Nếu
nhân bản là cái gốc của con người, thì giáo dục nhân bản
là giáo dục để một người hiểu biết bản tính của mình là
người, chứ không phải cây tre, cái ghế…
Nếu
nhân bản là thái độ sống, thái độ nhìn đời, thái độ cư xử
của một người, thì giáo dục nhân bản là giáo dục một bản
tính người có thái độ sống, thái độ nhìn đời, thái độ cư
xử “hợp qui tắc” như mọi người thừa nhận.
Giáo
dục nhân bản còn là giáo dục một người từ lúc chưa ý thức
mình là người, trở thành một bản tính người có nhân cách.
Một
em bé mới sinh ra, nó chưa biết mình là người. Nhưng nó
lớn trong một nhân cách gia đình: cha mẹ tốt, anh chị em
tốt, ông bà tốt thì đứa bé sẽ dễ thừa hưởng những cái tốt.
Em
bé cũng lớn lên trong một nhân cách xã hội: bạn bè, lối
xóm, môi trường xung quanh… tốt hay xấu đều ảnh hưởng trên
đứa bé.
Và
trên hết, đó là một nhân cách giáo dục. Bởi đó không lạ
gì, khi đứa bé đến trường học, điều đầu tiên, khi đón nhận
đứa bé, người ta phải ý thức ngay rằng, nguyên tắc giáo
dục phải là “Tiên học lễ, hậu
học văn”. Những lời nói, những hành động của
cha mẹ, thầy cô, những tư tưởng trong sách vở…, làm cho
đứa bé tiếp thu, hiểu và đọng lại trong suy nghĩ, trong
tiềm thức, đều chạm tới nhân cách của em bé đó.
Một
nhân cách sinh ra từ thủơ thiếu thời như thế, sẽ bám lấy
một con người cho đến khi con người đó trưởng thành, rồi
thành người lớn và theo mãi suốt cả cuộc đời của họ.
Đó
là những gì cần để làm sáng tỏ hai chữ GIÁO DỤC NHÂN BẢN.
Nhưng điều quan trọng mà chúng mình nhắm tới không phải
chỉ là nhân bản mà là nhân bản Kitô giáo.
II.
NHÂN BẢN KITÔ GIÁO:
Nhân
bản Kitô giáo, hay nói cho rõ là học nhân bản theo cái nhìn
của Kitô giáo. Đó là một Kitô giáo nhân bản. Dĩ nhiên Kitô
giáo không chỉ có nhân bản mà còn có siêu nhiên nữa. Không
chỉ có con người mà còn có Thiên Chúa nữa. Tuy nhiên ở đây,
ta chỉ nói đến khía cạnh con người theo giáo huấn của Kitô
giáo.
Điều
ưu tiên trên hết mọi ưu tiên mà Kitô giáo dạy là TÌNH
YÊU: yêu bản
thân và yêu tha nhân.
1.
Yêu bản thân:
Yêu
chính mình là một đòi hỏi căn bản nhất của con người. Sẽ
không tưởng tượng nỗi, nếu một ai đó tuyên bố: “Tôi
không thể yêu mình”. Bởi vì lòng yêu thương
bản thân là một thứ tình yêu sâu xa, một vết khắc sâu trong
bản tính con người. Nếu bản thân mình mà còn không biết
yêu thương, tôn trọng, ngược lại còn ghét bỏ, thì khó mà
nghĩ đến lòng yêu thương tha nhân. Bản thân mình mà còn
không thể yêu thương, nói gì đến tha nhân.
Thánh
Kinh cũng đề cao lòng yêu thương bản thân khi nói: “Hãy
yêu tha nhân như chính mình” (Mt 22, 39). Điều
cần nói ở đây là “yêu như chính
mình”. Khi nói điều này, Chúa Giêsu đương nhiên
chấp nhận tình yêu bản thân. Do đó Người mới lấy nó làm
đối chiếu cho tình yêu tha nhân.
Nhưng
yêu bản thân là yêu như thế nào?
Phải
yêu bản thân một cách có trách nhiệm: Vài thập
niên gần đây, những xáo trộn về đời sống luân lý trong giới
trẻ trở thành vấn đề làm nhức nhối tất cả những ai thành
tâm, thiện chí. Người ta nói đến các quan hệ nam nữ ngoài
hôn nhân, tự tử, nghiện ngập, đồng tính luyến ái, phạm pháp…
nhưng ai dám nói rằng, khi sa vào con đường tự hủy diệt
mình, những người trẻ không còn yêu mình nữa? Họ đang yêu
đấy chứ. Yêu mình thái quá nữa là khác. Chính vì yêu như
vậy, họ tự chìu chuộng mình, chìu chuộng những đòi hỏi của
bản năng, của đam mê, để rồi từ chỗ yêu bản thân, biến họ
trở thành một kẻ bệnh hoạn phạm pháp.
Do
đó điều cần thiết cho tất cả mọi người là phải yêu chính
mình một cách có trách nhiệm. Yêu có trách nhiệm mới có
thể phân biệt đâu là xấu, đâu là tốt.
2.
Yêu tha nhân:
Xét
một nghĩa nào đó, yêu bản thân cách có trách nhiệm cũng
là yêu tha nhân. Vì khi làm khổ mình, sẽ dễ làm khổ lây
đến người khác. Nói cho đúng, yêu mình có trách nhiệm là
bước sơ khởi của tình yêu tha nhân.
Đối
với Thánh Kinh, giáo huấn về lòng yêu thương là đỉnh cao
của mọi giáo huấn. Giáo huấn về lòng yêu thương của Thánh
Kinh lớn cho đến mức có người dám nói rằng, nếu phải tóm
lại nội dung của Thánh Kinh, người ta sẽ chỉ nói đến hai
chữ mà thôi, đó là hai chữ “TÌNH
YÊU”. Nơi đó, tình yêu tha nhân là thước
đo của lòng yêu mến Thiên Chúa. Nói theo ngôn ngữ của môn
Giáo dục nhân bản: nhân bản là phản ánh của mối tương quan
siêu nhân bản. Thánh Kinh mang một chiều sâu về giáo dục
nhân bản, thì cũng mang một chiều cao, rất cao, để khi một
người có nhân bản nhờ hấp thụ nền Giáo dục nhân bản của
Thánh Kinh, người ấy cũng nhận ra một chiều kích thánh thiêng
nơi bản thân mình và giữa những con người.
Nếu
trong Tin Mừng theo thánh Matheo, Chúa Giêsu nói: “Hãy
yêu tha nhân như chính mình”, thì trong Tin
Mừng theo thánh Gioan, tình yêu đó được nâng lên đến mức
tuyệt vời: “Anh em hãy yêu thương
nhau như Thầy yêu thương anh em” (Ga 13, 34).
Yêu như Thầy!!! Tình yêu không còn lấy mình làm đối chiếu
nữa, nhưng là lấy chính THẦY. “Yêu
nhau như Thầy yêu anh em”, nghĩa là anh em cũng
phải hạ mình xuống mà tha thứ, mà phục vụ như Thầy đã hy
sinh đến tột cùng cho anh em, hiến dâng mạng sống vì anh
em.
“Hãy
yêu như Thầy yêu”,
trước hết là ngay trong chính gia đình mình, để không còn
cảnh cha mẹ mắn con là “súc sinh”.
Nếu con cái là súc sinh thì cha mẹ, những người đẻ ra chúng
là gì? Và cũng không còn cảnh con cái đem cha, đem mẹ ra
mà chửi (xin lỗi bạn) – “Đ.M. mày”, điều mà ta vẫn thường
gặp trong cuộc sống quanh mình.
Do
đó nhân bản Kitô giáo đẹp lắm, đẹp đến mức tuyệt hảo. Giáo
dục nhân bản, trước hết phải là giáo dục tình yêu. Nhưng
tình yêu này được đẩy lên rất cao: Có
tấm gương Chúa Giêsu là kiểu mẫu để mọi người soi lòng mình
mà tự vấn chính mình về tình yêu.
III.
NHÂN BẢN TRONG ĐỜI TU:
Kỷ
luật rèn nhân bản. Trong đời sống hằng ngày, nếu để ý, bạn
sẽ nhận ra rất nhiều thứ luật: luật đi đường, luật pháp,
luật lái xe, luật trong công ty, xí nghiệp… Nếu một ngày
nào, tôi và bạn không tự giới hạn bản thân mình, nghĩa là
không có một nguyên tắc, một kỷ luật theo lý tưởng mà mình
sống, hay lý tưởng mà mình đang hướng tới, ngày đó báo hiệu
đời tu xuống dốc.
Những
luật lệ, đúng hơn là những bổn phận mà ta cần phải nghiêm
chỉnh thực hiện hằng ngày đó là: