PHẦN
III
NHIỆM VỤ CỦA MỖI KITÔ HỮU
NHẰM ĐÁP TRẢ TÌNH YÊU TỰ HIẾN
CỦA THIÊN CHÚA
Người
Kitô hữu có hai nhiệm vụ rất rõ rệt: đối với Thiên Chúa
và đối với trần gian. Đúng hơn, họ chỉ có một nhiệm vụ duy
nhất là sống đức mến. Họ biết Thiên Chúa, yêu mến Thiên
Chúa. Họ cũng nhận ra Thiên Chúa biết và yêu mến họ. Chính
vì lòng yêu mến Thiên Chúa, và vì tình yêu mà Thiên Chúa
dành cho họ, họ thi hành nghĩa vụ thờ phượng và phục vụ
anh chị em, phục vụ thế giới. Họ đáp đền ơn nghĩa, đáp đền
tình yêu của Người bằng nhiều cách, được biểu lộ qua hai
hình thức: hiến thân phụng sự Người trong đời sống cầu nguyện;
hiến thân cách cụ thể qua việc phục vụ con người và thế
giới quanh họ.
Để
thực hiện tất cả vai trò tự hiến ấy, họ nhận lãnh ơn Chúa
Thánh Thần mà Chúa Kitô trao ban cho họ. Rồi sau khi tiếp
nhận ơn Chúa Thánh Thần, họ hiệp thông với Thiên Chúa, với
nhau, với Hội Thánh của Người, để trung thành trong nghĩa
vụ tôn thờ và sống lề luật của Thiên Chúa.
1.
Chúa Thánh Thần ngự trong mỗi Kitô hữu
Nếu
Chúa Kitô là hình ảnh tự hiến tròn đầy của Thiên Chúa, thì
Chúa Thánh Thần nơi mỗi Kitô hữu cũng chính là sự tự hiến
không ngơi nghỉ từ thời này qua thời khác của Thiên Chúa.
Vì
Chúa Thánh Thần chính là ơn tự hiến của Thiên Chúa, Người
cũng làm cho mọi Kitô hữu trở thành những con người của
sự tự hiến. “Thánh Thần sẽ ở giữa
các con và ở trong các con” (Ga 14, 17). Lời
hứa này, được Chúa Kitô thực hiện không chỉ chung cho cả
cộng đoàn Hội Thánh mà còn là lời hứa cho riêng mỗi tín
hữu. Chúa Thánh Thần ngự trong mỗi cá nhân, soi sáng để
họ thấu hiểu giáo huấn của Chúa Kitô khi được chính Hội
Thánh trình bày, giáo dục, hướng dẫn, cắt nghĩa… Người tiếp
tục soi sáng từng giây phút của đời người tín hữu , để họ
nhận ra điều thiện, sự thật, nhất là nhận ra thánh ý Thiên
Chúa trong suốt chuỗi ngày sống của họ.
Người
chính là sức mạnh để nâng đỡ ta, hướng dẫn trí tuệ, làm
cho ta kiên định và đầy đủ nghị lực để sống đức tin, sống
lòng yêu mến. Người ban cho ta sức mạnh của sự thiện để
ta khao khát điều lành, xa lánh sự dữ. Người sẽ trợ lực
để ta làm được những việc lớn lao quá sức mình, và làm cách
bền tâm, bền chí sao cho sáng danh Thiên Chúa.
Chúa
Thánh Thần đã ngự trong ta, mã mãi Người vẫn đồng hành cùng
ta. Người biến mỗi cá nhân người Kitô hữu thành đền thờ
của Thiên Chúa. Nhờ tâm hồn đã được thanh tẩy, ta sẽ hạnh
phúc đón nhận cùng với Thánh Thần là Chúa Cha và Chúa Con.
Bởi Chúa Kitô đã từng phán dạy: “Nếu
ai yêu mến Ta, hãy giữ lời Ta, Cha Ta sẽ yêu người đó. Chúng
ta sẽ đến và cư ngụ trong người đó”.
2.
Nhiệm vụ tự hiến của Kitô hữu khi cử hành phụng vụ
Nếu
phụng vụ của Hội Thánh có ba đặc tính: chính
thức (nhân danh
Hội Thánh); cộng đồng (mọi người
hiện diện đều được mời gọi tích cực và chủ động tham gia);
hữu hình (tâm tình được diễn tả bằng
lời và cử chỉ), thì cùng với việc nhận lãnh
ơn Chúa Thánh Thần, từng người Kitô hữu tham gia tôn thờ
Thiên Chúa trong phụng vụ với đầy đủ những đặc tính ấy,
cũng chính là lúc họ sống mầu nhiệm tự hiến. Bởi ở một khía
cạnh, mặc dù họ có nghĩa vụ phải tôn thờ Thiên Chúa, nhưng
nếu nhìn ở mặt khác, khi họ thi hành hoàn hảo nghĩa vụ tôn
thờ của mình, cũng chính là lúc họ tự hiến chính mình dấn
thân vào việc thờ phượng đích thực ấy. Hơn nữa, ngay trong
việc thi hành chức năng tư tế để tôn thờ Thiên Chúa, người
tín hữu làm cho danh Chúa được tôn vinh, được cả sáng và
lôi kéo ơn cứu chuộc của Chúa cho trần gian, đã là một nghĩa
tự hiến lớn lao và tốt đẹp.
Về
phần các Kitô hữu, để có được những tâm tình tự hiến tốt
đẹp trên, họ cần phải chủ động tham dự phụng vụ cách hết
sức tích cực bằng tất cả tâm tình của trái tim, của khối
óc. Họ không được quên rằng, hình thức bên ngoài của phụng
vụ sẽ góp phần tích cực cho tâm tình bên trong, vì thế họ
chăm chú tham dự mỗi tác động của phụng vụ như: cử chỉ,
lời kinh, lời cầu nguyện, việc ca hát, đối đáp… Họ phải
làm cho mỗi cuộc cử hành phụng vụ phải là một hình ảnh sống
động của dân Thiên Chúa.
3.
Nhiệm vụ tự hiến trong ơn hiệp thông cùng Thiên Chúa
Dù
Thiên Chúa, đối với chúng ta, thật là bí nhiệm. Dù vậy,
ta vẫn có thể thông hiểu phần nào mầu nhiệm Thiên Chúa.
Vì Người là sự sống và tình yêu, mà bản chất của sự sống
và tình yêu là luôn luôn đòi phải nhân lên, trao đổi, chia
sẻ, hiến dâng, đón nhận… Vì thế, Người luôn luôn đến với
ta, muốn hiệp thông nơi mỗi con người. Còn ta, dù bàn chân
vẫn phải đạp đất, vẫn không ngớt hướng về trời cao. Trong
sâu thẳm của tâm hồn, ta thấy mình mất bình an khi thiếu
vắng Thiên Chúa, thiếu vắng thực tại thiêng liêng sâu thẳm,
không dễ gì tìm kiếm ở chốn trần gian. Điều đó thật dễ hiểu,
bởi kết thành nên ta đâu phải chỉ có vật chất, mà còn có
cả một thế giới linh thánh nơi tâm hồn mình. Kinh nghiệm
đó được thánh Augustinô diễn tả: “Lòng
con khắc khoải không ngừng, cho đến khi được nghỉ yên trong
Chúa”.
Đã
có sẵn sự trao hiến nơi cung lòng Thiên Chúa và tâm hồn
mở ngỏ của loài người, ơn hiệp thông trong Thiên Chúa của
loài người phải là điều tất yếu. Thiên Chúa tự hiến cho
loài người, cho từng người một; và loài người tự hiến cho
Thiên chúa. Ơn hiệp thông nơi Thiên Chúa và con người hoàn
thiện trong mầu nhiệm tự hiến, thật là ý nghĩa, thật là
tốt đẹp.
Nhưng
trên thực tế, do yếu đuối, do sự dữ thống trị, loài người
có thể cắt đứt sự hiệp thông với Chúa của mình. Vì thế,
sự sống và tình yêu của Thiên Chúa còn đi những buớc đi
dài không thể tả. Bởi để duy trì đến vô cùng mối hiệp thông
với ta, Thiên Chúa đã dùng chính cuộc đời, cái chết, sự
phục sinh của Chúa Con để ta không ngừng được lưu lại trong
Thiên Chúa. từ nay, ai hợp nhất với Chúa Kitô là hợp nhất
với Thiên Chúa.
Điều
còn lại là chính bản thân mỗi người. Ta có đủ thiện chí
để đưa mình đi vào quỹ đạo tình yêu của Thiên Chúa? Cách
duy nhất giúp ta sống trong sự hiệp thông với Thiên Chúa
là: “Căn cứ vào điều này, chúng
ta nhận ra rằng, chúng ta biết Thiên Chúa: đó là chúng ta
tuân giữ các điều răn của Người. Ai nói rằng mình biết Người
mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối,
và sự thật không ở nơi người ấy. Còn hễ ai giữ lời Người
dạy , nơi kẻ ấy, tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn
hảo. Căn cứ vào đó, chúng ta biết được mình đang ở trong
Thiên Chúa. Ai nói rằng, mình ở lại trong Người, thì phải
đi trên con đường Đức Giêsu đã đi” (1Ga 2, 3-6).
Một
trong những khía cạnh của sự tự hiến của ta, đó chính là
ta hiệp thông với Thiên Chúa. Bởi nhờ sự hiệp thông ấy mà
ta sống cho Chúa, chứ không sống cho tội lỗi. Nhờ sự hiệp
thông ấy, ta sống cho Chúa như Chúa sống cho ta. Vậy ta
hãy đứng lên, dứt khoát từ bỏ hết mọi vướng bận cản trở
ta đi về phía Thiên Chúa, để giao hòa với Chúa, để hiệp
thông với Người trong sự tự hiến của ta.
4.
Nhiệm vụ tự hiến sống các nhân đức đối thần
Tin,
cậy, mến là ba thái độ căn bản của con người đối với Thiên
Chúa. Tin cũng là cách giúp ta hiệp thông với Chúa. Nhờ
đức tin của ta, Chúa ngự đến trong ta. Lòng cậy trông giúp
ta nhìn nhận rằng, Thiên Chúa là nguồn mọi ơn lành. Người
hằng thành tín. Người ban cho ta mọi điều Người hứa và làm
thỏa mãn niềm mong chờ hạnh phúc thật của ta. Còn đức mến
là tột đỉnh, là chủ đích, là nguồn mạch nuôi dưỡng đời sống
Kitô giáo.
a.
Đức Tin: Tin là ta nhận biết Thiên Chúa
nhưng chưa trọn vẹn. Dù vậy đức tin vẫn cho ta biết có Thiên
Chúa là đối tượng để ta tin.
Tin
cũng có nghĩa là ta tín nhiệm nơi Thiên Chúa. Sự tín nhiệm
ấy, chính là sự tự hiến của ta. Nó cho phép ta đặt mình
vào tay Thiên Chúa để tùy ý Người dẫn dắt ta. Chúa Kitô
đã từng nói đến hạnh phúc của người tín nhiệm nơi Thiên
Chúa: “Phúc cho ai không thấy
mà tin”.
Tin
cũng chính là ta tự mình gắn bó với Thiên Chúa trong Chúa
Kitô. Đó cũng là một khía cạnh khác của sự tự hiến nơi con
người. Nếu muốn gắn bó với Thiên Chúa, trước hết phải gắn
bó với Chúa Kitô. Có nghĩa là, ta đón nhận Chúa Kitô như
sứ giả của Thiên Chúa, để nơi vị sứ giả này, ta tìm gặp
thánh ý, tìm gặp tình yêu, và tìm gặp chính Thiên Chúa.
Muốn gắn bó với Chúa Kitô để đến cùng Thiên Chúa, ta cần
nhìn lại chính mình, để khám phá ra sự hiện diện, tác động
và ảnh hưởng của Chúa Kitô trong chính cuộc đời ta, trong
những lần ta sa sút và trở lại, trong tất cả những anh em
cùng sống bên ta. Muốn gắn bó với Chúa Kitô, ta không thể
không cầu nguyện. Trong sự cầu nguyện của mình, ta chiêm
ngắm cuộc đời của Chúa Kitô, để khám phá ra cuộc đời của
Người cũng thể hiện nơi cuộc đời của ta trong tất cả mọi
nỗi vui buồn, sướng khổ của đời ta. Muốn gắn bó với Chúa
Kitô, ta thực hành tinh thần của Người: vâng phục, khiêm
nhường, yêu thương, tha thứ, hiền lành, chịu khó vì nhân
loại… và lấy đó làm gương mẫu sống cho chính bản thân ta.
Tin
là một cuộc gặp gỡ giữa con người với Thiên Chúa. Tin vừa
là hồng ân Thiên Chúa ban, vừa là thái độ của con người.
Như vậy, mầu nhiệm tự hiến của cả hai bên được biểu lộ trong
chính đức tin của ta. Vì thế, nơi chính đức tin của con
người, đã là một cuộc gặp gỡ, một cuộc đối thoại giữa Thiên
Chúa và con người. Ở đó, Thiên Chúa tự hiến trong việc cúi
mình xuống để đến với ta. Còn ta, ta cũng tự hiến, để làm
sao cố vươn lên tới Người.
b.
Đức Cậy: Thiên Chúa tự hiến chính mình vì
ta. Ta cậy trông nơi Thiên Chúa, cũng đồng nghĩa với việc
ta chấp nhận sự tự hiến của Người. Lòng cậy trông của ta
chính là lối mở để ơn tự hiến của Thiên Chúa đến và lưu
trú trong tâm hồn ta.
Ta
cậy trông vào Thiên Chúa vì biết rằng, Thiên Chúa nhân lành,
yêu thương ta. “Lòng từ bi của
Chúa còn mãi đến muôn đời”. Người hứa ban những
gì cần thiết để ta hạnh phúc. Đức cậy của ta còn đặt nền
tảng trên lòng thành tín, không thay đổi, luôn chân thật
của Thiên Chúa. Trên hết mọi ý nghĩa, ta cậy trông vào Thiên
Chúa, vì Người không tiếc bất cứ điều gì, ngay cả Người
Con Một quý yêu của Người, Người cũng ban cho ta.
Ta
cậy trông vào Chúa vì chỉ có mình Chúa mới thỏa mãn khát
vọng vô biên của ta. Ta khao khát không cùng, khao khát
nhiều thứ. Nhưng ngoài Thiên Chúa, ta vẫn không thể thỏa
mãn nỗi khát khao. Dù vậy, Thiên Chúa không cấm ta khao
khát những điều cần thiết, nhất là khi ta khao khát ơn phần
rỗi. Người chỉ dạy ta tránh những gì vô bổ, giả dối, đặc
biệt là tội lỗi. Người dạy ta đừng lo lắng quá mức, mà hãy
phó thác cho Người. kinh nghiệm trong cuộc đời cho thấy,
sự xấu và tội lỗi không bao giờ mang lại hạnh phúc, chỉ
gây thêm chán chường, thất vọng. Vì thế, ta hãy lấp đầy
nỗi khao khát bằng chính sự khao khát Thiên Chúa. Vì chỉ
có một mình Thiên Chúa là nguồn bình an, là niềm vui đích
thực. Vì “Phúc cho ai khao khát
công chính, họ sẽ được no thỏa”.
Ta
cậy rông vào Chúa trong mọi thử thách của đời mình. Nhiều
khi ta gặp khó khăn, đau khổ. Đó là thử thách mà ta phải
gánh lấy khi sống trong đời. Thử thách chỉ là tạm thời,
sẽ qua đi. Biết rằng, thử thách là điều tất yếu của đời
người, nhiều khi rất cần để thanh luyện đức tin của ta.
Nó cũng làm cho ta khiêm tốn và trưởng thành hơn. Vì thế,
ta cần giữ vững lòng tin cậy vào Chúa. Nhờ đó, ta có đủ
sức mạnh vượt lên trên mọi thử thách của đời mình.
Nhất
là khi sa ngã, ta đừng đánh mất lòng cậy trông. Bởi sa ngã
không phải là ít trong cuộc đời làm người của ta. Những
lúc ấy, lòng cậy trông sẽ là sức mạnh nâng ta chỗi dậy.
Những lúc thất bại trong cuộc chiến chống sự dữ, điều hay
nhất đó là, ta đừng để mình quay quắt với những lỡ lầm,
nhưng hãy suy nghĩ nhiều hơn về tình yêu tha thứ và sức
mạnh chiến thắng của Thiên Chúa. ta cần biết rằng, trở về
với Chúa không bao giờ là việc làm quá trễ. Bởi bất cứ lúc
nào ta còn kịp nhận ra chính thân phận hèn yếu của mình,
là chính lúc lòng tha thứ của Thiên Chúa đang chờ đợi ta.
Hãy chỗi dậy. Ơn thánh của Chúa sẽ biến đổi ta, và biến
đổi thật kỳ diệu. Người chữa lành mọi thương tật của linh
hồn ta. Thiên Chúa đã không tiếc mình, sẵn sàng tự hiến
chính mình cho ta. Vì lẽ nào, ta còn thất vọng, không đón
nhận sự tự hiến ấy?
c.
Đức Mến: Yêu mến ai là hiến thân cho người
đó. Yêu mến Thiên Chúa, lòng mến ấy dạy ta sống cho Chúa,
tự hiến chính mình để được lớn lên trong tình yêu của Chúa.
Nói cách khác, sống đức mến cũng chính là tự hiến để được
nên một với Chúa, chìm trong chính tình yêu của Người.
Ta
tự hiến cho Chúa trong đức mến, có nghĩa là, ta đặt lòng
yêu mến Thiên Chúa vào vị trí tuyệt đối. Mọi tình yêu khác
phải đặt bên dưới tình yêu này. Lòng mến này không phải
chỉ là tình cảm, nhưng nó phải phát xuất từ chính tâm hồn,
được biểu lộ ra bên ngoài, thấm nhuần từng hành vi, từng
động lực của mọi sinh hoạt trong đời ta.
Đức
mến dẫn ta đến Thiên Chúa. Nó làm cho ta được lôi cuốn về
phía Chúa. Không chỉ cho ta yêu mến Thiên Chúa, mà còn yêu
mến tất cả những gì Thiên Chúa yêu mến, và yêu như Thiên
Chúa yêu mến. Hiểu như thế, ta thấy chính lòng yêu mến đã
là sự tự hiến cao cả.
Nhưng
đức mến đúng nghĩa không dừng lại nơi Thiên Chúa mà đòi
ta phải vươn tới anh chị em, tự hiến chính mình cho anh
chị em vì lòng yêu mến Chúa. Bởi chính sự tự hiến bằng lòng
yêu thương dành cho anh chị em mới là bằng chứng đích thực
của lòng yêu mến Chúa.
5.
Nhiệm vụ tự hiến trong đời sống cầu nguyện
Cầu
nguyện để chúc tụng, cảm tạ, làm hiển vinh danh Chúa, đều
có thể coi là hành động tự hiến của con người dành cho Thiên
Chúa. Những hành động tự hiến đó cần thiết vô cùng, vì nó
cần cho đời sống Kitô hữu của ta. Nó là hơi thở của linh
hồn. Nếu không thường xuyên giao tiếp với Thiên Chúa, thì
đời Kitô hữu của ta sẽ không đứng vững, không nảy nở, nhưng
bị ngạt thở, sẽ không còn sức mạnh và sự sống của Thiên
Chúa trong ta.
Những
tâm tình cần thiết trong khi cầu nguyện là:
–
Chúc tụng và cảm tạ: Chúc tụng Thiên Chúa
là nhìn nhận Người toàn năng, toàn hảo. Người thật tốt đẹp.
Mọi vật do Người tạo dựng cũng tốt đẹp. Người không bao
giờ có sự xấu. Sự xấu cũng không xuất phát từ Thiên Chúa.
Thiên Chúa luôn luôn yêu thương, gìn giữ trong sự quan phòng
tất cả những gì Người đã tạo dựng. Thiên Chúa là sự thánh
thiện, nguồn mọi sự thánh thiện. Người làm lan tỏa sự thánh
thiện nơi thụ tạo của Người. Thiên Chúa là ánh sáng, nguồn
mọi ánh sáng. Người chiếu tỏa ánh sáng cho tất cả những
ai thành tâm tìm Người. Thiên Chúa dù cao cả, nhưng rất
nhân lành, luôn hướng về ta, làm mọi sự vì ta và cho ta.
Ta
cần kết hợp với Chúa Kitô để cảm tạ, chúc tụng Thiên Chúa.
Vì Chúa Kitô đẹp lòng Thiên Chúa. Vì thế, trong Chúa Kitô,
lời chúc tụng, tạ ơn của ta nên xứng đáng hơn. Đặc biệt,
thánh lễ là nơi tốt nhất để ta kết hợp với hy tế của Chúa
Kitô mà chúc tụng, tạ ơn Thiên Chúa. Trong thánh lễ, Chúa
Kitô chúc tụng và cảm tạ Thiên Chúa bằng chính sự chết và
phục sinh của Người. Bởi đó, thánh lễ là đỉnh cao của đời
cầu nguyện.
–
Xin ơn: Khi cầu xin, ta chân thành nhìn
nhận và phơi bày tình trạng con người nghèo hèn thiếu thốn
của ta trước mặt Chúa, xin Chúa dủ thương mà ban những ơn
cần thiết theo thánh ý Người định. Qua việc cầu xin, ta
cũng tỏ bày niềm cậy trông vào lòng yêu thương của Chúa.
Cầu xin là việc làm tốt. Chính Chúa Kitô nhiều lần dạy ta
hãy nhân danh Người mà cầu xin Thiên Chúa những điều tốt
đẹp. Trong lời kinh Lạy Cha, sau khi dạy ta chúc tụng Thiên
Chúa, Người cũng dạy cầu xin nhiều điều cần thiết.
Ta
cần ưu tiên cho lời cầu xin những ơn thiên liêng như xin
đức tin, xin lòng trung thành, xin ơn tha thứ, xin cho được
nên giống Chúa Kitô, và tiến tới sự hoàn thiện như Thiên
Chúa… Nhất là khi phải đối diện với thử thách và cám dỗ,
ngay cả khi đã sa ngã, ta càng phải cầu xin ơn Chúa để Người
hỗ trợ ta trong việc tra xét lại bản thân của ta và trở
về với Chúa.
Ta
cũng có thể cầu xin những ơn vật chất chính đáng: cơm ăn,
áo mặc, sự bình an, sức khỏe, cầu cho gia đình, cho tổ quốc
và cho những nhu cầu chính đáng khác của đời sống mình.
Tuy nhiên, dù cầu xin, ta vẫn để Thánh ý Chúa thể hiện.
Vì sẽ có những ơn không phù hợp với ta, hay có thể gây nguy
hiểm cho ta, cho đời sống tâm linh… mà Chúa đã không nhận
lời cầu xin. Người có thể cất những ơn này, và ban ơn khác
quan trọng và cần thiết hơn cho phần rỗi của ta.
Bởi
đó, khi cầu xin, ta cần tin tưởng và phó thác cho tình yêu
của Chúa. Không buồn, không thất vọng khi không được Chúa
nhận lời. Nhưng hãy luôn luôn cảm tạ Chúa, vì trong tất
cả những điều Chúa đã ban hay không ban, đều xuất phát từ
tình yêu vô cùng đại lượng của Chúa. Chúng ta hãy ghi nhớ
lời thánh Phaolô: “Hãy tạ ơn Chúa
trong mọi hoàn cảnh” (1Tx 5, 18).
6.
Nhiệm vụ tự hiến trong việc tuân giữ lề luật
Cùng
với tất cả những gì làm nên trách nhiệm sống của người Kitô
hữu, nghĩa vụ giữ lề luật được Chúa Kitô coi trọng: “Ai
yêu mến Thầy, thì tuân giữ luật Thầy”. Nghĩa
vụ tuân giữ lề luật là chấp nhận sự tự hiến lớn không kém
gì sự tự hiến trong việc tôn thờ Thiên Chúa. Đúng hơn, khi
quay nhìn về Cựu Ước, ta thấy, nhiều lần lề luật Môisen
cho biết sự tôn thờ Thiên Chúa cũng đồng nghĩa với việc
giữ luật: “Nếu các ngươi tuân
giữ lề luật của Ta, thì giữa hết mọi dân tộc, các ngươi
sẽ là dân riêng của Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi”.
Xưa Thiên Chúa trao cho Môisen mười giới luật. Đến thời
Tân Ước, Chúa Kitô bổ túc luật Cựu Ước bằng Tám mối Phúc
thật.
Tuy
nhiên, sau khi trao ban lề luật để định hướng sống cho đời
Kitô hữu của chúng ta, Chúa Kitô đã đúc kết toàn bộ lề luận
trong hai điều luật căn bản: mến Chúa, yêu người: “Ngươi
hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết
trí khôn ngươi. Đó là giới luật thứ nhất. Giới luật thứ
hai cũng giống như vậy: ngươi hãy yêu thương đồng loại như
chính mìnhngươi”.
Chúa
Kitô đã từng dạy: “Anh em hãy
nên thánh thiện như Cha anh em trên trời là Đấng thánh thiện”.
Tự hiến cho Thiên Chúa trong việc tuân giữ lề luật của Người
là cách thế tốt nhất để ta được hoàn thiện như Thiên Chúa.
Bởi vậy, khi nghiêm chỉnh tuân giữ lề luật của Thiên Chúa,
chính là lúc ta vươn tới sự thánh thiện của Người.
(Còn
tiếp phần IV)