| |
Lễ
Đức Mẹ Lộ Đức
Vinh
quang của
ĐỨC MARIA
Ngày 8.12.1854, Đức
Giáo hoàng Piô IX long trọng tuyên bố tín
điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội trong tông
hiến Ineffabilis Deus. Ba năm sau, như để khẳng
định cách dứt khoát và rõ ràng về mầu nhiệm mà cả Hội Thánh
tin tưởng, Đức Mẹ đã hiện ra với một thiếu nữ nông dân nghèo
tên là Bernadette Soubiroux
tại hang đá Massabielle, tổng cộng tất cả là 18 lần, kể từ ngày
11.2 đến ngày 16.8.1858. Riêng lần hiện ra ngày 24.3.1858, Đức
Mẹ cho biết: “Ta là Đấng Vô
Nhiễm Nguyên Tội”.
Năm
1862, sau nhiều lần chất vấn Bernadette, Hội Thánh xác nhận,
Đức Maria đã thực sự hiện ra tại
Lộ Đức. Hội Thánh truyền cho các tín hữu hãy đặc
biệt tôn sùng Đức Mẹ Lộ Đức và lập lễ kính Đức Mẹ Lộ Đức vào
ngày 11.2 hàng năm, bắt đầu từ năm 1907.
Như
vậy, mầu nhiệm Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội có liên quan lớn đến
sự kiện Lộ Đức. Nói cách khác, trong khi mừng kính Đức Mẹ Lộ
Đức, chúng ta cũng đồng thời tuyên dương Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên
Tội.
Tuy
nhiên, mầu nhiệm Đức Mẹ viếng thăm thế giới tại Lộ Đức, dù đã
được Hội Thánh nhìn nhận, vẫn chưa phải là nền tảng vững chắc
nhất. Chúng ta cần phải được soi sáng cách thấu đáo hơn vị trí
của Đức Mẹ trong mầu nhiệm cứu độ qua mạc khải của Thiên Chúa.
Nhờ đó, đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội mà Thiên Chúa ban cho Đức
Maria càng tỏa sáng, càng đáng chiêm ngưỡng, đáng ca tụng và
quý trọng.
Dù
sao, đây vẫn là đề tài lớn. Mặc khác, chúng ta vẫn không tham
vọng nghiên cứu thánh mẫu học. Vì thế, chỉ xin lướt qua một
chút nơi vài hình ảnh của Mẹ chúng ta trong Tin Mừng, đặc biệt
là Tin Mừng theo thánh Luca và Tin Mừng theo thánh Gioan mà
thôi.
1.
MẸ THIÊN CHÚA
Có
những điều mới mẻ trong cách Thiên Chúa đối xử với dân Người,
được thể hiện qua chính Chúa Kitô. Trong đó, tính cách mới lạ
nhất, đáng yêu, đáng quý nhất, đó là Chúa Giêsu, Thiên Chúa
làm người, không hề là một Thiên Chúa xa cách, vì đã đồng hóa
mình như một thành viên của gia đình nhân loại. Người cũng có
một gia phả và cùng được sinh ra bởi một phụ nữ như bất kỳ ai.
“Khi tới thời viên mãn, Thiên Chúa
đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ, và sống
dưới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử”
(Ga 4, 4-5).
“Người
phụ nữ ấy”,
một khi được Thiên Chúa chọn để sinh ra đời bắt đầu từ lòng
dạ mình, ngay lập tức trở nên Mẹ của Thiên Chúa, Mẹ của Đấng
tạo thành và cứu độ mình. Bởi đó, vinh dự của Đức Maria, là
một vinh dự lớn vô cùng: Mẹ
Thiên Chúa.
Kẻ
được chọn làm Mẹ Thiên Chúa cần phải được chuẩn bị cách thanh
sạch, xứng với Đấng là Thiên Chúa, vì thế, Mẹ Thiên Chúa phải
có một tâm hồn hoàn toàn thanh sạch, thánh thiện, không gợn
một chút tỳ ố nào. Vì thế, Hội Thánh tin vững chắc rằng, ngay
từ lúc đầu tiên thành thai trong lòng bà thánh Anna, Đức Maria
đã được giải thoát để nên tinh tuyền.
2.
ĐỨC MARIA, HÒM BIA GIAO ƯỚC MỚI
Việc
Đức Maria cưu mang và sinh hạ Con Thiên Chúa, đã làm cho Mẹ
có một vai trò vinh quang nhất, trên hết mọi thụ tạo, trong
suốt dòng lịch sử cứu độ, bởi ơn cứu độ được ban cho thế giới
xuyên qua Mẹ cách hết sức độc đáo.
Mẹ,
và chỉ có một mình Mẹ mà thôi, là Mẹ của Thiên Chúa làm người.
Bởi vậy, “Mẹ Thiên Chúa” là tước hiệu mà ngay cả Thánh Kinh
cũng kíng trọng. Thánh Kinh nhấn mạnh tước hiệu này trong lời
thoại của một người chị họ của Đức Mẹ: “Bà
Êlisabeth được đầy Thánh Thần liền kêu lớn tiếng và nói rằng:
Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang
cưu mang cũng thật là có phúc. Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa
tôi đến viếng thăm tôi” (Lc 4, 41-43).
Vinh
quang của Mẹ Thiên Chúa, cưu mang và sinh ra Thiên Chúa làm
người, đã khắc họa Đức Maria thành hình ảnh chiếc hòm bia giao
ước ngày xưa của đoàn dân trong Cựu Ước. Hai chương đầu của
Tin Mừng theo thánh Luca, tác giả nhấn mạnh mối tương đồng giữa
Đức Trinh Nữ Maria và hòm bia giao ước. Bởi thế, Mẹ trở nên
hòm bia sống động của giao ước mới.
Dù
không minh nhiên so sánh với hòm bia, nhưng trong cách trình
bày, Luca cho thấy: Lòng dạ trinh trong của Đức Nữ Trinh chẳng
khác gì nhà tạm để Thiên Chúa hiện diện nơi trần thế một cách
hiển vinh. Ngoài ra, những diễn tả trong các câu chuyện Truyền
tin và Viếng thăm, bằng cách vay mượn những từ ngữ đã được dùng
trong Cựu Ước để diễn tả hòm bia giao ước – Chẳng hạn Lc 1,
35 tương xứng với Xh 40, 34-35, hoặc bài ca Magnificat (Lc 1,
46-56) – thánh sử Luca rõ ràng muốn quy chiếu Mẹ Thiên Chúa
với hòm bia giao ước.
Đặc
biệt trong Xh 40, 34-35, sau khi vừa dựng lều nhà tạm xong,
Môsê đặt hòm bia vào lều, lúc đó “đám
mây che phủ lều Hội Ngộ, và vinh quang Đức Chúa đầy tràn Nhà
Tạm. Ông Môsê không thể vào lều Hội Ngộ vì đám mây đậu trên
đó, và vinh quang Đức Chúa đầy tràn Nhà Tạm”. Trong
Lc 1, 35, chúng ta đọc thấy việc Đức Maria thụ thai cách linh
thiêng cũng được “Thánh Thần sẽ đến
trên Bà và quyền năng Đấng Tối Cao trên Bà rợp bóng”
(Lc 1, 35). Vì thế, chính lúc thụ thai, mang lấy Chính Thiên
Chúa trong lòng dạ mình, Đức Maria trở nên hòm bia sống động
của Thiên Chúa.
Nhưng
thánh Luca không chỉ làm nổi bật hình ảnh hòm bia nơi Đức Maria,
thánh nhân còn đi thêm một bước dài trong cách làm đối xứng
giữa cuộc hành trình của hòm bia đi về Giêrusalem dưới thời
Đavid, với hành trình của Đức Maria mang Chúa Giêsu đến Giêrusalem
để thăm viếng.
-
Đavid
và dân chúng đã vui mừng khi cung nghinh hòm bia.
(2 Sm 6, 12-15). Bà Êlisabeth và
con bà cũng vui mừng trước mặt Đức Maria (Lc 1,
41-44).
-
Chính
Đavid đã nhảy nhót để diễn tả niềm vui ấy (2 Sm
6, 16). Gioan Tẩy giả cũng nhảy
mừng trong lòng mẹ trước Đức Maria (Lc 1, 44).
-
Dân
Israel đã “reo hò” trong khi rước hòm bia (2 Sm
6, 15). Cũng vậy, Êlisabeth “kêu
lớn tiếng” (Lc 1, 42).
-
Cũng
như hòm bia ở lại nhà Abinadad trong
ba tháng (2 Sm 6, 10), Đức
Maria cũng lưu lại nhà Giacaria “ba tháng, rồi trở về nhà
mình” (Lc 1, 40).
-
Câu
nói của Êlisabeth: “Bởi đâu tôi
được Mẹ Thiên Chúa tôi đến viếng thăm tôi” (Lc
1, 43), phải chăng cũng là họa lại lời Đavid: “Hòm
bia Đức Chúa đến với tôi thế nào được?” (2 Sm
6,9).
Như
vậy, với cái nhìn của Luca, và cũng là mạc khải của chính Thiên
Chúa nơi Tin Mừng này, đã biểu lộ một nét đẹp vô song: Đức Maria,
Mẹ của Thiên Chúa làm người, cũng chính là hòm bia giao ước
mới, là hòm bia giao ước sống động của Thiên Chúa.
Như
vậy, Đức Maria khi có mặt trong thời Tân Ước, đã bước ra từ
Cựu Ước. Giá trị của chiếc hòm là nhờ chứa đựng bia giao ước.
Đức Maria được ca khen trên hết mọi người phụ nữ (Lc 1, 42),
bởi từ lòng dạ của Mẹ, Con Thiên Chúa được sinh ra. Nhưng giao
ước ngày xưa không bền vững, còn hôm nay, cưu mang và hạ sinh
Con Thiên Chúa, Đức Maria đã trao cho trần thế một giao ước
không bao giờ tàn phai.
3.
ĐỨC MARIA, NGƯỜI PHỤ NỮ CHIẾN THẮNG
Trong
khi trình bày về cái chết của Chúa Kitô, Tin Mừng theo thánh
Gioan không quên nói tới người phụ nữ đã sinh ra Chúa Kitô:
“Đức Giêsu thấy Mẹ Ngài, và môn đồ
Ngài yêu mến đứng bên cạnh, thì Ngài nói với Mẹ: ‘Hỡi
bà, này là con bà!’. Đoạn lại nói với môn đồ: ‘Này
là mẹ con’” (Ga 19, 26-27).
Cách
xưng hô trong đoạn trích vừa rồi, Chúa Giêsu nói với Đức Maria,
cũng cùng một kiểu với lần xưng hô tại tiệc cưới Cana: “Hỡi
Bà”. Nhiều người thắc mắc, tại sao Chúa Giêsu lại
xưng hô với mẹ mình như thế? Văn chương Dothái cũng không cho
thấy, thời Chúa Giêsu, người ta có thể xưng hô với mẹ như Chúa
Giêsu đã xưng hô với Đức Maria.
Tin
Mừng theo thánh Gioan đã có một sự đối chiếu với sách Sáng thế.
Ngay từ đầu chương thứ nhất của Tin mừng này, Gioan đã mở đầu:
“Lúc khởi nguyên” giống
y như sách Sáng thế. Sau khi mở đầu như thế, Tin Mừng Gioan
tiếp tục nói đến sự tạo dựng và phân biệt ánh sáng và bóng tối,
cũng y như sách Sáng thế. Rõ ràng, thánh Gioan đã có sự quan
tâm không nhỏ đến quyển sách đầu của Kinh Thánh, khi viết sách
Tin Mừng.
Từ
đó, ta có thể suy đoán rằng, chữ “Bà”
trong Tin Mừng này, có liên hệ với “người
đàn bà” trong Sáng thế 3, 15. Sáng thế 3, 15
nói về sự giao tranh giữa quỷ thần cùng người đàn bà và dòng
dõi của bà. Dòng dõi của người đàn bà sẽ có lúc bị thương nơi
“gót chân”, còn quỷ thần
sẽ bị đả thương nơi “đầu”.
Hôm nay, đối với Tin Mừng Gioan, cuộc giao tranh ấy đã diễn
ra nơi Chúa Kitô và Mẹ của Người. Chính Gioan đã trích dẫn lời
Chúa Giêsu nói về kết quả của cuộc chiến ấy: “Giờ
đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh
thế gian sắp bị tống ra ngoài!” (Ga 12, 31).
Chúng
ta cũng sẽ dễ dàng tìm thấy nhiều nới khác trong Tin Mừng thánh
Gioan, ảnh hưởng của quỷ thần, nhất là ảnh hưởng đó làm cho
Chúa Kitô bị đóng đinh, chẳng hạn: Ga 6, 70-71; 8, 44; 13, 2…
Có thể nói, cuộc giao tranh của quỷ thần luôn rình rập cả cuộc
đời Chúa Kitô.
Cuộc
giao tranh ấy lên đến cực điểm trên núi Sọ, nơi đó, Chúa Kitô
bị thuơng tích và bị chết. Nhưng cái chết bề ngoài này (chỉ
như một vết thương nơi gót chân) là một chiến thắng vĩ đại đối
với tội lỗi. Như vậy, cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô
ngay sau cái chết đó, là sự chiến thắng của dòng dõi của “Người
Đàn Bà”.
Vì
thế, từ ngữ “Bà”
mà Chúa Giêsu nói trên thập giá nằm trong bối cảnh này. “Người
Đàn Bà”, Mẹ của Chúa Giêsu là “Người
Đàn Bà” của đau thương, vì thế, cũng là “Người
Đàn Bà” của chiến thắng.
Việc
Đức Maria chia sẻ sự chiến thắng của Chúa Kitô trên sự tội và
sự chết chính là nền tảng thần học cho việc Hội Thánh, nhờ ơn
mạc khải của Chúa Thánh Thần, công nhận tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm
Nguyên Tội. Qua tín điều này, Hội Thánh tôn xưng sự chiến thắng
hoàn toàn trên tội lỗi của Chúa Kitô. Qua sự chiến thắng đó,
Evà mới chính là Đức Maria được giải thoát cách hết sức lạ lùng,
và tội lỗi do Evà cũ gieo rắc, từ nay bị nhấn chìm.
Bởi
đó, Đức Maria, người Nữ cộng tác với ơn cứu độ, trở thành người
Nữ chiến thắng trong chính sự hiệp công của mình. Sự chiến thắng
của dòng dõi “Người Đàn Bà” làm cho Đức Maria trở thành người
tiên phong trong ơn cứu độ đầy hiệu lực, do Chúa Kitô thực hiện.
Không
những thế, Đức Maria còn được đưa về trời cả hồn lẫn xác, cho
thấy sự chiến thắng sự chết của Chúa Kitô, không phải nơi bản
thân Chúa Kitô mà thôi, nhưng còn là dòng dõi của Chúa Kitô,
mà Đức Maria là đồng minh thân thiết nhất của Người. Bởi cũng
là dòng dõi của Chúa Kitô trong ơn cứu độ, chúng ta đứng kề
bên Đức Mẹ, sống trong cuộc đời này, có quyền hy vọng được giải
thoát tinh tuyền như Đức Mẹ.
4.
ĐỨC MARIA, EVÀ MỚI
Cũng
trong văn mạch Ga 19, 26-27, Tin Mừng theo thánh Gioan còn cho
thấy hình ảnh Đức Maria, người mẹ của cả nhân loại. Đó là việc
trối Đức Maria làm mẹ của tông đồ Gioan, người môn đệ Chúa Giêsu
yêu dấu.
Nếu
ngày xưa, Evà là mẹ của thế giới, bên cây trái cấm, đã làm cho
khuôn mặt một người mẹ trở nên nhạt nhòa do cộng tác với tội
lỗi, thì bây giờ, Đức Maria, trở thành Evà mới, hoàn toàn ngược
lại với Evà cũ, vì bên cây thánh giá, Đức Maria đã trở nên người
phụ nữ cộng với ơn cứu độ của Thiên Chúa.
Evà
cũ cùng với Ađam cũ đã phá đổ. Evà Mới hết lòng cộng tác với
Ađam Mới, xây dựng lại trên nền của những đổ nát. Evà cũ và
Ađam cũ làm cho chết. Nhưng Evà Mới hiệp công cùng Ađam Mới
trao ban sự sống đời đời. Evà cũ được sinh ra trong cõi đời
của thuở ban đầu đầy ánh sáng và hạnh phúc, lại xóa tan ánh
sáng, giết chết hạnh phúc. Evà Mới sinh ra trong cõi đời đã
bị phá đổ ấy, lại có sức ban tặng thế gian ánh sáng và hạnh
phúc trường cửu. Evà cũ vì kiêu ngạo, đã bất tuân Lời Thiên
Chúa, nhắm một mục tiêu không thể tưởng tượng: muốn bằng Thiên
Chúa, đã phải chuốc lấy nỗi mặc cảm của tội lỗi, đầy ô nhục
và xa cách Thiên Chúa. Trong khi Evà Mới với lời thưa “Xin
Vâng” khiêm nhường, trở thành “Người
Đàn Bà” anh hùng, “Người
Đàn Bà” chiến thắng, đã cộng tác chặt chẽ với “dòng
dõi mình”, “đạp bể đầu”
“con rắn” xưa (St 3, 15).
Như
vậy, Đức Maria phải được giải thoát cách tinh tuyền ngay từ
lúc bắt đầu thành thai. Nếu không được giải thoát như thế, đó
mới là điều vô lý. Vì có lẽ nào, một người cộng tác với ơn cứu
độ để tiêu diệt tội lỗi, lại có thể bị tội lỗi xâm phạm?
Nếu
Đức Maria không vô nhiễm nguyên tội, ta sẽ không
làm sao hiểu nổi, một người cũng bị tội hoành hành như mọi người,
lại có thể đứng đầu mọi người, cộng tác với Ơn Cứu Rỗi để cứu
rỗi mọi người?
Nếu
Đức Maria không vô nhiễm nguyên tội, có nghĩa là
Chúa Giêsu không được sinh ra từ một tâm hồn thanh sạch. Một
người cũng được sinh ra từ một tâm hồn không thanh sạch, có
khác gì loài người chúng ta? Không khác chúng ta về điều này,
Chúa Giêsu sẽ chẳng bao giờ có quyền năng cứu độ. Nhưng thực
tế, Chúa Giêsu là Thiên Chúa làm người. Thiên Chúa đến trần
gian với một mục đích duy nhất khi làm người là cứu độ loài
người, và đã thực sự cứu độ muôn muôn thế hệ loài người. Chính
vì thế, Chúa Giêsu đã đi bước trước trong việc ban ơn cứu độ
mà Người sẽ thực hiện, để giải thoát tâm hồn Đức Maria cách
diệu kỳ quá đỗi. Người đã chuẩn bị tâm hồn Mẹ thành cung điện
xứng đáng, để từ đó, Người sinh ra.
*
* * * *
Mừng
lễ Đức Mẹ Lộ Đức, dù không thể nói hết trong vài
trang giấy, chúng ta ôn lại vinh quang mà Mẹ chúng ta đã được
tặng ban bởi Thiên Chúa, để thêm một lần nữa, chúng ta ca tụng
kỳ công của Thiên Chúa đã thực hiện nơi một thụ tạo yêu quý
của Người nói riêng, và kỳ công mà Người ban cho cả loài người
nói chung.
Bởi
xét cho cùng, kỳ công Chúa ban cho Đức Mẹ, Đức Mẹ không hưởng
riêng một mình, nhưng dành cho chính chúng ta. Mẹ chính là lợi
ích của chúng ta, vì cùng với con mình là Chúa Giêsu, Đức Maria
trở thành quà tặng tuyệt diệu mà Thiên Chúa dành cho trần gian.
Quà tặng độc đáo của Thiên Chúa làm cho Đức Maria và chúng ta,
Hội Thánh của Chúa Kitô, có một tương quan hoàn hảo và lớn lao
đến vô cùng:
-
Đức
Maria ở trong Hội Thánh: Từ buổi sơ khai,
Mẹ đã là thành viên của Hội Thánh. Sau khi được rước về trời,
Mẹ lại tiếp tục là thành viên của Hội Thánh thiên quốc.
-
Hội
Thánh ở trong Đức Maria: Bởi ngày Truyền Tin,
khi Đức Mẹ nhận lời ngỏ của Thiên Chúa để cưu mang Chúa Kitô,
Đầu của Hội Thánh, thì kể từ ngày ấy, Đức Mẹ đã mang lấy Hội
Thánh. Mẹ cũng sẽ tiếp tục cưu mang và đồng hành với Hội Thánh
trải dài hết cuộc đời dương thế của Chúa Kitô, mãi cho đến
ngày lễ Hiện xuống của Ngôi Ba Thiên Chúa.
-
Không
những Hội Thánh ở trong Đức Maria, còn hơn thế, Mẹ
là Mẹ của Hội Thánh, Mẹ của mỗi người chúng
ta đang trong cuộc lữ hành trần thế. Bởi nếu Hội Thánh là
thân mình của Chúa Kitô, thì Đức
Maria là Mẹ của Đầu, cũng sẽ là Mẹ của thân mình thuộc về
Đầu ấy.
Bởi
vậy, hôm nay mừng lễ Đức Mẹ Lộ Đức, tuyên dương Đức Mẹ là Đấng
Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng ta kêu nài Mẹ hãy tiếp tục ở lại
trong Hội Thánh, để Mẹ tiếp tục là Mẹ của Hội Thánh và Hội Thánh
được tiếp tục ở lại trong Mẹ, mà hoàn thành sứ mạng trần thế
của mình như chính Mẹ vậy.
Còn
chúng ta, tôn kính, mến yêu Đức Mẹ,
dù là cách đặc biệt, vẫn chưa đủ. Chúng ta cần tiến
xa hơn trong sự tận hiến thời gian, sức lực, trí khôn, của cải,
sự sống, toàn bộ cuộc đời và tấm thân ta để cùng đi chính con
đường Chúa Kitô và Mẹ Người đã đi xưa, mà tận hiến chính mình
như của lễ toàn thiêu cho Thiên Chúa. Đó mới chính là thể hiện
lòng yêu mến, tôn sùng Đức Mẹ cách thiết thực và cần thiết nhất,
phù hợp thành ý Chúa.
|
|
|