Ngày
xưa, Ampere, nhà bác học vật lý, điện năng người Pháp đã
từng nói với một nhà văn Pháp: “Người
ta chỉ có thể vỹ đại bằng lời cầu nguyện”. Tôi
hiểu câu nói này của Ampere khi thật sự hiểu rằng, nhờ cầu
nguyện, mình bước vào bầu trời vĩnh hằng, là đoạt lấy sự
khôn ngoan lớn lao vì đã “chọn lựa phần tốt nhất”, điều
mà Chúa Giêsu đã từng nói với Mattha, khi bà lăng xăng với
bao nhiêu công việc bếp núc bộn bề.
Hơn
thế, tôi hiểu rằng, mình “chỉ có thể vỹ đại bằng lời cầu
nguyện”, vì biết rằng, khi cầu nguyện, mình thực sự làm
công việc vĩnh hằng trong thời gian và chu toàn công việc
thời gian trong vĩnh hằng. Như thế, với đời sống cầu nguyện,
tôi quá lời lãi. Không gì có thể sánh nổi với tình trạng
no đầy, thỏa mãn của tôi trong giây phút hiện tại: Tôi có
Chúa vô song!
I.
ƠN HIỆU NGHIỆM CỦA ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN
Thánh
Anphôngsô, thánh Tổ phụ của dòng Chúa Cứu Thế nói: “Ai
biết cầu nguyện sẽ được cứu rỗi, còn ai không cầu nguyện
sẽ hư mất”.
Thánh
Gioan Kim Khẩu còn nói mạnh hơn: “Thiên
Chúa điều khiển thế giới, nhưng cầu nguyện điều khiển Thiên
Chúa”.
Thánh
Gioan Vianney, quan thầy các linh mục chánh xứ cũng khẳng
định không kém: “Tôi biết có một
quyền lực nào đó còn mạnh hơn cả Thiên Chúa. Một người cầu
nguyện làm cho Thiên Chúa phải nói ‘ừ’ khi Ngài đã nói ‘không’”.
Lời khẳng định này nhắc ta nhớ lại câu chuyện phép lạ đầu
tiên tại tiệc cưới ở làng Cana (Ga 2, 1-12). Lúc đó tiệc
cưới không còn rượu, Đức Maria ngỏ lời với Chúa Giêsu:
“Họ hết rượu rồi”. Sau lời cầu xin này của Đức
Mẹ, Chúa đã trả lời “không” với hai lý do: Việc
họ hết rượu “đâu có can hệ gì giữa bà và con” và “Giờ của
con chưa đến”. Nhưng với đức tin và niềm tín
thác trọn vẹn của Đức Maria trong lời cầu nguyện ấy, “buộc”
Chúa phải “đầu hàng”. Đức Mẹ nói với những người giúp việc:
“Người bảo gì, các anh phải làm
theo”. Ngay lập tức phép lạ đã xảy ra sau khi
họ đã vâng theo lệnh của Chúa: “Các
anh đổ đầy nước vào chum đi” và “Bây
giờ các anh hãy múc mà đem cho quản tiệc”. Lạ
lùng quá đỗi, và gây ngỡ ngàng cho mọi người chứng kiến,
nhất là người quản tiệc, bởi “nước đã hóa thành rượu”. Không
chỉ thành rượu, người quản tiệc còn bị khách mời trách cứ:
“Ai ai cũng thết rượu ngon trước,
và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh,
anh đã giữ rượu ngon cho tới mãi bây giờ”.
Với
lời cầu nguyện đầy hiệu lực của Đức Mẹ, Chúa đã làm cho
“không” thành “có”. Người biến lời nói “không” thành hành
động “có”. Như vậy, chúng ta có thể nói quá lời mà không
sợ sai lầm rằng: Nếu ta cầu nguyện
với tất cả lòng chân thành, khiêm nhường, tin tưởng, tín
thác, thì với ơn Chúa, cầu nguyện làm nên phép lạ. Cầu nguyện
lôi kéo ơn Chúa đến cho những ai hướng về Người với lòng
thành. Cầu nguyện là toàn năng bởi sự toàn năng của Thiên
Chúa. Đó cũng là điều mà chính Chúa đã khẳng
định: “Anh em cứ xin thì sẽ được,
cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho”
(Mt 7, 7).
Nhiều
lúc, trong đời và trong ngày, ta bồn chồn, đắn đo, không
biết phải làm gì cho đẹp, cho đầy. Ngay giây phút này, ta
không biết phải làm gì cho hữu ích. Hoặc ngay trong khi
làm việc, trong khi đang suy nghĩ, bất chợt nhớ tới Chúa,
bất chợt nhận thức mình là Kitô hữu, hãy cầu nguyện ngay.
Có thể chỉ là một lời nguyệt tắt (chẳng hạn: Xin cho con
yêu Chúa. Xin cho con ý thức con thuộc về Chúa. Xin Chúa
chúc lành và thánh hóa con. Con xin dâng lên Chúa giờ này,
công việc này, và mọi người thân yêu, mọi người con đang
gặp gỡ… Có rất nhiều những lời nguyệt tắt đại loại như thế).
Hoặc ta cầm trí đọc kinh Lạy Cha, lời cầu nguyện do chính
Chúa Giêsu soạn thảo. Nếu ta thánh hóa chính mình bằng đời
sống cầu nguyện như thế, thì ngay công việc này, thời khắc
này, sự sống này là đẹp nhất, đầy nhất, sung sướng nhất.
Nếu cả một đời ta trung thành làm như thế, thì đời ta là
đời đẹp nhất. Bởi chính nhờ sống cầu nguyện, ta kết hợp
hoàn toàn với Chúa. Đời sống cầu nguyện ấy là vũ khí giúp
ta “điều khiển” Thiên Chúa nại vào tình yêu, nại vào quyền
năng vô cùng của Người và nhờ Người cho phép.
II.
NHỮNG CHỨNG NHÂN CỦA ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN
1.
Tom Philips.
Tôi
không thể nhớ, mình đã đọc đâu đó câu chuyện về người đàn
ông 40 tuổi này. Tom Philips từng là chủ tịch một công ty
lớn của tiểu bang Massachusettes. Ông sở hữu nhiều xe cộ,
nhà cửa sang trọng và có gia đình êm ấm. Nhưng ông không
hiểu tại sao, tận thẳm sâu trong tâm hồn, ông vẫn cảm thấy
thiêu thiếu một cái gì vừa âm ỷ, vừa xuyên suốt, có lúc
như rất mạnh mẽ, như muốn gào thét, muốn nổi loạn.
Nhất
là những chiều hôm vắng lặng, trở về với cõi lòng sau một
ngày căng thẳng bởi áp lực của công việc, ông thấy lòng
mình trống rỗng đến lạ thường. Ông tìm đọc báo, chơi gold…,
nhưng tất cả chẳng những không lấp đầy mà hình như vỡ ra
thêm, trống rỗng thêm. Ông không thể hiểu được nguyên nhân...
Thế
rồi, một ngày kia, ngồi trong một chiếc ô tô sang trọng,
trong một chuyến đi công tác xa, bỗng dưng nhìn thấy những
người công nhân đang sửa đường đi, dù mệt, nhưng sao họ
vẫn vui tươi, vẫn cười đùa thật vô tư. Ông dừng xe ngắm
họ. Bất chợt, từ phía xa, trước mặt ông, ông nghe một người
trong số những công nhân gọi tên Chúa Giêsu. Thế là danh
Giêsu đã ám ảnh ông, đã theo ông suốt chặng đường. Ông bắt
đầu suy tư về thánh danh này.
Đường
càng xa, ông càng gặm nhấm nỗi cô đơn, sự trống trải của
sự giàu sang mà ông đang hưởng. Hóa ra, ông nghèo đến thế.
Chẳng có gì cả ngoài công việc, ngoài sự kính trọng đến
mức xa cách mà nhiều người dành cho ông, nhất là những người
dưới quyền ông, Ngay cả người tài xế đang cùng đồng hành
trên xe với ông, cũng xa cách diệu vợi. Hóa ra cái giàu
sang đã chôn ông trong nấm mồ của sự nghèo khó, nghèo đến
tàn tạ.
Thánh
danh Giêsu tự nhiên trở về giữa cõi cô đơn của lòng ông.
Bất chợt, ông thốt thành lời, khiến người tài xế phải quay
lại nhìn ông: “Chúa Giêsu ơi,
Chúa thương con!” Đơn giản chỉ có thế. Vậy mà
tức khắc, lòng ôn hết xao xuyến. Ông cảm thấy như một huyền
nhiệm lớn lắm đang len lỏi vào hồn ông. Bàn tay của sự huyền
nhiệm ấy dường như đang đưa ra nâng đỡ ông. Ông cảm thấy
bình an hơn, hạnh phúc hơn. Bỗng dưng, ông khám phá ra một
chân lý lớn không thể tả: Lòng ông lạc lỏng là bởi bao nhiêu
năm tháng ông đói Thiên Chúa.
Ông
đưa tay khều người tài xế vẫn còn ngơ ngác sau câu gọi Chúa
để cầu xin tình thương của Người. Ông càng làm cho người
tài xế của ông ngơ ngác hơn, khó hiểu ông hơn khi ông nói
với anh: “Bấy lâu nay tôi đói”. “Dạ?”. Người tài xế thảng
thốt trong tiếng “dạ” đầy ngỡ ngàng. Anh không hiểu gì cả.
Người chủ sang trọng của anh mà đói à? Nếu không như thế,
có lẽ ông chủ phải giải quyết quá nhiều vấn đề, nên đầu
óc trở nên căng thẳng? Tom Philips từ tốn giải thích: “Bấy
lâu nay tôi đói Thiên Chúa!”. Rồi ông thật thà bày tỏ hết
nỗi lòng của ông. Lần đầu tiên ông khóc trước mặt tài xế
của mình. Kể từ ngày ông thành công trên đường đời, đây
là lần đầu tiên ông khóc sướt mướt, mà lại khóc trước mặt
một nhân viên nhỏ bé. Nhưng ông cũng không ngờ rằng, những
giọt nước mắt của buổi trưa hôm ấy cũng làm lay động tâm
hồn của anh tài xế đã nhiều năm không tới nhà thờ, bỏ cả
việc xưng tội, rước lễ...
2.
Charles Colson
Là
một thương gia thành đạt, giàu có. Ông có một văn phòng
cạnh bên Tòa Bạch Ốc, Hoa Kỳ. người ta cho biết, hàng tháng,
lợi tức của ông lên đến hàng triệu đô la. Ông yêu mến nghiệp
chính trị, đến nỗi, có lần ông cáo nộp và giết chết bà nội,
vì bà nội ông thuộc phe nhóm có ý muốn sát hại tổng thống
Nixon.
Cũng
giống như Tom Philips, tuy giàu có, đời sống vật chất luôn
sung túc, thành công trong việc tìm kiếm địa vị, chức quyền…
Nhưng ông vẫn cảm thấy thiếu thốn một cái gì, mà không rõ
nguyên nhân. Tâm hồn ông như luôn có một hố thẳm, ngày càng
khoét sâu thêm do tích lũy những thèm khát chồng chất qua
năm tháng mà ông không lý luận nổi, không thể hiểu nổi…
Rồi
một ngày của tháng 8. 1979, Colson được gặp Tom Philips.
Tom thuật lại cho Colson về tất cả những thao thức, những
trăn trở và cả kinh nghiệm riêng tư quý báu, vì được gặp
Chúa. Tom nói: “Này Colson, tôi
chưa bao giờ bình an và hạnh phúc, cũng như chưa bao giờ
thấy mình phong phú như bây giờ. Điều đó chỉ xảy ra kể từ
khi tôi gặp gỡ Chúa Giêsu. Tôi đã bắt đầu cầu nguyện, cầu
nguyện thật nhiều, cầu nguyện thật hăng say. Thật lạ thường,
lạ thường như phép lạ, mỗi một lần cầu nguyện, tôi thấy
mình như sống thêm, đáng yêu hơn, yêu mãnh liệt hơn, vui
tươi hơn, mạnh mẽ hơn, muốn vươn tới hơn…”
Quá
bất ngờ khi nghe bạn mình chia sẻ, Colson ngơ ngác. Ông
vừa được cuốn hút vào trong kinh nghiệm của Tom Philips,
vừa thấy mình như rơi vào một chân trời hoàn toàn mới lạ.
Câu chuyện tự thuật về kinh nghiệm thiêng liêng của Tom
Philips, đã làm Colson suy nghĩ thật nhiều. Ông lên xe,
mà tâm hồn ông dào dạt một nỗi niềm xao xuyến khó tả. Về
gần tới nhà, lần đầu tiên sau nhiều chục năm, ông gọi thánh
danh Chúa Giêsu thật to: “Giêsu!
Giêsu!” Ông đã làm nhiều người qua lại chưng
hửng bởi tiếng la thất thanh: “Giêsu
ơi, con khốn khổ quá. Con xa Chúa quá. Xin nghe con! Xin
nghe con!…” Rồi không biết nói gì nữa, ông đã
để cho dòng lệ tuôn rơi chan hòa…
Cả
Tòa Bạch Ốc nói riêng và cả nước Mỹ nói chung, từ đó thấy
một Colson hoàn toàn khác. Người ta nói với nhau: “Ông
ấy đã tìm lại đạo rồi”. “Người mà
trước đây đã sẵn sàng giết chết bà nội mình, bây giờ đã
trở lại…” Tờ Los Angeles Times đăng dòng
tít lớn: “Chàng Colson đã
trở lại đạo”. Tờ New York Times cũng báo
tin: “Colson đã tìm lại đạo”…
Cả
hai, Tom Philips và Charles Colson, cho tới nay, vẫn đi
khắp đó đây, truyền rao kinh nghiệm thâm sâu của mình và
minh chứng cho mọi người lời cầu nguyện có sức vạn năng
cứu thoát. Cầu nguyện là phương thế mạnh nhất đánh vỡ tâm
linh chai đá của con người. Nó là cách thế hữu hiệu để Thiên
Chúa thực hiện quyền năng của Người trên con người. Nó là
sức mạnh đem con người đến gần Thiên Chúa và làm cho Thiên
Chúa sống trong lòng con người.
III.
KẾT LUẬN
Hội
Thánh có một thanh niên đã từng ngụp lặn trong tội lỗi,
nhưng anh đã trở lại. Hội Thánh đã trao cho anh chức Giám
mục. Sau khi Giám mục này qua đời, Hội Thánh lại phong thánh
và tặng cho ngài danh hiệu Tiến sĩ của Hội Thánh. Người
thanh niên đó, Đức Giám mục đó, chính là thánh Âugustinô.
Trải
qua không biết bao nhiêu kinh nghiệm xấu xa và tội lỗi,
giờ đây trở về với tình yêu của Chúa, Âugustinô đã cúi mình
thật sâu trước hồng ân và tình yêu lớn lao mà Thiên Chúa
dành cho ngài. Ngài đã trầm lắng suốt đời trong sự khắc
khoải và mê đắm Thiên Chúa. Ngài say Thiên Chúa đến độ thốt
lên: “Lạy Chúa, linh hồn con cứ
mãi ray rứt, cho đến lúc con nghỉ ngơi trong Chúa, con mới
được an lòng”.
Từ
kinh nghiệm của thánh Âugustinô và của nhiều người khác
trong Hội Thánh, chẳng hạn như Tom Philips hay Charles Colson,
ta khám phá ra rằng, thiếu Chúa Kitô trong đời mình, tâm
hồn ta chỉ là một tâm hồn dật dờ, mông lung, đói khát khôn
nguôi, không một đối tượng trần thế nào có thể thỏa mãn
và giải tỏa được. Bởi đói Chúa Kitô, thì chỉ có Chúa Kitô
mới thỏa mãn và giải tỏa mà thôi. Nhưng chỉ có tâm hồn chìm
lắng trong cầu nguyện mới có thể lấp đầy Chúa Kitô nơi mình.
Vì
thế, để cho mình đói Thiên Chúa là một khổ não tận cùng,
một thiếu thốn mà không còn có gì thiếu thốn hơn. Hãy nhớ
rằng, đời sống cầu nguyện có một uy thế lớn đối với Chúa.
Cầu nguyện làm cho Người hạ giáng để được sinh ra và lớn
lên trong tâm hồn ta. Nói mạnh hơn, cầu
nguyện là sự “điều khiển” Thiên Chúa, nhờ quyền năng và
tình yêu của Người.
Người
ta, bạn bè, mọi người quanh tôi đã và đang ở và làm việc
nơi này nơi khác. Họ đạt được nhiều thành quả, lợi lộc,
tiếng tăm… Còn tôi, nhờ biết sống đời sống cầu nguyện, tôi
đoạt được vĩnh hằng trong đời tạm; tôi cảm thức được bình
an và hạnh phúc trong từng nhịp sống của đời mình. Như thế,
tôi biết rằng, tôi đã chọn phần tốt nhất, không ai có thể
đánh đổi vĩnh cửu, bình an và hạnh phúc này của tôi. Đó
là chính Thiên Chúa, Đấng vô cùng, và mãi mãi không có cùng
trong tôi. Và tôi thấy cái hữu hạn của đời mình, nhờ cầu
nguyện, lại được nối dài vào vô biên, nghĩa là được sống
trong chính sự sống của Thiên Chúa, có chính Chúa làm gia
nghiệp đời tôi.