ƠN
TÁI SINH NƠI MỘT GIA ĐÌNH
Ngày anh chị gặp
nhau, rồi trở thành vợ chồng, anh vẫn chưa là người Công
giáo. Thế là chị bị rối do ngăn trở khác đạo.
Vào
những năm khó khăn, gia đình anh chị bỏ đi đến những vùng
đất mới để lập nghiệp. Lúc ấy đứa con đầu lòng còn đỏ hỏn.
Một thời gian sau anh chị lại có thêm một cháu trai. Chồng
không đạo, vợ bị rối, hai con sinh ra cũng đi trên lối mòn
mà cha và mẹ chúng đã đi: không đứa nào được rửa tội.
Hoàn
cảnh khó khăn, tưởng thoát ly gia đình ra đi như thế, tưởng
sức chồng công vợ hợp tác mà thành, cộng với đôi bàn tay
chai sần ngày ngày hòa trộn cùng những giọt mồ hôi mặn chát,
xót xa, sẽ tạo ra cơm, ra mắm, ít nữa là cháo, là rau. Nhưng
không ngờ, cuộc sống khắt khe đến mức tàn nhẫn: càng lam
lũ bao nhiêu, càng trắng tay bấy nhiêu.
Những
ngày đầu phá đất hoang, sức trai vạm vỡ như anh, đã mang
lại cho gia đình hy vọng sẽ thoát khỏi đói nghèo. Nhìn những
gốc cây bị lật ngược, sỏi đá được gom thành đống; gốc cây
thì làm củi cho vợ, sỏi đá đắp nền nhà, mà cứ vui sướng,
mà phấn khởi. Một niềm tin đổi đời đang nhóm lên từng ngày
của cả vợ lẫn chồng…
Nhưng
thật mỉa mai chua xót, khi mà niềm vui chưa một lần dám
thốt thành lời để khoe với họ hàng, cha mẹ, vẫn còn chôn
kín trong hy vọng, thì những con muỗi rừng, những con muỗi
đói đã chực cướp lấy mạng sống anh, và đứa con gái đầu lòng.
Bao nhiêu tiền có được, chị bỏ ra hết để mong giữ được mạng
sống của chồng, của con. Cơn sốt rét tạm lắng, nhưng bệnh
sốt rét vẫn cứ còn. Túng thiếu quá đỗi, chị kêu người ta
bán luôn cả rẫy mì còn non nớt. Gia đình khốn khó, một người
bệnh đã khổ, đàng này chị phải cưu mang đến hai người bệnh
và đứa con trai thứ hai còn bế trên tay. Mọi vất vả, mọi
thương đau đè nặng trên đôi vai quá mong manh của một phụ
nữ như chị. Đôi mắt chị thâm quầng, lòng mắt đờ đẫn, xa
xăm. Trên đôi mắt chứa nhiều niềm đau hơn nỗi vui ấy, những
giọt nước mắt đã ráo khô tự lúc nào. Chị đã khóc. Khóc nhiều
lắm. Khóc cho gia đình, khóc cho chồng, cho con. Chị khóc
cho chính mình, cho số phận bạc phước, cho cả kiếp sống
của chị bị Thượng Đế lãng quên. Chị khóc nhiều lắm, nhưng
nước mắt đã chảy ngược vào tim mất rồi.
Quá
khắc nghiệt, gia đình anh chị bỏ hết tất cả, trở về quê
cha đất mẹ mong tìm lại cuộc sống bình an. Ngày ra đi, anh
chị mang trong mình nhiều hy vọng. Nay trở về, đã hoàn toàn
trắng tay. Sự đau buồn đã cướp mất của anh chị cả đến những
tia hy vọng cuối cùng. Một tấm tranh lợp nhà còn không có,
sức khỏe của anh cũng không còn như xưa, nước da xanh như
tàu lá chuối. May nhờ một ông chủ lò gốm mướn anh làm một
việc hết sức nhẹ nhàng, gần như là bảo vệ: trông coi nhà
cửa. Hàng ngày chị đi gánh nước mướn tạm sống qua ngày.
Ông chủ lò gốm thương tình cất cho gia đình anh chị một
căn chòi vách tre, mái lợp lá. Thế là cũng đủ cho những
kẻ nghèo mạt kiếp như anh chị và các con của mình có nơi
dung thân tạm sống qua ngày.
Hàng
ngày chị gánh nước đi ngang trường học. Thấy đám trẻ con
hồn nhiên quá, vui quá, những tiếng đánh vần bi bô cứ vang
lên từng ngày, nghe mà nao lòng lắm. Có đêm chị nằm mơ thấy
hai đứa con chị cãi nhau về kết quả của một bài toán. Chị
còn thấy đứa con gái lớn của chị đọc thuộc lòng một bài
thơ mà ban sáng, chị nghe trong một lớp học nào đó, đám
học sinh đọc thật to. Giật mình tỉnh giấc, nước mắt chị
ràn rụa, thấm ướt cả chiếc gối kê đầu: con chị còn chưa
đánh vần nỗi một chữ cái đầu. Hóa ra kết quả của một bài
toán, và tiếng đọc thơ của con chị chỉ là niềm mơ ước cháy
bỏng tâm hồn người mẹ, làm chị xót xa đoạn trường, đã theo
chị đi vào từng giấc ngủ như thế…
Chị
bàn với anh, thôi thì gia đình có nghèo, sự lận đận, anh
chị cố gắng mà chịu. Dù sao kinh tế gia đình đã có phần
ổn định, đã có thể lo cho con đi học, chắc chắn không đầy
đủ như con người ta, nhưng được đi học, sau này chúng nó
không tủi thân.
Vậy
là chị lại nắm tay con mình dẫn tới trường học. Nhưng chị
có ngờ đâu, con chị đã qua cái tuổi học lớp một rồi. Tuy
vậy, con trai chị vẫn được nhận vào lớp một. Hết cách, chị
đưa con gái vào trường bổ túc văn hóa. Ngay năm đầu tiên,
các con đã đem về cho anh chị những niềm vui quá bất ngờ,
quá lớn lao, có sức an ủi làm mát lòng cha mẹ chúng: Con
gái anh chị chỉ một năm học đầu tiên đã học đúp hai lớp,
lớp một và lớp hai, bây giờ đang học lớp ba. Còn cháu trai
được xếp hạng nhì, đem về nào phần thưởng, nào giấy khen.
Nhận giấy mời đến trường dự lễ phát thưởng của con mình,
anh chị như có phần trút bớt nỗi lầm lũi, bớt tủi thân.
Cháu
gái con anh chị, sau khi đi học hai năm, đã học hết chương
trình cấp một. Tin vào sự thông minh của con mình, cuối
năm lớp sáu, anh chị làm đơn xin chuyển trường cho con từ
bổ túc sang trường phổ thông. Năn nỉ mãi, người ta chấp
nhận. Hết năm lớp 12, con gái anh chị thi vào Đại học Sư
phạm. Ngày cô chị bắt đầu vào đại học, thì cũng là ngày
cậu em lên lớp 10. Cô chị tốt nghiệp đại học, cậu em cũng
tốt nghiệp phổ thông…
Bây
giờ anh chị vẫn chưa phải là người giàu có, căn nhà ngày
xưa vẫn không là căn nhà đẹp, nhưng mái lá đã thay bằng
mái ngói, vách tre đã thay bằng vách tôn. Dù vậy, niềm vui
đã có thể tràn ngập trong gia đình anh chị. Mọi vất vả,
mọi đau khổ ngày nào, tạo nên kết quả của ngày hôm nay,
đã trở thành một kỷ niệm, một dấu ấn mà tâm khảm của mọi
người trong nhà này không dễ xóa nhòa.
Cô
con gái của anh chị sau một vài năm đi dạy học, đã có người
yêu. Vô cùng may mắn, người yêu của cô là một người Công
giáo, cũng dạy học như cô. Kể từ khi con gái làm bạn với
người Công giáo, bỗng dưng cảm thức đức tin ngày xưa trở
lại trong lòng chị. Qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống,
cụm từ “người Công giáo”,
đối với chị đã trở thành xa vắng từ lâu, đức tin đã tắt
ngúm, bây giờ bỗng le lói. Chị nhớ lại, ngày xưa chị cũng
đã từng theo mẹ đến nhà thờ. Lớn lên chị cũng đã từng mặc
áo dài tha thướt đi dự lễ ngày Chúa nhật. Thế là chị quyết
định cho con theo đạo lập gia đình. Điều khó khăn chị gặp
phải lúc này là anh không đồng ý quyết định của hai mẹ con.
Chị lén chồng đưa con tới nhà thờ gặp linh mục. Chị đã thật
thà kể hết mọi chuyện trong gia đình của mình cho linh mục
nghe. Vị linh mục quyết định đến thăm gia đình anh chị.
Lần đầu tiên cả gia đình còn ngại, xa cách linh mục. Nhưng
cuối cùng, anh đã chấp nhận cho con theo đạo, và chấp nhận
làm phép chuẩn với chị để chị thong dong giữ đạo.
Nhưng
việc Chúa làm không ai biết được. Kết quả sau cùng, thật
quá sức tốt đẹp. Chính anh đã tự ý xin học đạo. Cậu con
trai của anh chị, mới hôm nào anh tuyên bố, nó là con “đích
tôn”, phải lo giữ đạo ông bà, bây giờ anh cũng cho phép
học đạo. Nhìn cảnh cả gia đình chiều chiều, chở nhau đi
học giáo lý, sao cảm động và đáng yêu quá…
*
* *
Đêm
vọng Phục sinh tưng bừng, đêm tràn ngập ánh sáng, cả Giáo
Hội vui mừng trong khúc ca Alleluia mà ngợi khen Chúa. Đêm
mà Thiên Chúa đi tìm con người, mang lên vai trở về để trao
tặng tình yêu và ơn cứu độ (Lc 15, 5). Đêm mà mọi Kitô hữu
vô cùng hân hoan diễn tả lòng yêu mến Chúa, sự tôn thờ Thiên
Chúa của mình bằng những lời ca hay nhất, bằng những tiếng
reo vang dội: “Vang lên muôn lời
ca, ta ca tụng Chúa, vì uy danh Ngài cao cả”.
Đêm cực thánh, đêm đại lễ, xứng đáng là đêm của mọi đêm,
lễ mẹ của mọi lễ. Chúa Kitô đã làm cho nấm mồ chôn xác Người
trở thành huyệt mã chôn tội lỗi. Chúa Kitô đã chỗi dậy,
đã khải thắng, đã giết chết tử thần. Chính đêm nay Chúa
Kitô phục sinh đã làm bừng lên sức sống mới.
Và
trong đêm vô cùng thánh thiện ấy, anh
và các con của anh chị bước lên cung thánh dõng dạc tuyên
xưng đức tin trước mặt cả cộng đoàn đông hàng
ngàn người. Dòng nước vừa mới làm phép xong, đã trở nên
dòng nước thanh tẩy và thánh hiến. Và gia đình anh chị là
những người đầu tiên lãnh nhận ơn thánh hiến từ dòng nước
mới ấy: Từ nay đã thuộc về Chúa Kitô. Chết cho tội lỗi để
sống cho Chúa Kitô, nhận chìm quá khứ trong dòng nước của
đêm khải hoàn, gia đình anh chị đã tái sinh.
Có
người Công giáo nào, sau nhiều năm lặn lội trong biển đời
mênh mông, đức tin xem ra vuột mất, bị cuộc đời vùi giập,
đức tin như chỉ còn là một sợi chỉ mỏng như tơ chôn chặt
thẳm sâu trong lòng, giờ đây có dịp bùng lên, lại không
cảm thấy niềm an ủi tràn đầy, lại không cảm thấy cuộc đời
quá đỗi thiêng liêng, và như trút bỏ cả một gánh nặng lương
tâm bấy nhiêu năm. Dẫu đức tin đã trở thành như chỉ là một
kỷ niệm, thì cảm thức về một kỷ niệm như thế vẫn đủ để người
ta nhận ra mình, vẫn đủ để thêm sức cho người ta trở lại
với huyền nhiệm của tình yêu, một thứ tình không phải đến
từ con người nhưng do Thiên Chúa rộng rãi trao ban.
Cũng
vậy, thắp sáng trên tay ánh lửa lấy từ nến phục sinh, chính
chị cũng đã nhận ra rằng, ngọn lửa đức tin mà bao năm tháng
chỉ còn trơ một chút tàn, bỗng dưng bùng cháy, xóa tan mọi
mặc cảm, xóa tan mọi bất bình an. Trong đêm mừng Chúa phục
sinh vui mừng, chị đã khóc. Ngày xưa chị cũng khóc. Nhưng
giọt nước mắt của hai lần khóc khác nhau lắm. Giọt
nước mắt bây giờ cứ tự nhiên rơi xuống trên làn môi đầm
thắm và hạnh phúc, không còn là giọt đau xót ngẹn ứ và ảm
đạm của ngày xưa.
Ơn
tái sinh quá diệu kỳ. Không chỉ hồi sinh sức sống của tâm
hồn, mà còn trả lại cho con người biết bao nhiêu niềm thương,
niềm bình an, thay cho những gì là thương đau chừng như
giết chết con người trong vũng của thê lương bất hạnh. Mới
hay, khi con người tìm về tình yêu của Chúa, hoặc trở lại
với tình yêu muôn đời bền vững ấy, họ sẽ nhận lại mọi phẩm
chất, mọi giá trị, bất kể là sự sống của tâm hồn hay của
thể chất.
Nguyện
xin bình an của Chúa Kitô Phục sinh ở lại trong tâm hồn
của mỗi thành viên trong gia đình anh chị. Và chúng ta cũng
thế. Chúng ta cũng rất cần ơn tái sinh của Đấng Phục Sinh,
để bình an và sức sống mới của Người có khả năng biến đổi
những gì còn khô cằn, còn mang dáng vấp sự chết trong ta
thành ánh sáng của hoa trái thánh thiện. Vì thế nguyện xin
Chúa Kitô Phục Sinh ở lại trong cuộc đời mỗi người chúng
ta…