Thiên Chúa Muốn Chúng Ta Thuộc Về Ngài
Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần,
mười môn đệ tụ tập tại một nơi kín đáo vì sợ người Do Thái lùng bắt.
Tuy bị săn lùng nhưng ít ra các môn đệ luôn có nhau. Một người trong
nhóm Mười Hai, tên là Tôma không ở với các ông, và đây là một điều
hối hận nhất cho Tôma khi ông tự tách rời mình khỏi nhóm trong lúc
họ đang cần ông. Đột nhiên, Chúa Giêsu hiện ra giữa họ và nói: “Bình
an cho các con!” (Gn 20:19) Trước đó, Chúa có phán rằng: “Ở đâu có
hai hay ba người hợp lại vì danh Ta, thì Ta ở giữa họ.”(Mt:18:20) Đó
là điều kiện để ân sủng Chúa hành động, nhưng Tôma đã không tụ họp
với nhóm, do đó ông đã không chứng kiến sự kiện Chúa Phục Sinh hiện
ra.
Nhiều người trong chúng ta cũng bắt chước Tôma
khi tự tách mình ra khỏi cộng đồng của Thiên Chúa bằng nhiều lý do
khác nhau. Chúng ta nghe nhiều người nói: “Tôi không còn thuộc về
Giáo Hội, tôi không tin và đồng ý với Giáo Hội.” Có một người nói
với một người viết báo rằng: “Giáo Hội chẳng qua chỉ là một tổ chức
của những người tụ tập để ca hát thôi.” Đúng phần nào, nhưng Giáo
Hội không phải chỉ là một tổ chức như bao tổ chức khác. Chúng ta rút
được bài học này nơi Tôma rằng, nếu chúng ta tự tách rời mình khỏi
Giáo Hội của Thiên Chúa như rời bỏ một tổ chức của chính trị hay một
nhóm xã hội nào, thì đó là một sai lầm… Vì chỉ khi chúng ta liên kết
với nhau trong cộng đồng đức tin thì chúng ta mới cảm nghiệm được
tình yêu của Thiên Chúa cách trọn vẹn và mãnh liệt hơn.
Dietrich Bonhoeffer, một tín hữu Kitô giáo bị
bắt ở trại tập trung của Phát Xít Đức, lúc đó anh ta mới cảm thấy sự
mất mát khi không thể quây quần với những người anh chị em cùng đức
tin dù chỉ ở bên nhau thôi. Anh ta thú nhận rằng anh khao khát có
những giây phút đó hơn khao khát miếng ăn. Chúng ta cần có nhau,
thật là một sai lầm lớn lao khi chúng ta tách mình ra khỏi cộng đoàn
đức tin vì chúng ta sẽ không cảm nhận được sự sống thần linh do Chúa
Phục Sinh ban cho cộng đoàn của những người tin.
Điều lầm lẫn thứ hai của Tôma là ông muốn nhìn
thấy Chúa trước khi ông có thể tin lời chứng của các bạn ông. Ông
đặt điều kiện là Chúa Kitô Phục Sinh phải hiện ra với ông: “Nếu tay
tôi không được sờ vào các vết đinh và xương sườn của Ngài, thì tôi
sẽ không tin.” (Gn 20:25). Và thật như điều ông mong ước, Chúa Kitô
đã hiện ra với Tôma, và sau khi được sờ vào xương sườn của Thầy, thì
Tôma bật khóc và xác tín niềm tin của mình: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên
Chúa của tôi!” Thay vì tưởng được Chúa khen, thì ông lại bị Chúa
khiển trách vì cứng lòng tin. Chúng ta có cảm tưởng như Chúa trách
Tôma. “Tôma, con tin vì con được sờ vào Thầy ư? Con tin vì Thầy tỏ
mình như điều con mong ước ư? Nếu như vậy ai mà lại chẳng tin!” Và
câu Chúa nói sau cùng trong Phúc Âm của Gioan như là mối phúc sau
cùng và cũng là mối phúc quan trọng nhất: “Thật phúc cho ai, không
thấy mà vẫn tin” (Gn 20:29).
Có người nói: “Tôi tin, nếu Chúa ban cho tôi
điều tôi xin. Tôi sẽ hạnh phúc nếu Chúa làm cho tôi điều tôi muốn.
Tôi tin Chúa nếu Chúa chữa lành cho tôi. Chúng ta thường hay đặt
điều kiện và luật riêng của mình cho Chúa tuân hành. Nhưng chúng ta
phải công nhận ra rằng nhiều lúc những gì Chúa ban tặng hay để xẩy
đến cho cuộc đời chúng ta lại là điều tốt đẹp nhất.
Người ta hỏi một người diễn thuyết tài ba cho
biết bài diễn văn nào khó nhất cho anh. Anh trả lời ngay đó là khi
tôi làm bài diễn văn cho một lễ tang quốc gia. Và bài diễn văn đó
rất khó đối với tôi vì làm sao tôi có thể tỏ ra buồn sầu được khi
được cả mười ngàn đồng để đọc bài diễn văn đó. Nhưng điều khác càng
khó hơn khi phải làm cho người Kitô Hữu buồn sầu, chán nản sau khi
Chúa đã sống lại. Niềm vui là tinh thần của Phúc âm.
Niềm vui đó đã thấm nhuần cuộc sống họ làm cho họ luôn tràn đầy niềm
vui, và dù bạn có lấy gì che đậy, thì nó vẫn tuôn trào ra mà không
có gì ngăn cản được. Niềm vui rất dễ lây truyền, nó rất đẹp, và có
sức chữa lành. Họ vui vì Chúa Kitô luôn ở với họ, Ngài ban cho họ
niềm hy vọng và sức sống. Đó là Đức Kitô mà họ thấy Ngài đã chết, đã
được táng trong mồ và đã sống lại. Đó không phải là một điều ảo
tưởng hay trong mơ. Đó là một sự thật, một chân lý không thay đổi
được. Ngài đã thật sự sống lại, và họ đã cảm nghiệm thấy Ngài.
Các môn đệ đầu tiên đã không cất giấu… nhưng họ
loan truyền…và các Ngài đã chứng minh điều đó và giúp chúng ta hiểu
và nhận ra niềm vui lan tràn bởi sức mạnh của Chúa Kitô Phục Sinh.
Niềm vui đó nay thuộc về chúng ta: đó là tin mừng, là phúc âm, là
nguồn an vui của Chúa cho chúng ta. Qua các bài giảng, các phép lạ
chữa lành, và các ngụ ngôn, Chúa muốn nói với chúng ta rằng Ngài
luôn hiện diện ở khắp mọi nơi, khắp mọi thời để chứng tỏ uy quyền,
sức mạnh và tình yêu của Ngài có thể biến đổi sự âu sầu của chúng ta
trở thành nguồn vui, và sự chết của chúng ta thành sự sống.
Thế giới luôn chết để sống lại. Các loại, các
giống vật và mọi hình thù trên mặt đất luôn biến đổi, biến hình,
biến dạng để trở nên tốt hơn, sống động hơn. Không những ở trong
sinh vật mà cả trong lịch sử nhân loại. Các tổ chức chính trị, cũng
như các công xưởng luôn phải chết, được biến đổi, hay biến dạng… Sức
mạnh của Chúa Phục Sinh luôn ở trong mọi sự sống. Đó là lý do chúng
ta vui mừng và liên hoan… Đó là lý do tại sao mỗi ngày Chúa Nhật là
ngày sống lại. Đó là lý do chúng ta phải là những con người Phục
Sinh.
Có một người tài tử nổi tiếng của nước Đức đóng
vai “Faust” bị mê hoặc bởi người ảo thuật gia tự xưng là đồng minh
với quỷ. Trong một đoạn của tiểu thuyết Faust bán hồn anh cho quỷ
không phải vì lý do ham tiền, tài, hay danh vọng, nhưng vì anh không
thể khám phá ra mục đích của đời mình. Kết quả là anh cương quyết
đòi quỷ phải tỏ mình cho anh trước khi anh bán hồn cho nó. Trong
phim, một đoạn rất cảm động là khi Faust tới lúc rất tuyệt vọng. Anh
cảm thấy rất thất vọng với cuộc đời mình, và khi thấy mình không còn
hy vọng anh quyết định quyên sinh… Trong lúc anh toan uống chai
thuốc độc để kết liễu đời mình, anh bỗng nghe bài thánh ca Phục Sinh
và nó đã làm anh thức tỉnh… Anh làm rớt chai thuốc độc rồi bật khóc.
Và người đạo diễn tả rất hay: “Nước mắt anh tuôn trào và lòng đất mở
ra như để đón con của mình trở về.”... Đó cũng là điều sẽ xảy đến
cho chúng ta khi chúng ta trung thành với cộng đồng dân của Chúa
Kitô. Những bài thánh ca Phục sinh, của sự sống lại sẽ phá tan màn
đêm u tối, tuyệt vọng của tâm hồn chúng ta. Và chúng ta cũng sẽ làm
vỡ tan chai thuốc độc của sự sợ hãi, nghi ngờ khi chúng ta chấp nhận
tình yêu của Chúa, khi chúng ta ôm ấp sự Phục sinh của Ngài.
Một em bé gái viết thư cho Chúa để hỏi Ngài vấn
đề mà em quan tâm: “Chúa ơi, thay vì để cho con người phải chết thì
tại sao Chúa không giữ họ lại để khỏi mất công dựng nên những con
người mới? Alice.” Alice thân mến, hôm nay Chúa muốn trả lời thư của
em: “Alice, con nghĩ rất đúng Ta phải yêu quí những gì Ta đã dựng
nên. Ta rất yêu thương họ, cũng vì thế mà Ta muốn giữ con lại mãi
mãi bên Ta!”
Chúa Kitô đã chết trên thập giá và đã sống lại
từ trong mồ, bởi vì Chúa muốn giữ mỗi người chúng ta cho Ngài. Vậy
cùng nhau chúng ta hãy hoan ca: Chúa đã sống lại rồi! Hallelujah!
Hallelujah!