|
Hãy Đứng Thẳng Và Ngẩng Đầu Lên
Một người nọ hết sức khốn đốn vì một cơn ác mộng cứ tái đi tái lại. Ông ta đem nỗi khổ của mình tả oán với một chuyên gia thần kinh: "Đêm nào tôi cũng chiêm bao thấy mình đứng trước một cánh cổng sừng sững, và tôi gắng sức đẩy cho nó mở ra. Trên cổng có một tấm bảng, tôi lấy hết sức bình sinh đẩy thật mạnh, nhưng chẳng được ích gì, cánh cổng vẫn cứ im lìm. Thế rồi tôi choàng tỉnh, mồ hôi lạnh ướt sũng cả người, và không sao chợp mắt lại được. Tôi cứ áy náy vì sao cánh cổng không chịu mở ra. Xin ông làm ơn giúp cho! Chuyện này làm tôi điên cái đầu lên mất." Chuyên gia thần kinh đủng đỉnh nói, "Tôi sẽ giúp chứ, nhưng ông vui lòng cho biết: Tấm bảng trên cổng có viết gì không?" Người đàn ông nhăn mặt nhíu mày một lúc, cố sức nhớ lại giấc mơ, rồi trả lời: "Có hàng chữ 'vui lòng kéo ra!'"
Giấc mơ trên đây nhiều khi cũng hiện thực trong đời sống tất cả chúng ta. Chúng ta gặp những cánh cổng đóng chặt. Chúng ta muốn vượt khỏi tình cảnh khốn đốn trong đời sống, nhưng cánh cổng ấy vẫn kín như bưng. Chúng ta muốn tìm những vận hội mới rộng mở cho cuộc đời, nhưng cánh cổng ấy vẫn không nhúc nhích. Chúng ta càng đẩy, sức bật lại dường như càng mạnh. Bế tắc và hoang mang. Chúng ta cần được hướng dẫn. Chúng ta cần sự chỉ đạo. Chúng ta cần một dấu chỉ - một dấu chỉ hy vọng.
Trong các Thánh Vịnh Cựu Ước có một điểm nổi bật: các tác giả thường gặp rất nhiều đau khổ, nhưng các ngài không bao giờ thất vọng. Nếu chúng ta có giờ đọc các Thánh Vịnh, chúng ta sẽ nhận thấy một số tác giả mô tả những khổ thống của các ngài sinh động như thế nào. Các ngài bị thù địch bách hại. Các ngài trải nghiệm nỗi đau đớn và cảnh cô đơn của kiếp lưu đầy. Các ngài mắc những bệnh trạng thể lý, lâm vào những phức tạp về cảm xúc, chính trị, và những liên hệ phiền toái. Nhiều khi, các ngài như chợt tỉnh sau một giấc ác mộng, mình ướt đẫm mồ hôi lạnh vì cuồng lực sự dữ như một cánh cổng to đùng, cản trở con đường dẫn đến thành công, cá nhân cũng như dân tộc của các ngài. Nhưng bao giờ các ngài cũng tấu khúc hy vọng. Giữa đau khổ ngập tràn, các ngài luôn ý thức sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời. Các ngài ý thức niềm hy vọng vào tương lai của các ngài không dựa vào thế lực quân sự, vào sức mạnh bản thân hoặc tiền tài sản vật, nhưng chỉ dựa vào một mình Thiên Chúa:
Chỉ nơi Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi an nhàn! Chúa là sức mạnh và phần rỗi của tôi! Duy mình Người là nguồn hy vọng của tôi!
Lần giở sang Tân Ước, chúng ta thấy thông điệp hy vọng ấy đã được khai triển thật rõ nét và tuyệt hay. Những trang đầu Phúc Âm thánh Matthêu thuật lại câu chuyện Chúa Giêsu ra đời. Chủ điểm của trình thuật Giáng Sinh trong Phúc Âm thánh Matthêu là từ "Emmanuel," nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta": Thiên Chúa ở cùng chúng ta! Đối với người thời ấy, đó là một từ tuyệt vời nói lên hy vọng. Họ trân trọng Tin Mừng về những điều Thiên Chúa đang thực hiện - Vâng! Đây là ngày Chúa đã lập ra. Nhưng còn có một ngày mai. Và ngày mai ấy, "Emmanuel": Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Như vậy, việc thánh Matthêu mượn một lời hứa để đúc kết Phúc Âm của ngài là một điều rất thích hợp. Khi truyền cho các môn đệ đi khắp nơi, yêu quí thế giới và tuyển mộ môn đệ mới, Chúa Kitô đã hứa, "Này đây, Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28:20).
Những phần còn lại trong Tân Ước cũng kế thừa và khai triển Tin Mừng ấy. Đó là Tin Mừng cần phải biết vì chúng ta là một dân tộc luôn luôn hy vọng. Đó là Tin Mừng cần phải biết cho dù bất cứ điều gì xảy đến cho chúng ta, dù xấu dù tốt, thì vẫn sẽ có một ngày mai, khi ấy, Thiên Chúa mời gọi chúng ta đến với Người và ban cho chúng ta một cuộc sống sung mãn. Đó là Tin Mừng cần phải biết: Thiên Chúa hiện diện trong tương lai của chúng ta. Đó là Tin Mừng cần phải biết: Thiên Chúa muốn chúng ta trở nên những con người vẹn toàn, những con người thành tựu.
Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu tiên báo, "Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao. Dưới đất, các dân tộc buồn sầu lo lắng, vì biển gầm sóng vỗ. Người ta sợ hãi kinh hồn chờ đợi những gì sẽ xảy đến trong vũ trụ" (Lc 21: 25-26). Chúa Giêsu sử dụng hình ảnh đáng sợ của thời kỳ sau hết không phải để dọa dẫm, nhưng để trấn an; không phải để chúng ta chán chường, nhưng để chúng ta hy vọng. Qua hình ảnh đáng sợ ấy, Chúa Giêsu nhắc chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa thực sự nắm giữ toàn bộ vũ trụ trong tay của Người; Người điều khiển, bây giờ cũng như mãi mãi; Thiên Chúa hiện diện trong công trình sáng tạo của Người, bây giờ cũng như mãi mãi; và thành tựu chung cuộc của chúng ta sẽ được nên trọn vào thời gian Người đã ấn định. Chúa phán, "Các dân tộc buồn sầu lo lắng" và "người ta sợ hãi kinh hồn," nhưng chúng ta hãy lưu ý, giữa biểu hiện của quyền năng Thiên Chúa như vậy, một điều kỳ diệu sẽ xảy ra: "... người ta sẽ thấy trên đám mây, Con Người hiện đến đầy quyền năng và uy nghi cao cả" (Lc 21:27). Vì vậy, "... các con hãy đứng dậy và ngẩng đầu lên, vì giờ cứu rỗi các con đã gần đến" (Lc 21:28). Không việc gì phải chết vì kinh hãi, không việc gì phải run rẩy đôi tay, không việc gì phải cảm thấy mắc kẹt giữa những biến loạn! Emmanuel: Thiên Chúa sẽ luôn luôn ở cùng chúng ta trong Đức Giêsu Kitô! Con Thiên Chúa Làm Người chính là dấu chỉ cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa vẫn luôn hiển trị. Đó là niềm hy vọng của chúng ta.
Năm 1968, thời chiến tranh Việt Nam, Max Cleland bị cụt cả đôi chân và một cánh tay vì lựu đạn. Khi thân xác nhầy nhụa nát tan của anh được trực thăng chở đến bệnh xá dã chiến gần nhất, các bác sĩ xác quyết anh không thể sống nổi. Nhưng với ý chí sắt thép, Max Cleland đã không bao giờ tuyệt vọng về khả năng sống còn của mình, và quả thật, anh lại được sống một đời sống sung mãn. Trong cuốn tự thuật "Mạnh Mẽ ở Những Nơi Bầm Dập," Max Cleland thuật lại cuộc phấn đấu để bình phục của mình. Anh nhắc đến một nỗ lực nội tâm đòi hỏi toàn bộ ý chí và đề cập tới một phát hiện quan trọng của mình; đó là khi mọi nỗ lực nhân loại đã cạn kiệt, thì một nguồn sức mạnh và uy lực khác đã xuất hiện. Năm 1977, Max Cleland đã trở thành nhân vật trẻ tuổi nhất từ trước cho tới lúc ấy điều hành hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ, và anh đã kết thúc câu chuyện của mình bằng những lời này:
Cuộc sống của tôi dần dà trở lại bình thường - về thể lý, tinh thần và tâm linh, các cơ phận tan nát phải mất nhiều năm mới gắn kết với nhau và quá trình hồi phục vẫn tiếp tục. Nhưng qua những khủng hoảng và thất bại của mình, tôi biết cách trở nên mạnh mẽ ở chỗ bầm dập. Tôi cũng biết sức mạnh tối hậu bắt nguồn từ việc để cho Thiên Chúa can thiệp vào cuộc sống của tôi. Và từ khi sa ngã - bị đời đánh gục - tôi vẫn có thể trở nên mạnh mẽ hơn trước nhờ việc tìm kiếm Thiên Chúa. Bản kinh dưới đây diễn tả điều này thật sâu sắc. Người ta cho rằng bản kinh này là của một quân nhân vô danh thời Nội Chiến (thuộc Liên Minh Miền Nam Hoa Kỳ - Confederate). Bản kinh này diễn tả thật sinh động những cảm nhận của chúng ta về cuộc sống hiện tại. Sau đây là bản kinh tuyệt đẹp ấy: "Con đã xin Chúa sức mạnh để thành công; nhưng con lại yếu đuối, để rồi học biết vâng phục một cách khiêm nhượng. Con đã xin Chúa sức khỏe để thực hiện những việc lớn lao; nhưng con lại ngã bệnh, để rồi thực hiện các việc tốt lành. Con đã xin Chúa của cải để sung sướng; nhưng con đã ra nghèo khó, để có thể khôn ngoan. Con đã xin Chúa quyền lực để được thế gian ca tụng; nhưng con đã ra yếu nhược, để cảm thấy cần đến Chúa. Con đã xin Chúa mọi thứ để hoan hưởng cuộc sống; nhưng con lại được ban cuộc sống để có thể hưởng hoan tất cả. Con chẳng xin gì được cả, nhưng con vẫn hy vọng tất cả. Dù thế nào đi nữa, những lời cầu thầm thĩ của con đều được nhậm lời. Con được kể vào số những người ân phúc đầy tràn."
Có lẽ một số anh chị em lúc này đang nghĩ mình bị chèn ép giữa các biến cố. Một số anh chị em có thể đang toát mồ hôi lạnh, hết sức lo âu trước cánh cổng im lìm, không chịu mở ra những vận hội mới cho cuộc sống chúng ta. Chúa Giêsu đã phán, "Khi các điều đó bắt đầu xảy đến, các con hãy đứng dậy và ngẩng đầu lên, vì giờ cứu rỗi các con đã gần đến" (Lc 21:28). "Con Người" sẽ đi vào cuộc sống của chúng ta với quyền năng và vinh quang lớn lao. Chúa là sức mạnh và là ơn cứu độ của chúng ta. Duy mình Người là nguồn mạch hy vọng của chúng ta. Và như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng, cho dù chúng ta có thế nào đi nữa, những lời cầu nguyện thầm kín của chúng ta cũng sẽ được nhậm lời, và chúng ta sẽ được liệt vào số những người, nam và nữ, được chúc phúc nhất.
|