Đức cố giáo hoàng
Gioan Phaolô II trong tông thư Tiến tới thiên niên kỷ thứ
ba, đã hy vọng sẽ có một mùa gặt phong phú trong cánh đồng
truyền giáo tại Á Châu trong thiên niên kỷ này. Nhưng đồng
thời, ngài cũng nói đến những thách đố rất lớn tại lục địa
này, là nơi các tôn giáo lâu đời đã ăn rễ sâu đậm. Còn trong
Tông huấn Giáo Hội tại Á Châu, Đức cố Giáo Hoàng đã phân
tích kỹ lưỡng bối cảnh đầy phức tạp về chính trị, xã hội
tại lục địa này. Hai văn kiện trên nói lên sự quan tâm sâu
xa của ngài về việc truyền giáo tại nơi chúng ta đang sống.
Gần
đây, tháng 12/2005 vừa qua, Đức hồng y Crescensio Sepe,
Bộ Trưởng Bộ Truyền giáo đã đến Việt Nam. Trong các bài
nói chuyện quan trọng của ngài nơi hai Đại Chủng Viện, ngài
đã đề cập về truyền giáo cách đặc biệt, ngài ngỏ lời với
các thầy tại Hà Nội: “hãy có một
trái tim truyền giáo”, và đề cập đầu tiên về
huấn luyện truyền giáo trong bài nói chuyện với các thầy
ở Sai Gòn, “Hãy mở rộng cho những
nhu cầu của Giáo Hội và thế giới, chú ý đến những ai sống
ở xa nhất và nhất là những nhóm anh chị em không Kitô trong
môi trường sinh sống” (Hội Đồng Giám Mục Việt
Nam, Hiệp Thông số 33, Văn phòng Tổng Thư Ký Hội Đồng Giám
Mục, 2006, t. 51).
I.
TỪ THỐNG KÊ
1.
Những con số không vui
Khi
nói đến truyền giáo, người ta đưa ra các thống kê, ví dụ
như năm 1995, tỷ số Công Giáo so với dân số thế giới là
18.26%; năm 1996:16.88%; năm 1997: 16.84%; năm 1998: 17.79%;
năm 1999: 17.30%; năm 2000: 17.28%. Nhìn vào Á Châu con
số còn bi đát hơn với tỷ số là 3% người Công giáo so với
số dân, còn ở Việt Nam, tỷ số vui hơn một chút là 7.94%
(Felipe, Truyền Giáo Học, Antôn & Đuốc Sáng, 2003, t.
24). Nhưng có một điểm chung là các con số trên tính từ
bốn chục năm qua càng ngày càng giảm. Đoàn
chiên càng ngày càng trở nên nhỏ bé. Nó sẽ còn
nhỏ bé tới mức độ nào? Chúng ta đã thấy những cộng đoàn
Kitô hữu tiên khởi mà chúng ta hằng ngày đọc trong Thánh
Kinh chỉ còn có cái tên trên các bài đọc mà thôi! Và ngày
hôm nay, Giáo Hội cũng đang lo lắng kêu gọi giúp đỡ những
cộng đoàn Kitô hữu ở Đất Thánh để họ khỏi biến mất khỏi
nơi phát xuất ra đạo Công Giáo.
Tại
Phú Cường, chúng ta thấy có những bước tiến vui mừng, ví
dụ năm 1999, từ 63 linh mục đã lên tới 117 vào năm 2005
chưa kể 19 thầy được thụ phong linh mục trong tháng 7-2006
này. Tu sĩ từ 207 lên tới 320. Nhưng tỷ số dân Công Giáo
so với dân số không tăng cùng nhịp bước vui mừng đó mà chỉ
nhích lên chút ít, năm 1999 từ 4.83% (Công Giáo: 94,166
/ dân số: 1,948,510) nhích lên 4.91% vào năm 2005 (Công
Giáo: 120,000/ dân số: 2,443,694). Nhưng chúng ta có nghiên
cứu xem sự “nhích lên” này là do công tác truyền giáo hay
là do dân nhập cư, hoặc sinh sản tự nhiên?
Nhất
là còn một số đông những người sắc tộc chưa nhận biết Tin
Mừng (Tòa Giám mục Phú Cường, Kỷ Yếu Giáo Phận Phú Cường
1965-2005, Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2005, t. 36-37; 73), mà
chúng ta chưa thực hiện những quan tâm đúng mức đối với
vùng truyền giáo đầy hứa hẹn này.
2.
Những Con Số Không Phải Là Tất Cả
Những
con số lạnh lùng trên chưa nói hết chuyện. Châu
Âu và Bắc Mỹ có vẻ “Công giáo”, nhưng lại không sống đạo.
Tệ hơn, những xã hội này muốn
loại mọi dấu vết của Kitô giáo ra khỏi sinh hoạt của mình.
Trong dịp ấn hành đồng Euro cách nay ít năm, có ý kiến cho
rằng nét chung của nền văn hóa Âu Châu chính là Kitô giáo,
vì vậy, nên trang trí hình mái vòm nhà thờ trên đồng tiền
mới này, nhưng ý kiến trên đã không được chấp nhận vì chủ
trương thế tục hóa đã quá mạnh. Tại các châu này, số người
vô thần hoặc vô tôn giáo thật ra lớn hơn nhiều, nhất là
số những người sống “như không có Thiên Chúa”.
Đó
không phải là chuyện xa xôi, chưa ảnh hưởng tới Việt Nam.
Khi những khó khăn từ xã hội giảm, vật chất khấm khá hơn,
thì những khó khăn khác lại xuất hiện trong Giáo Hội. Tuy
nhà thờ mới khang trang và thánh lễ vẫn còn đông tín hữu,
nhưng những thanh niên bắt đầu lui dần ra bên ngoài để “xem”
lễ “vọng”. Ở những xứ nhỏ, vấn đề nhân sự bắt đầu khó khăn,
các hội đoàn thưa người, không tổ chức được. Ở cấp giáo
phận, con số dự too, tìm hiểu ơn gọi đang giảm đáng kể,
những giáo xứ kỳ cựu xưa cung cấp nhiều ơn gọi bỗng nhiên
không tìm được người dấn thân nữa, có thể nói những khó
khăn này đến ngay từ trong lòng Giáo Hội khi tiếp xúc với
khuynh hướng tục hóa và nền văn minh hưởng thụ vật chất
đến từ bên ngoài. Ngày xưa, Giáo Hội tại Âu Châu đang hăng
hái ra đi truyền giáo thì “hậu phương” bị tan rã, làm cho
đoàn người ra đi giảm mạnh và mất cả nhuệ khí. Ở Việt Nam,
chúng ta phải làm gì khi sự hăng hái lên đường của các nhà
truyền chưa đủ, thì đã bắt đầu có những nguy cơ suy yếu
lòng đạo nơi nhiều Kitô hữu?
II.
ĐẾN NHỮNG HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI
1.
Việc Đô Thị Hóa và Di Dân
Phát
triển kinh tế luôn kéo theo việc đô thị hóa và di dân từ
những miền quê đổ lên tỉnh, những vùng thu nhập thấp kéo
đến những vùng có thu nhập cao. Hiện tượng này đặt ra nhiều
vấn đề về mọi phương diện trong đó có việc truyền giáo.
Chúng ta nên lưu ý là Kitô giáo bắt đầu ở trong các đô thị:
các tông đồ, nhất là thánh tông đồ Phaolô đã chọn các thành
phố để rao giảng Tin Mừng (Felipe Gomez, Truyền Giáo Học,
Antôn & Đuốc Sáng, 2003, t. 25).
Tại
giáo phận Phú Cường, nhiều giáo xứ đang tràn ngập các nhu
cầu mục vụ cho những người di dân làm ăn hoặc học hành.
Giáo Hội cần chuẩn bị các thừa sai đặc biệt cho các đô thị.
Vô số những người di dân này đang phải sống trong tâm trạng
lo âu và hoang mang, âu lo cho tương lai ở vùng đất mới,
hoang mang vì đã rời xa những lề lối cổ truyền bấy lâu đã
từng giúp họ giữ vững đức tin và ổn định cuộc sống xã hội.
Trong khung cảnh đô thị, họ phải sống cô đơn, vô danh, bơ
vơ về mặt luân lý, dễ bị lôi kéo về đàng xấu, nhưng cũng
dễ mở lòng đến với tôn giáo để có một chỗ nương tựa tinh
thần (Ibid, t. 25). Giáo Hội có thể cung cấp cho họ một
“gia đình” thiêng liêng, một căn tính mới cả tâm lý lẫn
tôn giáo, trong môi trường vô danh nơi các đô thị. Giáo
Hội phải suy nghĩ để tổ chức cộng đoàn sao cho mỗi thành
viên đều được đón tiếp và sống tình thân ái tương trợ.
Một
trong các lý do quan trọng làm xuất hiện các giáo phái là
các thành viên của một cộng đoàn bị chìm lỉm, vô danh giữa
cộng đoàn lớn lao của mình. Không ai quan tâm, không ai
biết đến họ, họ sống cách “vô danh” trong Hội Thánh. Họ
chạy đến các giáo phái vì tìm được nơi đây sự quan tâm chăm
sóc, một tình thân ái tương trợ. Từ kinh nghiêm đau thương
đó, ta mới thấy tình trạng “vô danh” của những người nhập
cư có mối nguy hiểm dường nào! Vì thế, các cộng đoàn cơ
bản có thể đóng góp một vai trò hết sức tích cực trong lãnh
vực mục vụ đô thị ngày mai.
2.
Toàn Cầu Hóa
Hiện
tượng Toàn Cầu Hóa trước tiên mang tính cách kinh tế và
văn hóa, nhưng cũng kéo theo những hệ lụy về tôn giáo. Một
siêu thị có thể bày bán những sản phẩm của khắp nơi trên
thế giới. Trong các tiệm sách, lẫn lộn những tác phẩm nội
ngoại. Trong xã hội, những phong tục tập quán nước ngoài
đang ảnh hưởng, gần đây chúng ta thấy Việt Nam cũng mừng
ngày lễ Tình Yêu, Ngày Hiền Mẫu, Ngày Hiền Phụ v.v…
Trong
lãnh vực tôn giáo, ý niệm về một “siêu thị tôn giáo” đang
hình thành, làm như mỗi người có thể tự chọn lấy tôn giáo
cho mình hoặc tùy nghi pha trộn các yếu tố của các tôn giáo
theo sở thích riêng. Trong cuộc sống chung với các tôn giáo
khác, Kitô giáo phải đương đầu với một thái độ coi mọi giá
trị đều tương đối, tôn giáo nào cũng tốt. Đức Kitô chỉ là
một vị thầy trong những vị thầy khác. Như thế khó có thể
nói về “tôn giáo thật”.
Nếu
phải so sánh, theo con mắt loài người, Kitô giáo và các
Kitô hữu chưa chắc đã xuất sắc hơn các tôn giáo khác và
tín đồ của họ. Để làm thừa sai thời nay, không phải chỉ
cần được đào tạo chu đáo hơn mà thôi, nhưng nhất là còn
phải trở nên thánh thiện hơn.
Mạng
lưới Internet cũng đóng góp thúc đẩy cho hiện tượng toàn
cầu hóa tiến nhanh, và tạo ra một nếp “văn hóa” mới. Thế
giới trở thành một ngôi làng nhỏ. Trước máy vi tính, cả
thế giới hiện ra trước mặt mà không phải di chuyển một chút
nào. Mạng Internet cung cấp vô số những thông tin, liên
lạc, làm ăn, kiến thức, tiêu khiển … cả tốt lẫn xấu. Đức
cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã có những bài nói chuyện
khuyên các mục tử, tín hữu lưu tâm đến lợi ích và tác hại
của Internet và sử dụng phương tiện truyền thông hiện đại
này để truyền bá Tin Mừng.
III.
VÀI ĐỀ NGHỊ CỤ THỂ
Trong
lãnh vực truyền giáo, nhiều nhận xét cho rằng Giáo Hội Việt
Nam chúng ta ảnh hưởng văn hóa làng xã với những sinh hoạt
đóng khung trong lũy tre làng, thiếu hẳn tinh thần mạo hiểm,
vươn ra những chân trời xa rộng, kỳ thú. Có những làng,
xã đã theo đạo lâu năm, sinh hoạt hết sức rầm rộ, bên cạnh
những làng xã khác không biết gì đến Chúa, mà hai bên như
hai thế giới rất xa lạ không bao giờ có liên lạc qua lại.
Nhận
xét khác cho rằng đã từ lâu, về kinh tế chúng ta được trợ
cấp từ các giáo hội, xã hội nước ngoài, nên quen sống tinh
thần đón nhận hơn là cho đi. Việc truyền giáo đòi chúng
ta phải cho đi rất nhiều, trong mọi mặt, không chỉ giới
hạn ở những vùng trong đất nước mà còn phải trao đổi thừa
sai với thế giới bên ngoài, như việc truyền giáo đòi hỏi.
Có
thể chúng ta chỉ muốn yên ổn với những con chiên lành và
ngại phải ra đi vì đòi chúng ta phải hy sinh nhiều hơn,
vất vả hơn mà sự “thu hoạch” còn xa vời. Cũng có thể chúng
ta đã mất hẳn nhuệ khí truyền giáo hoặc nghĩ rằng chỉ cần
làm cho họ sống tốt trong tôn giáo của họ là được rồi! Đã
đến lúc chúng ta phải cởi bỏ những tâm trạng trên mà tập
sống từ bỏ và dấn thân, để mở rộng bờ cõi của Nước Chúa
trong lòng người.
Chúng
ta cần kiểm điểm xem, mình có cố gắng tạo một ra giáo xứ
với tinh thần truyền giáo, mở rộng tâm hồn ra bên ngoài
đến lương dân? Mọi hành động đều bắt nguồn từ ý thức, ý
thức thường bắt nguồn từ giáo dục. Các bài giáo lý, các
bài giảng không thể thiếu khía cạnh truyền giáo, các hội
đoàn cần được huấn luyện để đừng đóng khung trong những
sinh hoạt với những thành viên đạo đức của mình, mà cần
đi đến với lương dân.
Nên
chăng giáo phận có một văn phòng, có những người chuyên
nghiên cứu về ngôn ngữ, phong tục, nếp sống của những người
dân tộc đang chiếm một số lượng lớn trong địa phận để cung
cấp cho những vị thừa sai tại những vùng đặc biệt này.
Nên
chăng giáo phận có phòng trưng bày những nét văn hóa các
sắc tộc cư ngụ trong địa phận để gây ý thức, và thúc đẩy
việc rao giảng Tin Mừng. Trong tinh thần đó, những ngày
lễ lớn của địa phận, những nghi thức rước kiệu, dâng của
lễ không thể thiếu những đoàn người dân tộc, và tiếng cồng
chiêng phải bao trùm hơn tiếng kèn đồng, không những để
mọi người ý thức về bổn phận truyền giáo mà còn giúp những
người anh em dân tộc cảm thấy họ đang ở trong trái tim của
địa phận.
Có
thể nhiều giáo xứ đang làm những công tác mục vụ với những
người di dân rất thành công, nhưng chúng ta đang thiếu một
sự chia sẻ cách khoa học như viết lại những kinh nghiệm
đó trên những trang tài liệu truyền giáo cách hệ thống,
thay vì nói vài lời sau buổi tĩnh tâm để rơi vào quên lãng
và khi một giáo xứ khác tới việc lại phải mò mẫm từ đầu.
Những
lời viết trong kỷ yếu 40 năm thành lập địa phận làm chúng
ta phải suy nghĩ: “Giáo phận Phú
Cường từ ngày thành lập được xác định là giáo phận truyền
giáo. Vì thế vấn đề gây ý thức về bổn phận truyền giáo,
học tập và tổ chức hoạt động truyền giáo luôn được quan
tâm hàng đầu” (Giáo Phận Phú Cường, Kỷ Yếu Giáo
Phận Phú Cường 1965-2005, Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2005, t.
37).
IV.
KẾT LUẬN
Đa
số các vị thừa sai Hội Truyền Giáo Paris đã làm việc tại
Á Đông trong những thập niên trước 1975, nay đã lớn tuổi
và đang ở nhà mẹ, khi được hỏi: Cha mong ước điều gì nhất
trong lúc này? Tuyệt đại đa số đều có câu trả lời giống
nhau là muốn trở lại nơi truyền giáo xưa, và dâng hiến những
gì còn lại của cuộc đời, để cuối cùng được vùi thân trong
mảnh đất truyền giáo, bên những người thân yêu đã được các
ngài rao truyền đức tin. Một câu trả lời hết sức cảm động!
Cái
gì đã làm cho các vị thừa sai yêu quí nơi mà mình đã từng
truyền giáo hơn cả quê hương giầu đẹp, hơn cả những người
ruột thịt của mình? Chắc chắn đó là tâm tình yêu quí của
các con chiên mang tinh thần “tôn sư, trọng đạo” là một
nét văn hóa quý báu của Á Đông. Nhưng nhất là tinh thần
truyền giáo của các vị đã đạt mức tuyệt vời. Các ngài coi
việc loan báo Tin Mừng không chỉ là một nhiệm vụ nhưng là
một sứ mạng, một ơn gọi cao cả. Tinh thần truyền giáo của
các ngài không phải ở ngoài da, nhưng các vị đã có điều
mà Đức Hồng Y Crescencio Sepe nói: “Hãy
có một trái tim truyền giáo”.
Cuộc
đời những vị truyền giáo kết thúc rất khác nhau, có vị phải
hy sinh mạng sống mình vì sứ mạng, có vị bị trục xuất khỏi
đàn chiên hoặc về hưu và chết cô đơn, có vị hạnh phúc nhắm
mắt giữa những tiếng khóc thương của những người con cái
thiêng liêng v.v… Những điều đó không nên làm chúng ta quá
bận tâm, nhưng nên noi gương vị truyền giáo vĩ đại là thánh
Phaolô. Để trong khi rao truyền Tin Mừng, chúng ta có thể
cùng ngài thốt lên: “Khốn cho
tôi, nếu tôi không rao giảng Phúc Âm” và khi
giờ ra đi đã gần, chúng ta có thể an vui như ngài:
“Còn tôi, tôi đã nên như lễ vật dâng tiến; giờ chết của
tôi đã gần. Tôi đã chiến đấu anh dũng, đã chạy hết chặng
đường và đã giữ vững đức tin. Tôi chỉ còn đợi lãnh triều
thiên công chính mà Chúa là Đấng Thẩm Phán công chính đã
sắm sẵn cho tôi”.