dongcong.net
 
 
Tiểu Mục Giáo Dân Với Gia Đình Gia Đình Sống Đạo


Hội Thánh mang nơi mình
SỰ TỰ HIẾN CỦA THIÊN CHÚA
(tiếp theo phần II)

PHẦN III
NHIỆM VỤ CỦA MỖI KITÔ HỮU
NHẰM ĐÁP TRẢ TÌNH YÊU TỰ HIẾN
CỦA THIÊN CHÚA

Người Kitô hữu có hai nhiệm vụ rất rõ rệt: đối với Thiên Chúa và đối với trần gian. Đúng hơn, họ chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là sống đức mến. Họ biết Thiên Chúa, yêu mến Thiên Chúa. Họ cũng nhận ra Thiên Chúa biết và yêu mến họ. Chính vì lòng yêu mến Thiên Chúa, và vì tình yêu mà Thiên Chúa dành cho họ, họ thi hành nghĩa vụ thờ phượng và phục vụ anh chị em, phục vụ thế giới. Họ đáp đền ơn nghĩa, đáp đền tình yêu của Người bằng nhiều cách, được biểu lộ qua hai hình thức: hiến thân phụng sự Người trong đời sống cầu nguyện; hiến thân cách cụ thể qua việc phục vụ con người và thế giới quanh họ.

Để thực hiện tất cả vai trò tự hiến ấy, họ nhận lãnh ơn Chúa Thánh Thần mà Chúa Kitô trao ban cho họ. Rồi sau khi tiếp nhận ơn Chúa Thánh Thần, họ hiệp thông với Thiên Chúa, với nhau, với Hội Thánh của Người, để trung thành trong nghĩa vụ tôn thờ và sống lề luật của Thiên Chúa.

1. Chúa Thánh Thần ngự trong mỗi Kitô hữu

Nếu Chúa Kitô là hình ảnh tự hiến tròn đầy của Thiên Chúa, thì Chúa Thánh Thần nơi mỗi Kitô hữu cũng chính là sự tự hiến không ngơi nghỉ từ thời này qua thời khác của Thiên Chúa.

Vì Chúa Thánh Thần chính là ơn tự hiến của Thiên Chúa, Người cũng làm cho mọi Kitô hữu trở thành những con người của sự tự hiến. “Thánh Thần sẽ ở giữa các con và ở trong các con” (Ga 14, 17). Lời hứa này, được Chúa Kitô thực hiện không chỉ chung cho cả cộng đoàn Hội Thánh mà còn là lời hứa cho riêng mỗi tín hữu. Chúa Thánh Thần ngự trong mỗi cá nhân, soi sáng để họ thấu hiểu giáo huấn của Chúa Kitô khi được chính Hội Thánh trình bày, giáo dục, hướng dẫn, cắt nghĩa… Người tiếp tục soi sáng từng giây phút của đời người tín hữu , để họ nhận ra điều thiện, sự thật, nhất là nhận ra thánh ý Thiên Chúa trong suốt chuỗi ngày sống của họ.

Người chính là sức mạnh để nâng đỡ ta, hướng dẫn trí tuệ, làm cho ta kiên định và đầy đủ nghị lực để sống đức tin, sống lòng yêu mến. Người ban cho ta sức mạnh của sự thiện để ta khao khát điều lành, xa lánh sự dữ. Người sẽ trợ lực để ta làm được những việc lớn lao quá sức mình, và làm cách bền tâm, bền chí sao cho sáng danh Thiên Chúa.

Chúa Thánh Thần đã ngự trong ta, mã mãi Người vẫn đồng hành cùng ta. Người biến mỗi cá nhân người Kitô hữu thành đền thờ của Thiên Chúa. Nhờ tâm hồn đã được thanh tẩy, ta sẽ hạnh phúc đón nhận cùng với Thánh Thần là Chúa Cha và Chúa Con. Bởi Chúa Kitô đã từng phán dạy: “Nếu ai yêu mến Ta, hãy giữ lời Ta, Cha Ta sẽ yêu người đó. Chúng ta sẽ đến và cư ngụ trong người đó”.

2. Nhiệm vụ tự hiến của Kitô hữu khi cử hành phụng vụ

Nếu phụng vụ của Hội Thánh có ba đặc tính: chính thức (nhân danh Hội Thánh); cộng đồng (mọi người hiện diện đều được mời gọi tích cực và chủ động tham gia); hữu hình (tâm tình được diễn tả bằng lời và cử chỉ), thì cùng với việc nhận lãnh ơn Chúa Thánh Thần, từng người Kitô hữu tham gia tôn thờ Thiên Chúa trong phụng vụ với đầy đủ những đặc tính ấy, cũng chính là lúc họ sống mầu nhiệm tự hiến. Bởi ở một khía cạnh, mặc dù họ có nghĩa vụ phải tôn thờ Thiên Chúa, nhưng nếu nhìn ở mặt khác, khi họ thi hành hoàn hảo nghĩa vụ tôn thờ của mình, cũng chính là lúc họ tự hiến chính mình dấn thân vào việc thờ phượng đích thực ấy. Hơn nữa, ngay trong việc thi hành chức năng tư tế để tôn thờ Thiên Chúa, người tín hữu làm cho danh Chúa được tôn vinh, được cả sáng và lôi kéo ơn cứu chuộc của Chúa cho trần gian, đã là một nghĩa tự hiến lớn lao và tốt đẹp.

Về phần các Kitô hữu, để có được những tâm tình tự hiến tốt đẹp trên, họ cần phải chủ động tham dự phụng vụ cách hết sức tích cực bằng tất cả tâm tình của trái tim, của khối óc. Họ không được quên rằng, hình thức bên ngoài của phụng vụ sẽ góp phần tích cực cho tâm tình bên trong, vì thế họ chăm chú tham dự mỗi tác động của phụng vụ như: cử chỉ, lời kinh, lời cầu nguyện, việc ca hát, đối đáp… Họ phải làm cho mỗi cuộc cử hành phụng vụ phải là một hình ảnh sống động của dân Thiên Chúa.

3. Nhiệm vụ tự hiến trong ơn hiệp thông cùng Thiên Chúa

Dù Thiên Chúa, đối với chúng ta, thật là bí nhiệm. Dù vậy, ta vẫn có thể thông hiểu phần nào mầu nhiệm Thiên Chúa. Vì Người là sự sống và tình yêu, mà bản chất của sự sống và tình yêu là luôn luôn đòi phải nhân lên, trao đổi, chia sẻ, hiến dâng, đón nhận… Vì thế, Người luôn luôn đến với ta, muốn hiệp thông nơi mỗi con người. Còn ta, dù bàn chân vẫn phải đạp đất, vẫn không ngớt hướng về trời cao. Trong sâu thẳm của tâm hồn, ta thấy mình mất bình an khi thiếu vắng Thiên Chúa, thiếu vắng thực tại thiêng liêng sâu thẳm, không dễ gì tìm kiếm ở chốn trần gian. Điều đó thật dễ hiểu, bởi kết thành nên ta đâu phải chỉ có vật chất, mà còn có cả một thế giới linh thánh nơi tâm hồn mình. Kinh nghiệm đó được thánh Augustinô diễn tả: “Lòng con khắc khoải không ngừng, cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”.

Đã có sẵn sự trao hiến nơi cung lòng Thiên Chúa và tâm hồn mở ngỏ của loài người, ơn hiệp thông trong Thiên Chúa của loài người phải là điều tất yếu. Thiên Chúa tự hiến cho loài người, cho từng người một; và loài người tự hiến cho Thiên chúa. Ơn hiệp thông nơi Thiên Chúa và con người hoàn thiện trong mầu nhiệm tự hiến, thật là ý nghĩa, thật là tốt đẹp.

Nhưng trên thực tế, do yếu đuối, do sự dữ thống trị, loài người có thể cắt đứt sự hiệp thông với Chúa của mình. Vì thế, sự sống và tình yêu của Thiên Chúa còn đi những buớc đi dài không thể tả. Bởi để duy trì đến vô cùng mối hiệp thông với ta, Thiên Chúa đã dùng chính cuộc đời, cái chết, sự phục sinh của Chúa Con để ta không ngừng được lưu lại trong Thiên Chúa. từ nay, ai hợp nhất với Chúa Kitô là hợp nhất với Thiên Chúa.

Điều còn lại là chính bản thân mỗi người. Ta có đủ thiện chí để đưa mình đi vào quỹ đạo tình yêu của Thiên Chúa? Cách duy nhất giúp ta sống trong sự hiệp thông với Thiên Chúa là: “Căn cứ vào điều này, chúng ta nhận ra rằng, chúng ta biết Thiên Chúa: đó là chúng ta tuân giữ các điều răn của Người. Ai nói rằng mình biết Người mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối, và sự thật không ở nơi người ấy. Còn hễ ai giữ lời Người dạy , nơi kẻ ấy, tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo. Căn cứ vào đó, chúng ta biết được mình đang ở trong Thiên Chúa. Ai nói rằng, mình ở lại trong Người, thì phải đi trên con đường Đức Giêsu đã đi” (1Ga 2, 3-6).

Một trong những khía cạnh của sự tự hiến của ta, đó chính là ta hiệp thông với Thiên Chúa. Bởi nhờ sự hiệp thông ấy mà ta sống cho Chúa, chứ không sống cho tội lỗi. Nhờ sự hiệp thông ấy, ta sống cho Chúa như Chúa sống cho ta. Vậy ta hãy đứng lên, dứt khoát từ bỏ hết mọi vướng bận cản trở ta đi về phía Thiên Chúa, để giao hòa với Chúa, để hiệp thông với Người trong sự tự hiến của ta.

4. Nhiệm vụ tự hiến sống các nhân đức đối thần

Tin, cậy, mến là ba thái độ căn bản của con người đối với Thiên Chúa. Tin cũng là cách giúp ta hiệp thông với Chúa. Nhờ đức tin của ta, Chúa ngự đến trong ta. Lòng cậy trông giúp ta nhìn nhận rằng, Thiên Chúa là nguồn mọi ơn lành. Người hằng thành tín. Người ban cho ta mọi điều Người hứa và làm thỏa mãn niềm mong chờ hạnh phúc thật của ta. Còn đức mến là tột đỉnh, là chủ đích, là nguồn mạch nuôi dưỡng đời sống Kitô giáo.

a. Đức Tin: Tin là ta nhận biết Thiên Chúa nhưng chưa trọn vẹn. Dù vậy đức tin vẫn cho ta biết có Thiên Chúa là đối tượng để ta tin.

Tin cũng có nghĩa là ta tín nhiệm nơi Thiên Chúa. Sự tín nhiệm ấy, chính là sự tự hiến của ta. Nó cho phép ta đặt mình vào tay Thiên Chúa để tùy ý Người dẫn dắt ta. Chúa Kitô đã từng nói đến hạnh phúc của người tín nhiệm nơi Thiên Chúa: “Phúc cho ai không thấy mà tin”.

Tin cũng chính là ta tự mình gắn bó với Thiên Chúa trong Chúa Kitô. Đó cũng là một khía cạnh khác của sự tự hiến nơi con người. Nếu muốn gắn bó với Thiên Chúa, trước hết phải gắn bó với Chúa Kitô. Có nghĩa là, ta đón nhận Chúa Kitô như sứ giả của Thiên Chúa, để nơi vị sứ giả này, ta tìm gặp thánh ý, tìm gặp tình yêu, và tìm gặp chính Thiên Chúa. Muốn gắn bó với Chúa Kitô để đến cùng Thiên Chúa, ta cần nhìn lại chính mình, để khám phá ra sự hiện diện, tác động và ảnh hưởng của Chúa Kitô trong chính cuộc đời ta, trong những lần ta sa sút và trở lại, trong tất cả những anh em cùng sống bên ta. Muốn gắn bó với Chúa Kitô, ta không thể không cầu nguyện. Trong sự cầu nguyện của mình, ta chiêm ngắm cuộc đời của Chúa Kitô, để khám phá ra cuộc đời của Người cũng thể hiện nơi cuộc đời của ta trong tất cả mọi nỗi vui buồn, sướng khổ của đời ta. Muốn gắn bó với Chúa Kitô, ta thực hành tinh thần của Người: vâng phục, khiêm nhường, yêu thương, tha thứ, hiền lành, chịu khó vì nhân loại… và lấy đó làm gương mẫu sống cho chính bản thân ta.

Tin là một cuộc gặp gỡ giữa con người với Thiên Chúa. Tin vừa là hồng ân Thiên Chúa ban, vừa là thái độ của con người. Như vậy, mầu nhiệm tự hiến của cả hai bên được biểu lộ trong chính đức tin của ta. Vì thế, nơi chính đức tin của con người, đã là một cuộc gặp gỡ, một cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người. Ở đó, Thiên Chúa tự hiến trong việc cúi mình xuống để đến với ta. Còn ta, ta cũng tự hiến, để làm sao cố vươn lên tới Người.

b. Đức Cậy: Thiên Chúa tự hiến chính mình vì ta. Ta cậy trông nơi Thiên Chúa, cũng đồng nghĩa với việc ta chấp nhận sự tự hiến của Người. Lòng cậy trông của ta chính là lối mở để ơn tự hiến của Thiên Chúa đến và lưu trú trong tâm hồn ta.

Ta cậy trông vào Thiên Chúa vì biết rằng, Thiên Chúa nhân lành, yêu thương ta. “Lòng từ bi của Chúa còn mãi đến muôn đời”. Người hứa ban những gì cần thiết để ta hạnh phúc. Đức cậy của ta còn đặt nền tảng trên lòng thành tín, không thay đổi, luôn chân thật của Thiên Chúa. Trên hết mọi ý nghĩa, ta cậy trông vào Thiên Chúa, vì Người không tiếc bất cứ điều gì, ngay cả Người Con Một quý yêu của Người, Người cũng ban cho ta.

Ta cậy trông vào Chúa vì chỉ có mình Chúa mới thỏa mãn khát vọng vô biên của ta. Ta khao khát không cùng, khao khát nhiều thứ. Nhưng ngoài Thiên Chúa, ta vẫn không thể thỏa mãn nỗi khát khao. Dù vậy, Thiên Chúa không cấm ta khao khát những điều cần thiết, nhất là khi ta khao khát ơn phần rỗi. Người chỉ dạy ta tránh những gì vô bổ, giả dối, đặc biệt là tội lỗi. Người dạy ta đừng lo lắng quá mức, mà hãy phó thác cho Người. kinh nghiệm trong cuộc đời cho thấy, sự xấu và tội lỗi không bao giờ mang lại hạnh phúc, chỉ gây thêm chán chường, thất vọng. Vì thế, ta hãy lấp đầy nỗi khao khát bằng chính sự khao khát Thiên Chúa. Vì chỉ có một mình Thiên Chúa là nguồn bình an, là niềm vui đích thực. Vì “Phúc cho ai khao khát công chính, họ sẽ được no thỏa”.

Ta cậy rông vào Chúa trong mọi thử thách của đời mình. Nhiều khi ta gặp khó khăn, đau khổ. Đó là thử thách mà ta phải gánh lấy khi sống trong đời. Thử thách chỉ là tạm thời, sẽ qua đi. Biết rằng, thử thách là điều tất yếu của đời người, nhiều khi rất cần để thanh luyện đức tin của ta. Nó cũng làm cho ta khiêm tốn và trưởng thành hơn. Vì thế, ta cần giữ vững lòng tin cậy vào Chúa. Nhờ đó, ta có đủ sức mạnh vượt lên trên mọi thử thách của đời mình.

Nhất là khi sa ngã, ta đừng đánh mất lòng cậy trông. Bởi sa ngã không phải là ít trong cuộc đời làm người của ta. Những lúc ấy, lòng cậy trông sẽ là sức mạnh nâng ta chỗi dậy. Những lúc thất bại trong cuộc chiến chống sự dữ, điều hay nhất đó là, ta đừng để mình quay quắt với những lỡ lầm, nhưng hãy suy nghĩ nhiều hơn về tình yêu tha thứ và sức mạnh chiến thắng của Thiên Chúa. ta cần biết rằng, trở về với Chúa không bao giờ là việc làm quá trễ. Bởi bất cứ lúc nào ta còn kịp nhận ra chính thân phận hèn yếu của mình, là chính lúc lòng tha thứ của Thiên Chúa đang chờ đợi ta. Hãy chỗi dậy. Ơn thánh của Chúa sẽ biến đổi ta, và biến đổi thật kỳ diệu. Người chữa lành mọi thương tật của linh hồn ta. Thiên Chúa đã không tiếc mình, sẵn sàng tự hiến chính mình cho ta. Vì lẽ nào, ta còn thất vọng, không đón nhận sự tự hiến ấy?

c. Đức Mến: Yêu mến ai là hiến thân cho người đó. Yêu mến Thiên Chúa, lòng mến ấy dạy ta sống cho Chúa, tự hiến chính mình để được lớn lên trong tình yêu của Chúa. Nói cách khác, sống đức mến cũng chính là tự hiến để được nên một với Chúa, chìm trong chính tình yêu của Người.

Ta tự hiến cho Chúa trong đức mến, có nghĩa là, ta đặt lòng yêu mến Thiên Chúa vào vị trí tuyệt đối. Mọi tình yêu khác phải đặt bên dưới tình yêu này. Lòng mến này không phải chỉ là tình cảm, nhưng nó phải phát xuất từ chính tâm hồn, được biểu lộ ra bên ngoài, thấm nhuần từng hành vi, từng động lực của mọi sinh hoạt trong đời ta.

Đức mến dẫn ta đến Thiên Chúa. Nó làm cho ta được lôi cuốn về phía Chúa. Không chỉ cho ta yêu mến Thiên Chúa, mà còn yêu mến tất cả những gì Thiên Chúa yêu mến, và yêu như Thiên Chúa yêu mến. Hiểu như thế, ta thấy chính lòng yêu mến đã là sự tự hiến cao cả.

Nhưng đức mến đúng nghĩa không dừng lại nơi Thiên Chúa mà đòi ta phải vươn tới anh chị em, tự hiến chính mình cho anh chị em vì lòng yêu mến Chúa. Bởi chính sự tự hiến bằng lòng yêu thương dành cho anh chị em mới là bằng chứng đích thực của lòng yêu mến Chúa.

5. Nhiệm vụ tự hiến trong đời sống cầu nguyện

Cầu nguyện để chúc tụng, cảm tạ, làm hiển vinh danh Chúa, đều có thể coi là hành động tự hiến của con người dành cho Thiên Chúa. Những hành động tự hiến đó cần thiết vô cùng, vì nó cần cho đời sống Kitô hữu của ta. Nó là hơi thở của linh hồn. Nếu không thường xuyên giao tiếp với Thiên Chúa, thì đời Kitô hữu của ta sẽ không đứng vững, không nảy nở, nhưng bị ngạt thở, sẽ không còn sức mạnh và sự sống của Thiên Chúa trong ta.

Những tâm tình cần thiết trong khi cầu nguyện là:

– Chúc tụng và cảm tạ: Chúc tụng Thiên Chúa là nhìn nhận Người toàn năng, toàn hảo. Người thật tốt đẹp. Mọi vật do Người tạo dựng cũng tốt đẹp. Người không bao giờ có sự xấu. Sự xấu cũng không xuất phát từ Thiên Chúa. Thiên Chúa luôn luôn yêu thương, gìn giữ trong sự quan phòng tất cả những gì Người đã tạo dựng. Thiên Chúa là sự thánh thiện, nguồn mọi sự thánh thiện. Người làm lan tỏa sự thánh thiện nơi thụ tạo của Người. Thiên Chúa là ánh sáng, nguồn mọi ánh sáng. Người chiếu tỏa ánh sáng cho tất cả những ai thành tâm tìm Người. Thiên Chúa dù cao cả, nhưng rất nhân lành, luôn hướng về ta, làm mọi sự vì ta và cho ta.

Ta cần kết hợp với Chúa Kitô để cảm tạ, chúc tụng Thiên Chúa. Vì Chúa Kitô đẹp lòng Thiên Chúa. Vì thế, trong Chúa Kitô, lời chúc tụng, tạ ơn của ta nên xứng đáng hơn. Đặc biệt, thánh lễ là nơi tốt nhất để ta kết hợp với hy tế của Chúa Kitô mà chúc tụng, tạ ơn Thiên Chúa. Trong thánh lễ, Chúa Kitô chúc tụng và cảm tạ Thiên Chúa bằng chính sự chết và phục sinh của Người. Bởi đó, thánh lễ là đỉnh cao của đời cầu nguyện.

– Xin ơn: Khi cầu xin, ta chân thành nhìn nhận và phơi bày tình trạng con người nghèo hèn thiếu thốn của ta trước mặt Chúa, xin Chúa dủ thương mà ban những ơn cần thiết theo thánh ý Người định. Qua việc cầu xin, ta cũng tỏ bày niềm cậy trông vào lòng yêu thương của Chúa. Cầu xin là việc làm tốt. Chính Chúa Kitô nhiều lần dạy ta hãy nhân danh Người mà cầu xin Thiên Chúa những điều tốt đẹp. Trong lời kinh Lạy Cha, sau khi dạy ta chúc tụng Thiên Chúa, Người cũng dạy cầu xin nhiều điều cần thiết.

Ta cần ưu tiên cho lời cầu xin những ơn thiên liêng như xin đức tin, xin lòng trung thành, xin ơn tha thứ, xin cho được nên giống Chúa Kitô, và tiến tới sự hoàn thiện như Thiên Chúa… Nhất là khi phải đối diện với thử thách và cám dỗ, ngay cả khi đã sa ngã, ta càng phải cầu xin ơn Chúa để Người hỗ trợ ta trong việc tra xét lại bản thân của ta và trở về với Chúa.

Ta cũng có thể cầu xin những ơn vật chất chính đáng: cơm ăn, áo mặc, sự bình an, sức khỏe, cầu cho gia đình, cho tổ quốc và cho những nhu cầu chính đáng khác của đời sống mình. Tuy nhiên, dù cầu xin, ta vẫn để Thánh ý Chúa thể hiện. Vì sẽ có những ơn không phù hợp với ta, hay có thể gây nguy hiểm cho ta, cho đời sống tâm linh… mà Chúa đã không nhận lời cầu xin. Người có thể cất những ơn này, và ban ơn khác quan trọng và cần thiết hơn cho phần rỗi của ta.

Bởi đó, khi cầu xin, ta cần tin tưởng và phó thác cho tình yêu của Chúa. Không buồn, không thất vọng khi không được Chúa nhận lời. Nhưng hãy luôn luôn cảm tạ Chúa, vì trong tất cả những điều Chúa đã ban hay không ban, đều xuất phát từ tình yêu vô cùng đại lượng của Chúa. Chúng ta hãy ghi nhớ lời thánh Phaolô: “Hãy tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh” (1Tx 5, 18).

6. Nhiệm vụ tự hiến trong việc tuân giữ lề luật

Cùng với tất cả những gì làm nên trách nhiệm sống của người Kitô hữu, nghĩa vụ giữ lề luật được Chúa Kitô coi trọng: “Ai yêu mến Thầy, thì tuân giữ luật Thầy”. Nghĩa vụ tuân giữ lề luật là chấp nhận sự tự hiến lớn không kém gì sự tự hiến trong việc tôn thờ Thiên Chúa. Đúng hơn, khi quay nhìn về Cựu Ước, ta thấy, nhiều lần lề luật Môisen cho biết sự tôn thờ Thiên Chúa cũng đồng nghĩa với việc giữ luật: “Nếu các ngươi tuân giữ lề luật của Ta, thì giữa hết mọi dân tộc, các ngươi sẽ là dân riêng của Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi”. Xưa Thiên Chúa trao cho Môisen mười giới luật. Đến thời Tân Ước, Chúa Kitô bổ túc luật Cựu Ước bằng Tám mối Phúc thật.

Tuy nhiên, sau khi trao ban lề luật để định hướng sống cho đời Kitô hữu của chúng ta, Chúa Kitô đã đúc kết toàn bộ lề luận trong hai điều luật căn bản: mến Chúa, yêu người: “Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn ngươi. Đó là giới luật thứ nhất. Giới luật thứ hai cũng giống như vậy: ngươi hãy yêu thương đồng loại như chính mìnhngươi”.

Chúa Kitô đã từng dạy: “Anh em hãy nên thánh thiện như Cha anh em trên trời là Đấng thánh thiện”. Tự hiến cho Thiên Chúa trong việc tuân giữ lề luật của Người là cách thế tốt nhất để ta được hoàn thiện như Thiên Chúa. Bởi vậy, khi nghiêm chỉnh tuân giữ lề luật của Thiên Chúa, chính là lúc ta vươn tới sự thánh thiện của Người.

(Còn tiếp phần IV)

 

Lm. JB Vũ Xuân Hạnh

 

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)