| |
Tỉnh
thức
GIỮA NHỮNG NGUY HIỂM
LIÊN TỤC XẢY ĐẾN
(Trích
tài liệu tĩnh tâm linh mục tháng 12.2006
của giáo phận Phú Cường)
1.
Sống là chờ đợi. Bởi thời gian sống của đời người cũng là
thời gian chờ đợi. Chờ đợi từ những điều nhỏ nhặt nhất đến
những điều trực tiếp liên tới quan vận mạng vĩnh cửu của
mỗi người. Có những sự chờ đợi trong mệt mỏi, có những sự
chờ đợi mà lòng đầy háo hức, hy vọng…
Đời
thường, ta vẫn cứ chờ đợi: chờ một cái hẹn được thực hiện,
chờ một thiết bị đang sữa chữa, chờ một trận cầu. Người
mẹ tần tảo nuôi con chờ một ngày con thành tài, thành nhân.
Người chồng đi xa, chờ ngày hoàn thành công tác để được
sum họp gia đình…
Đời
sống đức tin, ta lại càng chờ đợi. Đó là sự chờ đợi những
điều tốt đẹp mà đức tin mách bảo: niềm an ủi thiêng liêng
khi gặp trắc trở, ơn Chúa để được thánh thiện, được hạnh
phúc ngày sau trong cuộc đời bất diệt…
Sự
chờ đợi nào, dù vui tươi hay mệt mỏi đều có ý nghĩa: Cho
ta sống trong hy vọng. Dù niềm hy vọng ấy có khi mong manh,
đó vẫn là hy vọng, vẫn cần thiết cho cuộc đời làm người.
Chính nhờ hy vọng trong sự chờ đợi, ta biết làm mọi cách
để gìn giữ và phát triển niềm hy vọng đó, cho nó vươn tới
hiện thực. Cách riêng, đối với niềm hy vọng sống vĩnh cửu,
chúng ta càng ra sức bảo vệ nó bằng cả một cuộc đời gắn
bó với Chúa Kitô, sống trong Chúa Kitô và sống như Chúa
Kitô.
Chúa
Kitô đúc kết cách thức bảo vệ niềm hy vọng vĩnh cửu, một
niềm hy vọng lớn không thể tả của đời người trong một bài
học ngắn gọn và súc tích không thể tả: “Hãy
tỉnh thức”.
Vì
tỉnh thức luôn là chân lý cần thiết vô cùng cho những ai
chờ đợi. Chờ đợi niềm hy vọng vĩnh cửu, lại càng đòi hỏi
người Kitô hữu phải tỉnh thức. Tỉnh thức luôn luôn, tỉnh
thức không lúc nào dừng để không rơi vào bóng tối của tội,
là cách tốt nhất bảo vệ niềm hy vọng vĩnh cửu.
Hôm
nay, một lần nữa, bước vào mùa Vọng, Hội Thánh lặp lại chính
bài học “tỉnh thức” mà Chúa Kitô đã dạy để nhắc nhở ta bảo
vệ đời vĩnh cửu của mình. Tôi nhìn thấy bài học tỉnh thức
này ở nhiều khía cạnh của đời sống xã hội và tôn giáo, đời
sống cá nhân và tập thể, đời sống tinh thần và vật chất,
có khi phân biệt, nhưng cũng có khi đan xen vào nhau. Xin
kể ra vài nguy hiểm đang đe dọa, buộc chúng ta phải sống
tỉnh thức.
2.
Thông tin thời sự từ khắp nơi trên thế giới liên tục cho
ta biết những nguy hiểm rình rập đe dọa cả thế giới. Chẳng
hạn bất ngờ có những thiên tai như động đất, bão lũ, hạn
hán, lỡ đất, lỡ núi, trượt bùn… giết chết cùng một lúc,
ít thì cũng là vài chục người, nhiều cũng có đến từ vài
ngàn người đến vài trăm ngàn người.
Thời
gian gần đây những căn bệnh lạ, cũng như chẳng còn lạ, nhưng
nguy hiểm như bệnh sác, cúm gia cầm, HIV/AIDS, ung thư…
cứ tiếp tục giết chết không biết bao nhiêu người. Các loại
bệnh nguy hiểm ấy không có chiều hướng giảm sút, ngược lại
còn có vẻ như phát triển mạnh hơn.
Những
tệ nạn xã hội cũng có chiều hướng gia tăng, nếu không muốn
nói là tăng mạnh như: tham ô, hối lộ, trộm cướp, ma túy,
mại dâm, các loại cờ bạc, dị đoan, ngừa thai, phá thai,
đồng tính luyến ái, nhất là tìm hưởng thụ trên thân xác
con người. Chính tất cả những tệ nạn ấy đã khiến con người
khinh thường tư cách làm vợ chồng, làm cha mẹ khi hai người
đến với nhau chỉ để thỏa mãn dục tính mà không kể đến sự
tổn thương của hôn nhân đúng nghĩa. Sự khinh thường ấy,
kéo đến những thảm trạng kinh khủng khác như: nuôi con nuôi,
ly dị, trẻ em mồ côi cha mẹ trong khi cha mẹ còn sống, trẻ
em lang thang, bụi đời, lạm dụng quyền trẻ em trong các
vấn đề về tính dục, lao động, chiến trường…
Những
tội ác rùng rợn như: phá hủy môi trường cách vô tội vạ,
khủng bố, thù hận, kỳ thị, gieo chiến tranh, buôn người,
đánh bom tự sát, nổi loạn phá hoại an ninh… là những nguy
hiểm vô cùng, gây mất bình an lớn không chỉ nơi cuộc sống,
nơi mạng sống mà còn nơi tinh thần vì phải luôn sống trong
thắp thỏm lo sợ, cảnh giác, nghi ngờ…
Óc
hưởng thụ, óc bè phái, chủ nghĩa cá nhân cùng với những
quan niệm về tự do sai lạc dẫn đến sự tìm cách tự giải thoát
mình khỏi những ràng buộc đạo đức, chà đạp nhân phẩm của
mọi người… đang lan rộng vào tâm thức con người, kể cả những
kẻ có nhiệm vụ bảo vệ đạo đức. Chẳng hạn môi trường giáo
dục, lẽ ra phải sống nêu gương, cũng bị lây nhiễm. Lây nhiễm
đến nỗi gần như phá sản tư cách đạo đức, thậm chí phá sản
nền giáo dục và cả nền đạo đức của nhiều thế hệ từ người
nhân danh giáo dục, nhân danh việc truyền kiến thức đến
người thụ nhận (chẳng hạn các cơ quan, các nhân vật lãnh
đạo ngành giáo dục, thầy cô giáo, và học trò)…
Lương
tâm người thời đại xuống cấp trầm trọng đến mức đáng lo
ngại. Bởi chính sự xuống cấp của lương tâm, đã gây ra không
biết bao nhiêu quan niệm về những cái bình thường trở thành
không bình thường, những cái bất thường trở thành bình thường.
Chẳng
hạn, chiếm đoạt của cải, bóc lột sức lao động là điều bất
thường, nhưng hiện nay rất nhiều người vẫn sống ung dung
nhờ sự cướp của và cướp sức ấy.
Chẳng
hạn, xúc phạm thân thể của người khác không những là điều
bất thường, mà còn là điều không bao giờ được phép, lại
trở nên bình thường trong các nhà tù, trong những cuộc điều
tra của những kẻ có thẩm quyền, thậm chí dùng những hình
thức tra tấn để bức cung.
Chẳng
hạn, nạn ăn hối lộ, ăn cắp của công, là điều xấu, là tai
hại, làm nghiêng cán cân công lý, làm đảo ngược chân lý
và làm khổ sở vô cùng cho những người nghèo, người không
quyền lực…, lẽ ra bất thường, lại cứ nhan nhãn, hầu như
bình thường.
Không
thể kể hết những đảo ngược của những điều bình thường và
bất thường. Sự đảo ngược đó đem lại một số giá trị vật chất,
một số lợi nhuận cho một số người, nhưng lại là sự tàn nhẫn
vì làm cho nhiều người khốn đốn, thậm chí đau khổ; làm cho
cả xã hội bị tha hóa; làm băng hoại đạo đức và bôi đen nền
văn hóa thời đại; làm cho niềm tin giữa người với người
vốn quý giá và cần thiết bị tổn thương, nặng hơn, đã dần
dà biến mất…
3.
Từ những chứng minh thực tế về những nguy hiểm liên tục
xảy đến, gây nên nhiều cái chết về đời sống vật chất và
tinh thần, đòi chúng ta càng phải tỉnh thức hơn bao giờ
hết. Đó chính là sự khôn ngoan của ta. Đó chính là sứ điệp
khẩn cấp trong mùa Vọng buộc ta phải nắm lấy.
Trong
khi nhắc lại bài học “Hãy
tỉnh thức” của Chúa Giêsu, mùa Vọng
hướng ta về sự sống vĩnh cửu, để ta biết rằng, chờ đợi để
đạt tới niềm hy vọng vĩnh cửu không bao giờ là sự chờ đợi
suông, nhưng luôn luôn có phần cộng tác của ta bằng thái
độ tỉnh thức.
Nhất
là các linh mục, hơn ai hết, luôn luôn là những nhà rao
truyền bài học tỉnh thức. Chẳng những rao truyền, mà còn
là những nhà rao truyền lành nghề, thuần thục. Các linh
mục không chỉ dạy người ta tỉnh thức mà còn dạy hãy tỉnh
thức luôn luôn. Các ngài dạy người ta cả một đời tỉnh thức.
Tóm
lại các linh mục nói rất hay về bài học tỉnh thức. Các linh
mục đã thuộc lòng đến nỗi như đã từng gài sẵn bộ nhớ, để
cứ cần nói đến tỉnh thức, là “bộ nhớ” lập tức tuôn ra trên
môi miệng…
Và
hôm nay, khi mùa Vọng lại về. Như một điệp khúc muôn thuở,
trên môi miệng các linh mục, đã từng dạy người ta tỉnh thức,
lại càng là dịp để các ngài tiếp tục và nhấn mạnh bài học
tỉnh thức này. Bởi mùa Vọng mang ý nghĩa chờ đợi, mang niềm
hy vọng cánh chung. Vì thế, trong khi chờ đợi, bài học tỉnh
thức phải được đề cao. Đó là việc làm đúng. Rất hợp lý.
Nhưng
bài học tỉnh thức, đâu chỉ để linh mục rao truyền mà không
có gì ảnh hưởng trên chính cuộc đời linh mục! Trước khi
là người rao giảng tỉnh thức, các linh mục hãy là người
tỉnh thức. Hơn nữa, các ngài hãy là người của sự tỉnh thức.
Là người tỉnh thức, các linh mục chuẩn bị cho cuộc trình
diện của mình trước mặt Chúa trong ngày rời trần gian. Là
người của sự tỉnh thức, linh mục sẽ là mẫu mực, là tiêu
chuẩn, là ánh sáng để anh chị em của mình nhìn vào mà học
đòi bắt chước. Như vậy, là chuẩn mực về sự tỉnh thức, cùng
với lời dạy của chính mình, linh mục có khả năng đưa anh
chị em đến điểm cuối cùng mà sự tỉnh thức vươn tới: đó là
được sống trong Chúa, sống trong tình yêu vĩnh cửu của Người.
4.
Vậy, tôi thử gợi một vài việc đạo đức để chúng ta thực hành
bài học tỉnh thức trong mùa Vọng nói riêng và trong sự chờ
đợi niềm hy vọng vĩnh cửu suốt cuộc sống gian trần nói chung:
-
Ta
thành tâm nhìn nhận mình thật mong manh, yếu đuối, cuộc
sống này chỉ là tạm bợ, đầy giới hạn. Từ đó ta khiêm tốn
hơn, sống có nhân, có nghĩa hơn.
-
Ta
luôn sống trong tâm tình tạ ơn Chúa vì Người luôn tìm
mọi cách, mọi biến cố, mọi hoàn cảnh, mọi người anh em
xung quanh… để thức tỉnh ta, đưa ta về sống gắn bó với
Người.
-
Ta
tin vào tình yêu của Chúa, thực tâm nhìn nhận tội lỗi
của mình, xin Chúa tha thứ. Đồng thời đừng để lương tâm
rơi vào sự chai cứng, tàn nhẫn, gây đau khổ cho anh chị
em quanh mình.
-
Một
ý thức cần phải có luôn luôn, đó là ý thức rằng ta có
thể chết bất cứ lúc nào. Những nguy hiểm giết hại ta có
thể xảy đến bất cứ lúc nào. Ý thức như thế, không phải
để hoang mang, nhưng giúp ta bình tỉnh đón nhận thánh
ý Chúa, đón nhận những hoàn cảnh lắm khi bất trắc, mà
Chúa muốn ta phải đương đầu.
-
Biết
rằng, mọi nguy hiểm có thể đổ ập trên mình, ta sẽ bền
vững trong đời sống cầu nguyện để được ở với Chúa, để
có Chúa đồng hành trong cuộc đời với ta.
-
Biết
rằng, có quá nhiều những nguy hiểm bất ngờ ập đến, ta
luôn luôn sống tâm tình ăn năn thống hối, luôn sống tâm
tình tạ lỗi với Chúa và ý thức mình có nhiều vướng mắc
với anh chị em, nhờ đó, ta có thể giữ tâm hồn thanh sạch
hết sức.
-
Ta
cũng không quên bổn phận san sẻ những mất mát, những khổ
đau của anh chị em, và tận lực tận tình giúp đỡ họ, khi
họ bị những hiểm nguy đe dọa, hay những hiểm họa đó đã
thực sự xảy đến gây đau thương mất mát.
Một
vài gợi ý nhỏ nhặt bên trên giúp chúng ta sống tâm tình
mùa Vọng, mùa Vọng của năm 2006 và mùa Vọng của cuộc đời
mình đang khi tiến về vĩnh cửu, chắc chưa phải là tất cả
của một đời sống đạo đức. Nhưng đó cũng là những điểm cần
thiết cho sự thức tỉnh của bản thân mình.
5.
Hãy tỉnh thức! Càng có nhiều đe dọa về đức tin, về đạo đức,
về tinh thần, về an ninh đời sống bao nhiêu, ta càng được
mời gọi hãy tỉnh thức bấy nhiêu.
Nếu
chờ đợi, phải tỉnh thức, thì giữa trăm mối lo về những nguy
hiểm có thể xảy đến, càng phải khiến ta ý thức hơn, khiến
ta phải sống cách chắc chắn và hiệu quả hơn bài học tỉnh
thức. Bởi nếu chờ đợi mà không tỉnh thức, không phải là
chờ đợi. Chính vì thế mà có khi ta lại thấy chờ đợi là tỉnh
thức. Tỉnh thức để chờ. Đúng hơn, muốn chờ, phải tỉnh thức.
Là
linh mục, người rao giảng niềm hy vọng hạnh phúc vĩnh cửu
và rao giảng cách tài tình về sự tỉnh thức nhằm giúp anh
chị em mình đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu ấy, các ngài hãy
nhìn vào mọi biến cố, mọi đe dọa, mọi dấu chỉ thời đại liên
tục xảy đến mà đắm mình trong sự tỉnh thức liên tục, suốt
đời.
Qua
từng biến cố, từng sự kiện của đời sống, dù to hay nhỏ,
các linh mục hãy khôn ngoan suy niệm và đọc ra trong mỗi
biến cố, mỗi sự kiện, thánh ý Thiên Chúa đang nói gì với
mình, đang nói gì với toàn dân Chúa, đang nói gì với cả
thế giới này?
Tin
rằng, mọi biến cố của đời thường dù có bất ngờ ập đến, bất
ngờ đến đâu đi nữa, đối với mọi Kitô hữu nói chung, mỗi
anh em linh mục nói riêng, vẫn không bao giờ là sự bất ngờ.
Bởi ta đã tỉnh thức từ lâu. Bây giờ vẫn đang tỉnh thức…
Ai tỉnh thức, sẽ không bao giờ có sự bất ngờ. Mà đối với
người luôn tỉnh thức như thế, niềm hy vọng hạnh phúc đời
đời đã nắm phần chắc trong tay.
Hãy
nhớ rằng, nếu sống là chờ đợi, thì sống hướng về vĩnh cửu
là một sự chờ đợi gây không ít mỏi mòn, làm nhiều người
lạc lối. Để cho sự chờ đợi của ta trên đường về vĩnh cửu
luôn luôn đúng, luôn luôn hợp ý Chúa, ta hãy thực hành bài
học tỉnh thức suốt đời như Chúa dạy và Hội Thánh mời gọi.
VẤN
TÂM
Tỉnh
thức và cầu nguyện là hai chiều kích thánh thiêng bổ sung
cho nhau nơi một tâm hồn biết để Chúa chiếm ngự, nơi một
tâm hồn thực sự là tâm hồn Kitô hữu. Nói tỉnh thức và cầu
nguyện là hai chiều kích thánh thiêng bổ sung cho nhau,
là bởi:
1.
Tỉnh thức giúp ta cảnh giác thói hư tật xấu, cảnh giác tội
lỗi, không để những cái xấu thế trần ảnh hưởng, hoặc làm
mất đi sự thánh thiện trong tâm hồn tín hữu. Nói
cách khác, sống tinh thần tỉnh thức là biết ăn năn thống
hối, biết dọn tâm hồn bằng một đời sống nhân đức để Chúa
có thể chiếm ngự tâm hồn, và tâm hồn thuộc về Chúa hoàn
toàn.
2.
Cầu nguyện là phương thế tốt nhất để gắn kết phàm trần với
thiêng liêng, gắn kết con người với Thiên Chúa.
Vì thế, chỉ cần ta ham thích cầu nguyện, thì tự bản thân
của việc cầu nguyện đã đưa ta về phía Chúa, đã là cách ta
mở đường để Chúa đến chiếm ngự hồn ta. Cầu nguyện là ta
đi tìm Thiên Chúa, để bắt gặp chính Người là Đấng hằng đợi
chờ, tìm kiến ta. Bởi con người, cái phàm trần yếu đuối,
đã có thể tìm gặp Thiên Chúa, Đấng Thánh tuyệt đối, từ ngàn
xưa đã đi tìm loài người. Nhờ thế, cái phàm trần yếu đuối
nơi loài người càng được thánh hóa, càng vững mạnh, càng
được củng cố, càng lãnh nhận nguồn ơn tuyệt hảo là chính
Chúa, sức mạnh vô cùng cho loài người.
Hiểu
được sự cần thiết của việc chờ đợi niềm hy vọng cánh chung,
gắn liền với tỉnh thức và cầu nguyện, tôi đã sống thế nào,
đã chuẩn bị gì cho hành trang trong ngày rời trần thế của
tôi?
Mùa
Vọng lại về, tôi đã có những chuẩn bị cần thiết nào để sống
mùa Vọng? Hay cũng như bao nhiêu mùa Vọng đi qua trong đời
tôi, chẳng có một quyết tâm nào, chẳng thêm một nhân đức
nào, chẳng thay đổi gì về lối sống, về não trạng, về cách
làm việc… sao cho xứng với ơn Chúa?
Tôi
đã thực sự noi gương sống tỉnh thức và cầu nguyện cho những
anh chị em mà Chúa và Hội Thánh trao cho tôi, để gieo ý
thức trong lòng họ nhằm lôi cuốn họ về phía Chúa, và đánh
động lòng họ, giúp họ hoán cải đời sống chưa?
Mùa
Vọng không dừng lại ở một tháng (chẳng
hạn tháng 12),
nhưng là cả một đời để sống mùa Vọng, sống ơn chờ đợi Chúa
đến. Hơn
ai hết, chúng ta, những linh mục của Chúa hãy tỉnh thức
và cầu nguyện để luôn sẵn sàng trong sự chờ đợi ngày Chúa
đến. Hơn bao giờ hết, giữa trăm mối nguy hiểm bất ngờ ập
đến, chúng ta, những linh mục của Chúa càng phải là những
tuần canh nhạy bén, trước là cho chính mình, sau là cho
mọi anh chị em thuộc về mình để tất cả cùng sống mầu nhiệm
mùa Vọng trong suốt cuộc đời bằng sự tỉnh thức và cầu nguyện
không ngơi nghỉ.
Lm.
JB NGUYỄN MINH HÙNG - Lm. JB Vũ Xuân Hạnh (chuyển
đăng)
|
|