Suy niệm tin mừng Chúa nhật
(Anmai, CSsR)
Chúa IV PS năm C-2013
Cv 13, 14.43-52; Kh 7, 9.14b-17; Ga 10, 27-30
LẮNG NGHE TIẾNG CHÚA
Mở lại sách Samuel chúng ta bắt gặp nói đến việc Chúa gọi Samuel đi làm ngôn sứ cho Chúa. Khi nhận ra tiếng Chúa, Samuel đã mau mắn đáp lại: “Lạy Chúa xin hãy nói, con nghe đây!” (Sm 3, 3-10; 19).
Trải qua dòng chảy lịch sử cứu độ, Thiên Chúa thường gọi một số người để làm các công việc đặc biệt Chúa trao phó. Trong Cựu Ước, Chúa gọi Abraham, Môsê, Davit, các tiên tri v.v… Trong Tân Ước, Chúa Giêsu đã gọi 12 tông đồ. Đó là những ơn gọi đặc biệt, và việc Chúa gọi và chọn ai cũng là một việc nhiệm mầu của Chúa. Chúa gọi và chọn người Chúa muốn. Tuy nhiên, Chúa vẫn tôn trọng tự do của mỗi người; tùy theo mỗi người có quảng đại đáp lại tiếng Chúa gọi hay không (Mt 19,16…), Trong Gioan 1, 35-42 nói đến việc Chúa gọi hai anh em ông Anrê và Phêrô. Hai ông đã lắng nghe tiếng Chúa và bước theo Ngài.
Các thánh sử của Phúc Âm Nhất Lãm đều kể lại việc Chúa Giêsu kêu gọi thánh Matthêu xảy ra ngay sau khi Chúa chữa người bất toại tại Capharnaum. Khoảng một ngày sau phép lạ ấy, Chúa Giêsu đi dọc theo bờ biển, có đám đông dân chúng đi theo Người. Chúa đến đó từ một thành phố cảng nhỏ nằm giáp miền đất Perea, trên bờ bên kia sông Giođan. Trên đường, Chúa đi ngang qua bàn thu thuế của Matthêu.
Matthêu khi ấy đang làm việc trong ngành thuế vụ của vua Hêrôđê. Mặc dù không phải là một quan chức chính thức, nhưng ngài đã mua quyền được thu thuế. Chức vụ thu thuế không được người Do Thái kính nể, thậm chí còn bị nhiều người khinh bỉ. Tuy nhiên, đó lại là một chức vụ rất hấp dẫn, vì đem lại của cải giàu sang. Người thu thuế dường như có địa vị cao trong xã hội, vì khi Matthêu khoản đãi Chúa Giêsu trong nhà, có rất đông người thu thuế và những người khác đến đồng bàn.
Chúa kêu gọi Matthêu làm môn đệ khi Người đi ngang qua bàn thu thuế của ông. Matthêu đã chỗi dậy và đi theo Người. Sự đáp ứng của Matthêu rất mau mắn và quảng đại. Có lẽ ngài đã nhiều lần được gặp Thầy Chí Thánh, và chỉ chờ đợi cơ hội quan trọng này mà thôi. Ngài đã không chần chừ trong việc từ bỏ mọi sự để theo Chúa Giêsu. Chỉ một mình Thiên Chúa biết tại sao Người lại tuyển chọn Matthêu, và cũng chỉ một mình thánh nhân mới có thể cho chúng ta biết ngài đã nhận thấy điểm gì nơi Chúa Giêsu đến nỗi đã lập tức rời bàn thu thuế để đi theo Người. Thánh Gioan Kim Khẩu nói, Chúng ta thấy vì sự vâng phục mau mắn và trọn vẹn mà Matthêu đã tức khắc từ bỏ tất cả tài sản thế gian để đi theo Chúa khi được kêu mời đúng lúc.
Ngày hôm nay, một lần nữa chúng ta được Chúa Giêsu mời gọi hãy nghe tiếng Chúa và đi theo tiếng Chúa gọi : “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một".
Chúng ta soi chiếu trang Tin Mừng hôm nay vào mạch văn trong chương 10 của Thánh Sử Gioan: Chúa Giêsu mạc khải chính mình là “mục tử nhân lành“ cho đàn chiên cũng như Đức Giavê xưa đối với Dân Ítrael. Chúa Giêsu lúc đó đang “đi đi lại lại“ trong Đền Thờ ở Giêrusalem, tại hành lang Salomôn, vào dịp lễ Cung Hiến Đền Thờ. Người Do Thái vây quanh Chúa Giêsu và chất vấn Ngài: “Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu Ông là Đấng Kitô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết“. (Ga 10, 24).
Đáp lại, Chúa Giêsu trả lời: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi“ (Ga 10, 25-26). Quả thực, những người Do Thái là Dân Chúa đã tuyển chọn, chẳng những đã không tin, mà họ còn “lấy đá ném Ngài“ vì cho rằng Chúa Giêsu nói phạm thượng: “Ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa“ (Ga 10, 33).
Như vậy, tâm tình cốt lõi của mạc khải của trang Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, chính là việc Chúa Giêsu muốn mạc khải Chúa Cha và tuyên xưng mình là Con Thiên Chúa. Chúa Cha là Đấng trao ban đoàn chiên cho Chúa Con. Hình ảnh mục tử hướng dẫn đoàn chiên bắt rễ sâu trong kinh nghiệm “dân du mục Aram“ trong Cựïu Ước: mục tử vừa là thủ lãnh vừa là bạn đồng hành của đoàn chiên. Đức Chúa Giavê bảo vệ đoàn chiên với quyền phép và tình thương để không ai có thể cướp chiên ra khỏi tay Ngài. Đó là lịch sử cứu độ nhân loại của Thiên Chúa.
Chúa Giêsu cũng cho thấy mối liên hệ vô cùng mật thiết giữa Ngài và Chúa Cha: “Tôi và Chúa Cha là một“, hiệp nhất trong bản tính, trong uy quyền, trong hành động. Cũng vì lời mạc khải này mà Chúa Giêsu không những bị dân Do Thái ném đá, cho là “phạm thượng“, mà sau này còn đóng đinh Ngài trên thập giá.
Dần dần, qua mạc khải của Chúa Giêsu, chúng ta nhận biết Chúa Cha chính là nguồn mạch sự sống, nguồn mạch tình yêu... và Đức Kitô chính là Đấng Messia. Đức Chúa Giavê trao phó cho các tôi tớ ngài là các Tổ Phụ, các Quan Án, các Ngôn Sứ, các Vua Chúa... thay quyền Chúa chăn dắt Dân Chúa. Nhưng những chủ chăn Ítrael đã tỏ ra bất tài, bất trung với sứ mệnh của họ, bỏ bê đàn chiên, chỉ lo danh lợi dục cho mình, phản loạn không tuân giữ Giao Ước với Thiên Chúa. Nên, vào thời của Tân Ước, Đức Chúa Giavê trao phó đoàn chiên cho Đấng Messia, Đấng Cứu Thế muôn dân trông đợi.
Nhiều lần trong Tin Mừng, Đức Kitô đã mạc khải Ngài là vị Chủ Chăn nhân lành, Đấng Trung Gian độc nhất, là “cửa cho chiên ra vào“ (Ga 10, 7) và “gặp được đồng cỏ“ (Ga 10, 9). Đức Kitô trao ban chính mình cho đoàn chiên với tư cách là “Chúa chiên nhân lành“: Ngài không những biết từng con chiên, dẫn chiên đi vào “đồng cỏ xanh tươi“, luôn đi đầu đàn, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đoàn chiên khỏi nanh vuốt sói dữ, mà còn hy sinh mạng sống mình cho từng con chiên (Ga 10, 15. 17). Một cuộc sống mới và một mối liên hệ mới được vĩnh viễn thiết lập: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi“.
Chúa Giêsu Kitô đến bên từng người chúng ta – cho dù chúng ta đang sống trong độ tuổi hoặc hoàn cảnh nào – và ánh nhìn của Chúa tiếp xúc với ánh mắt chúng ta một cách cá biệt. Người mời gọi chúng ta bước theo. Trong hầu hết các trường hợp, Chúa để chúng ta lại giữa trần gian, công việc, và gia đình. Hãy suy nghĩ về điều Chúa Thánh Thần đã phán, và hãy để bạn biết sợ hãi và tri ân: ‘Elegit nos ante mundi constitutionem’ – Người đã tuyển chọn chúng ta trước khi tạo dựng thế gian, ‘ut essemus sancta, in conspectu eius!’ – để chúng ta nên thánh thiện trước mặt Người.
Thiên Chúa đã nói với chúng ta nhiều lần và bằng nhiều cách thế khác nhau. Ngài nói với chúng ta qua Kinh Thánh, Ngài cũng nói với chúng ta qua Giáo Hội, những lời giảng dạy của Ðức Thánh Cha, các giám mục và linh mục, những người có bổn phận săn sóc và dạy dỗ chúng ta. Thiên Chúa cũng nói với chúng ta qua tha nhân và qua những dấu chỉ của thời đại cùng những sự vật và hiện tượng đang diễn tiến trong dòng lịch sử. Và Thiên Chúa cũng thực sự nói với chúng ta khi chúng ta cầu nguyện. Sống trong tương quan thân tình với Ngài, đó là lý do chúng ta phải chuyên cần cầu nguyện trong hoàn cảnh, mọi nơi và mọi lúc để học biết được điều Thiên Chúa đã nói với mỗi người chúng ta.
Chuyện quan trọng là chúng ta có lắng nghe tiếng Chúa gọi hay không mà thôi.
Lắng nghe trước hết là đón nhận được thánh ý Thiên Chúa, rồi thể hiện ra bằng cuộc sống thường nhật của chúng ta. Thánh ý Thiên Chúa khi đó sẽ điều khiển tư tưởng, ý nghĩ, tâm hồn, lời nói và hành động của chúng ta để chúng ta trở thành những người bạn tốt của anh chị em.
Lắng nghe tiếng Chúa là yêu thương. Tất cả những ai lắng nghe Chúa Giêsu đều là những người đã được đào luyện trong tình yêu. Lắng nghe là yêu thương. Tuy cũng đã cật vấn Chúa Giêsu khi Ngài thân thưa với Chúa Cha: "Làm sao con có thể cho đi chính mình con một cách quảng đại trong tình yêu nhờ đó ý Cha được hoàn trọn trong cuộc sống của con?"
Như thế, lắng nghe cũng là một dạng thức của tình yêu bác ái, tình yêu của Thiên Chúa. Tình yêu đó cũng chính là sự thánh thiện của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã dạy chúng ta yêu. Yêu Chúa trọn vẹn và yêu như Chúa yêu, để trở nên món quà đáng yêu đối với Chúa và với mọi người. Thiên Chúa trao tặng cho chúng ta một lý tưởng cao đẹp như thế nên tất cả những gì chúng ta phải làm là gì nếu không phải là tin tưởng vào Ngài, lắng nghe Ngài và tình yêu Ngài. Chúng ta cũng chẳng còn sợ điều chi bởi vì Chúa luôn yêu thương chúng ta. Chúng ta tin rằng chỉ có một con đường dẫn đến tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa và với tạo vật là lắng nghe Thiên Chúa và mến yêu Ngài. Mong rằng lắng nghe tiếng Chúa là khát vọng nuôi dưỡng chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế.
Lm Anmai, 19-4-2013
Mục tử thật
Chúa nhật 4 PS C: MỤC TỬ THẬT
Cv 13, 14.43-52, Kh 7, 9.14b-17; Ga 10, 27-30
Khởi đầu cho một ngày mới, Hội Thánh mời gọi mỗi kitô hữu cách riêng là những người tận hiến cho Chúa - dâng lời tạ ơn Chúa vì Chúa đã thương ban cho thêm một ngày mới. Một trong những Thánh Vịnh kinh sáng thường niên được Hội Thánh chọn để dâng lời tạ ơn đó là Thánh Vịnh 99. Thánh Vịnh 99 diễn tả lòng biết ơn của vũ trụ, của con người với Thượng Đế vì chính Ngài đã tạo dựng nên con người, nên vũ trụ. Thánh Vịnh 99 hay đọc để dâng lời tạ ơn được chọn làm đáp ca trong Thánh Lễ Chúa Chiên Lành hôm nay:
Hãy tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu,
phụng thờ Chúa với niềm hoan hỷ,
vào trước thánh nhan Người giữa tiếng hò reo.
Hãy nhìn nhận Chúa là Thượng Đế,
chính Người dựng nên ta, ta thuộc về Người,
ta là dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt.
Hãy vào cửa thánh điện cất tiếng tạ ơn,
tới khuôn viên đền vàng dâng lời ca ngợi,
tạ ơn Chúa và chúc tụng danh Người.
Bởi vì Chúa nhân hậu,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,
qua bao thế hệ, vẫn một niềm thành tín.
Thánh Vịnh 99 một lần nữa khẳng định rằng mỗi người đã được Thiên Chúa dựng nên và Thiên Chúa dẫn dắt như đoàn chiên của Người.
Hình ảnh đoàn chiên và chủ chiên thì xa lạ với những đất nước không có điều kiện chăn chiên. Với những nước mà nghề chăn chiên là chính như Do Thái thì hình ảnh của người chăn chiên và đoàn chiên hết sức là dễ thương. Người chăn chiên lúc nào cũng sẵn sàng bảo vệ những con chiên của mình cho dù gặp nguy khó, khốn cùng. Với Thiên Chúa, tự ngàn xưa trong Cựu Ước đã được các tác giả vẽ nên hình ảnh của người chăn chiên thật tuyệt vời. Thánh Vịnh 23 có lẽ là Thánh Vịnh hay nhất để diễn tả hình ảnh của người mục tử và đặc biệt lại là người mục tử nhân lành:
Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành
và bổ sức cho tôi.
Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
vì danh dự của Người.
Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.
Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù.
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
ly rượu con đầy tràn chan chứa.
Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.
Hình ảnh của người mục tử nhân lành ấy hôm nay được chính Chúa Giêsu xác nhận trong đoạn Tin mừng hết sức ngắn ngủi mà chúng ta vừa nghe. Chúa Giêsu đã khẳng định một cách hết sức rõ ràng rằng: Tôi là …
“Tôi là” là hai từ mà Chúa Giêsu đã sử dụng rất nhiều lần trong Tin Mừng theo thánh Gioan (Ga 4, 26; 6, 23; 7, 29; 8, 58; 13,19; 14, 20; 17, 24; 18, 5; 18,6). Hai từ này gợi lên kiểu viết bốn chữ cái không phát âm được là "Tên mầu nhiệm" mà chính Thiên Chúa đã tự mạc khải cho Môsê trong sa mạc Sinai.
YHVH được chuyển dịch thành YaHVeH và đọc là “Adonai", "Đức Chúa”.
Hơn nữa, qua nhiều câu trích dẫn như dưới đây, thánh Gioan đã sử dụng tới 30 lần hai từ trên "Tôi là. ." trong Tin mừng của Ngài. “Tôi là” kèm theo một phẩm tính:
- "Tôi là Bánh hằng sống" (Ga 6,35-42,48-51).
- “Tôi là ánh sáng thế gian" (Ga 8.12-9,5).
- "Tôi là Sự sống lại và là sự Sống" (Ga 11.,25).
- "Tôi là Cây nho thật" (Ga 15,l-5).
- "Tôi là Cửa cho chiên ra vào" (Ga 10,7-9).
- “Tôi là Mục tử nhân lành" (Ga 10,11-14).
Theo các nhà chú giải Thánh Kinh, những kiểu nói trên muốn diễn tả hữu thể thần linh của Chúa Giêsu. Thánh Gioan đã viết: "Ngôi Lời đã trở nên người phàm" (Ga l,14).
Chúa Giêsu nói Chúa Giêsu chính là mục tử nhân lành. Ở đây, Chúa Giêsu không chỉ sử dụng một hình ảnh đẹp dân gian và đồng quê, nhưng trước hết đó là một kiểu nói Thánh Kinh vô cùng phong phú.
Các vua chúa khắp vùng Đông Phương cổ thường tự coi mình như mục tử chăn dắt dân nước. Chính Giavê cũng đóng vai trò đó khi giải thoát dân riêng khỏi Ai Cập: "Người lùa dân Người đi ví thể đàn chiên, Người dẫn dắt chúng như đàn cừu ngang qua sa mạc" (Tv 78,52) Đavit, một trong những nhà lãnh, đạo chính trị đầu tiên của ít-ra-en, là một cậu chăn chiên tại Bêlem (1 S 17,34-35). Ông Vua lý tưởng của tương lai, Đấng Mêsia, Đavit mới, cũng được loan báo như một “Mục tử”: "Ta sẽ chỗi dậy một mục tử duy nhất, Ngài sẽ chăn dắt chúng. Đó là Đavit, tôi tớ của Ta" (Ed 34,23).
Những ai nghe Chúa Giêsu cũng như chính Người, đều hiểu rõ những trích dẫn Thánh Kinh trên, đặc biệt là chương 34 nổi tiếng của ngôn sứ Ê-dê-ki-en, diễn tả khá dài những mục tử xấu ác (các vua thời đó) không quan tâm chăm sóc đoàn chiên của họ. .. trước khi quả quyết rằng, Thiên Chúa Giavê phán thế này: Chính Ta sẽ tìm kiếm chiên của Ta, và Ta sẽ chăm nom chúng... Ta sẽ kéo chúng ra khỏi mọi nơi chúng tán loạn... Ta sẽ chăn nuôi chúng nơi bãi cỏ tốt... Chính Ta sẽ chăn nuôi chiên của Ta, sấm của Đức Chúa Giavê. Chiên thất lạc, Ta sẽ tìm kiếm. . . " (Ed 34,1-31).
Với Chúa Giêsu, không phải là một mục tử thường như bao mục tử khác nhưng Chúa Giêsu ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong, và không ai cướp được chúng khỏi tay của Ngài. Chúa Giêsu đã nói: Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.
Các chiên của Chúa Giêsu, Người nói chúng đã được Chúa Cha, Thiên Chúa trao phó cho Người. Nhưng chúng vẫn luôn ở trong bàn tay của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã khẳng định vai trò và vị trí cũng như trách nhiệm về đoàn chiên mà Chúa Cha đã trao phó, đã uỷ thác cho Ngài.
Khi không còn ở thế gian, Chúa Giêsu đã chọn, đã gọi các môn đệ thân tín để trao lại sứ mạng chăm sóc đoàn chiên của Chúa. Sứ mạng ấy hôm nay Thánh Phaolô và Banaba đã mạnh dạn công bố trong đoạn sách Công vụ tông đồ mà chúng ta vừa nghe. Bấy giờ ông Phao-lô và ông Ba-na-ba mạnh dạn lên tiếng: "Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại. Vì Chúa truyền cho chúng tôi thế này: Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất.". Nghe thế, dân ngoại vui mừng tôn vinh lời Chúa, và tất cả những người đã được Thiên Chúa định cho hưởng sự sống đời đời, đều tin theo. Lời Chúa lan tràn khắp miền ấy.
Phaolô, Banaba, tông đồ đoàn và các vị mục tử nhân lành từ thế hệ này sang thế hệ khác đã sống đúng, sống trọn vẹn vai trò mục tử mà Chúa trao phó.
Thật sự ra mà nói, để hoàn thành sứ mạng mục tử chân chính như lòng Chúa muốn không phải là chuyện đơn giản vì lẽ như Thánh Phaolô và Banaba nói là anh em đã khước từ lời ấy. Chính Lời Chúa mang ơn cứu độ, mang ánh sáng cho muôn dân nhưng vì lý do nào đó có những mục tử đã khước từ lời và tự coi mình không xứng đáng để hưởng sự sống đời đời.
Thời nào cũng vậy, thời nào cũng có những mục tử nhân lành và cũng có những mục tử ác độc. Mục tử nhân lành dám thí mạng vì đoàn chiên còn mục tử ác bỏ trốn khi người ta đến bắt chiên và tệ ơn nữa là bán chiên với cái giá rẻ mạt.
Mừng lễ Chúa Chiên Lành hôm nay, mỗi người chúng ta hãy ngước lên nhìn hình ảnh của vị mục tử nhân lành đích thực là chính Chúa Giêsu để rồi chúng ta lắng đọng tâm hồn, lắng đọng cõi lòng để lắng nghe lời của mục tử Giêsu. Khi nghe và giữ lời của mục tử Giêsu chắc chắn chúng ta sẽ được đưa đến đồng cỏ xanh tươi và có suối mát trong ngần như mục tử Giêsu đã hứa.
Lm Anmai, CSsR
- dongcongnet