số thần học “đi từ dưới lên”, để nhấn mạnh nhân tính của Đức Giêsu, cho rằng, Ngài không thể biết rõ ràng như một rằng Ngài là Thiên Chúa, và mối tương quan của Ngài với Thiên Chúa phải là mối tương quan dựa trên đức tin, như mọi con người khác. Thần học Kinh Viện thì cho rằng, vì chủ thể của Ngài là chủ thể của Chúa Con, nên nhân tính của Ngài cũng là một nhân tính độc nhất vô nhị, không bị tội lỗi và dục vọng làm mờ tối tâm trí, nên Ngài hưởng phúc kiến, luôn kết hợp thân tình và mật thiết với Cha, chứ không dò dẫm trong đêm tối đức tin như ta.
Vấn đề then chốt ở đây, như trên đã nói, là làm thế nào hiểu và diễn đạt chân lý đức tin rằng Đức Giêsu chính là Chúa Con trong thân phận làm người, mà không làm suy giảm hoặc phá huỷ nhân tính đích thực của Ngài. Thực ra, thế nào là nhân tính đích thực? Nhân tính của mỗi người chúng ta có đích thực không? Có thật sự là, để nhân tính của Đức Giêsu đích thực, thì Ngài phải giống ta hoàn toàn, kể cả các giới hạn, tính hư nết xấu của ta?
Theo Công Đồng Vatican II (Gaudium et Spes) thì tiêu chuẩn để đánh giá con người đích thực là chính Đức Giêsu, Ngài là thước đo của bản tính nhân loại. Như vậy, nhân tính của Ngài làm chuẩn cho nhân tính của ta, chứ không phải tuân theo chuẩn của ta. Thiết nghĩ, “phúc kiến” của thần học Kinh Viện không loại trừ “đức tin” của thần học từ dưới lên. Phúc kiến của Đức Giêsu là phúc kiến trong thân phận làm người, và đức tin của Ngài là đức tin của Chúa Con trong thân phận làm người. Ngài phải tương quan với Cha, tìm ý Cha, trong những điều kiện, khả năng của nhân tính Ngài, một nhân tính đích thực, hoàn hảo, nên đức tin của Ngài không hoàn toàn đồng hoá với đức tin của ta. Vì thế, như Tân Ước nêu rõ, tương quan của Ngài với Cha cũng khác tương quan của ta với Cha.
Nói như trên thực ra chỉ là đưa ra những điểm chốt phải nắm giữ cùng một lúc, chứ chưa thực sự giải thích thoả đáng vấn đề. Tìm hiểu về Đức Giêsu là công việc muôn thuở của thần học, và của mọi người tín hữu. Cha Sobrino đã cố gắng làm điều đó. Thiết nghĩ, ở điểm này, Thánh Bộ hơi “nặng tay” với cha Sobrino, vì nhấn mạnh một điểm không nhất thiết có nghĩa là chối bỏ điểm kia.
7. Cái chết của Đức Kitô
Bản thông cáo nêu ra hai điểm: Thứ nhất, Đức Giêsu hoàn toàn ý thức mình sẽ đi chịu chết, và rằng cái chết của Ngài là vì lợi ích của những người khác. Thứ hai, cái chết của Ngài không chỉ có giá trị làm gương, đánh động tâm tình của chúng ta, mà còn tự thân có giá trị, hiệu quả cứu độ chúng ta nữa.
Theo thiển ý, cha Sobrino không có ý chối bỏ hoặc nói ngược lại hai điểm đó. Nhưng những nỗ lực của Ngài để giải thích hai điểm đó bị bản thông cáo, dựa trên một số câu chữ, cho là vụng về, và chưa thoả đáng, có thể nói như vậy.
Ở đây chỉ xin nói một ít về điểm thứ hai, đây là một vấn đề then chốt của Cứu độ học xoay quanh giá trị và cách thế cứu độ của Thập Giá Đức Kitô. Ai cũng công nhận rằng chúng ta được cứu độ nhờ cái chết của Đức Kitô, nhưng tại sao, do đâu và cách thế mà ta được cứu độ như vậy, thì có nhiều ý kiến khác nhau. Tại vì thập giá tự nó có giá trị cứu độ? Tại vì chính nơi thập giá, ta nhận ra được thế nào là tình yêu của Thiên Chúa, của Đức Giêsu, thế nào là tội của ta, nên ta được hoán cải, và do đó được cứu độ? Con đường cứu độ nhất thiết phải đi thập giá, tức hy sinh, đau khổ và cái chết? Hay đau khổ và cái chết có giá trị tích cực là do tình yêu sẵn sàng thể hiện mình qua đau khổ và cái chết?
Những câu hỏi đó đã gợi ý những điểm chốt cần phải nắm giữ cùng một lúc, mà cụ thể là hai trường phái “làm gương” và “hiệu quả” mà bản thông cáo đã đề cập đến, nhấn mạnh bất cứ một điểm nào mà lơ là điểm kia thì cũng đều nguy hiểm (nhớ lại ví dụ lái xe máy: cần phải lái bằng hai tay, lái bất cứ bằng một tay nào cũng là nguy hiểm). Bởi nếu chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh làm gương, thì tại sao ta không được cứu độ bởi cái chết anh hùng cao thượng của Socrates, và bao nhiêu là cái chết anh hùng khác? Và nếu chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh hiệu quả, thì phải lý giải cách thức mà hiệu quả ấy xảy ra thế nào, và có thể gây hiểu lầm rằng, tự thân đau khổ, đổ máu, chết chóc là tốt, và cần phải khuyến khích các điều đó xảy ra để có ơn cứu độ (!).Điều này đi ngược lại với đức tin vào Thiên Chúa tình yêu, Đấng chỉ muốn con người phát triển và hạnh phúc.
Yếu tố làm gương phải phát xuất từ thập giá cụ thể này, cái chết cụ thể này của Đức Giêsu Kitô cụ thể này, Đấng đã sống cách đây hơn hai ngàn năm, đã chết và đã phục sinh. Tính hiệu quả là có thực, nhưng hiệu quả đó để đến được với ta thì phải qua sự tiếp nhận chủ quan của mỗi người chúng ta. Mỗi người phải cảm được, nhận ra được hiệu quả ấy thì nó mới thực sự có hiệu quả.
Tóm lại, những điểm đề cập đến trong bản thông cáo là những điểm chốt rất quen thuộc trong các tranh luận Kitô học từ xưa đến nay. Như vậy, khung của vấn đề không có gì là mới. Huấn quyền có nhiệm vụ nhắc nhở và bảo đảm rằng các điểm chốt đó cần phải được nắm giữ cùng một lúc, không được lơ là, để không rơi vào sai lạc. Còn nhiệm vụ của nhà thần học là tìm tòi, khai sáng cách thức mới để hiểu sâu hơn và trình bày các điểm chốt đó trong những hoàn cảnh, bối cảnh mới, cho những con người cụ thể, với những quan điểm, mong đợi nhất định. Đức Kitô đã sống cách đây hơn hai ngàn năm, nhưng hiện tại Ngài cũng đang sống động giữa chúng ta. Tìm hiểu về Ngài không chỉ là công việc của lịch sử, hay của nghiên cứu khoa học, hay của lập luận logic, mà còn là tìm hiểu về một Đấng đang sống động và tương quan với ta. Nói về một người thì phải khác là nói về một điều, hay một sự vật. Công việc còn dài, và thuộc về trách nhiệm của mỗi chúng ta. Điều quan trọng là Thần Khí của Đức Kitô Phục Sinh vẫn hoạt động, trong Giáo Hội và trong lòng những người thiện tâm. Thần Khí đó muốn thổi đâu thì thổi, nhưng vẫn là một Thần khí mà thôi.
19.03.07
Hữu Tín, SJ - VietCatholic .net
|
|