-Trang chính Home
-TC đồng hành
-TC không coi
|
Gương chứng nhân của Sr. Minh Nguyệt
4 tháng 1-2013
THIÊN CHÚA KHÔNG COI THƯỜNG LỜI KHẤN NGUYỆN CỦA KẺ MỒ CÔI!


... Con tên là Edwin Paucar Huamán. Con chào đời ngày 20-5-1990 tại Cuzco ở miền Nam nước Perù. Con rất thích môn thể thao nhưng thích nhất là nghề nấu bếp. Con là một người trẻ thuộc giai cấp xã hội vô cùng khiêm hạ nhưng với thiện chí lớn lao là ước muốn luôn luôn cải tiến để sống tốt lành hơn.
Ba Má con thuộc vùng thượng Condigliero của Cuzco nơi mà quanh năm suốt tháng phải chịu cái lạnh cắt da xé thịt. Con trải qua thời thơ ấu trong cái lạnh thể xác này, nhưng nhất là cái lạnh trong trái tim. Bởi lẽ cả Ba lẫn Má con đều chết trong một tai nạn lưu thông. Từ đó con sống kiếp mồ côi của một đứa trẻ nghèo thật nghèo. Con gởi gấm tình yêu vào cảnh cô đơn và không bao giờ được hồng phúc nếm hưởng thế nào là tình yêu của một người cha dành cho đứa con trai.
Tên thứ hai của con Paucar là tên của một loài chim nhỏ có bộ lông vàng óng ánh. Ngày còn nhỏ con thường nghe kể rằng khi nào chim Paucar cất tiếng hót thì đó là lời chúc mừng vì nó loan báo tin vui:
- Tin có thư và tin có khách đến thăm!
Chính vì lý do này mà chim Paucar luôn luôn làm tổ trên những cành cây cao nhất. Nhưng con, con lại là một con chim nhỏ không có tổ!
Người nhận nuôi con là một phụ nữ vừa nghiện rượu vừa nghèo. Bà không có tiền cho con ăn đủ no và cống hiến cho con một gia đình tan nát trong đó con trải qua thời thơ ấu buồn thảm. Gia đình nghèo này chỉ có vài con bò cái và giao cho con nhiệm vụ chăn bò. Năm con lên 7 tuổi họ gởi con đi học nơi trường làng. Con học được hai năm thì năm lên 9 tuổi con bị một con bò cái húc làm gãy chân phải. Thế là con bị mất một năm học. Năm sau con tiếp tục học cho đến 13 tuổi thì con kết thúc chương trình tiểu học.
Năm 2004 con bắt đầu chương trình trung học. Sau ba năm vì các xung khắc trong gia đình, con phải bỏ trường công và ghi danh vào trường tư. Để có tiền trả học phí, con vừa đi học vừa đi làm. Có những ngày con đến trường với cái bụng đói meo vì không có gì để ăn sáng.
Con còn nhớ như in vào cái thời khốn khổ này, con thường bị phạt quỳ trong nhà vệ sinh của trường vì đến lớp trễ. Vào một trong những lần bị phạt quì như thế, con vừa khóc vừa cầu xin với Chúa:
- Con muốn trở thành người nấu bếp để nấu cho người nghèo ăn!
Năm 2008 con kết thúc chương trình trung học. Bấy giờ con tự nhủ:
- Mình phải học nghề nấu bếp, nhưng mình lại không có tiền, làm thế nào đây? Thôi thì mình phải kiếm việc làm trước rồi để dành tiền và sau đó thì học nghề làm bếp.
Một hôm, qua đài phát thanh con nghe người ta tìm kiếm thợ làm việc cho một mỏ vàng nằm trong rừng già của nước Peru. Con liền đến và xin việc làm. Đó là năm 2009. Nhưng việc làm quá khổ mà đồng lương thì chết đói do nạn bóc lột của đám chủ vô nhân. Sau khi để dành được một ít tiền con liền trở về Cuzco. Với số tiền dành dụm con mua được một con bò tơ. Con thầm nghĩ con sẽ nuôi bò rồi bán lấy tiền để có thể học nghề làm bếp.
Cho đến một ngày, một người bạn cho con biết là Phong Trào Các Thừa Sai Tôi Tớ Người Nghèo tìm người làm các công việc đồng áng. Ngay ngày hôm sau con thức dậy thật sớm để đến xin việc làm với một âu lo nặng trĩu trong trái tim:
- Không biết người ta có nhận mình hay không?
Trái với lo sợ của con, con được tiếp đón nồng hậu và được nhận ngay vào công việc. Nơi đồng ruộng vào lúc giữa trưa, con học biết đọc Kinh Truyền Tin. Mỗi tuần một lần con được đi học giáo lý. Rồi vì biết rằng con chưa được rửa tội, người ta lại chuẩn bị cho con được lãnh bí tích Rửa Tội.
Ngày 20-5-2010, ngày sinh nhật thứ 20 của con, con sung sướng mừng sinh nhật trong Phong Trào Các Thừa Sai Tôi Tớ Người Nghèo. Đầu tháng 11 cùng năm con được hồng phúc lãnh ba tích Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể.
Trước đó, vào tháng 7 con đã thực hiện được giấc mơ thầm kín nhất là được chấp nhận chuyển từ công việc đồng áng sang việc làm nơi nhà bếp. Thật là ân huệ nhưng không đến từ THIÊN CHÚA Từ Nhân!
Giờ đây con cảm thấy lòng mình tràn ngập tâm tình tri ân vì được ở trong Nhà của Các Thừa Sai Tôi Tớ Người Nghèo Thế Giới Thứ Ba. Từ một đứa trẻ mồ côi nghèo nàn khốn khổ, con được hồng phúc gặp gỡ THIÊN CHÚA trong Các Linh Mục và Tu Sĩ. Các vị yêu thương con như một đứa con.
... ”THIÊN CHÚA không vị nể mà làm hại kẻ nghèo hèn, nhưng nghe lời kêu xin của người bị áp bức. THIÊN CHÚA không coi thường lời khấn nguyện của kẻ mồ côi, hay tiếng than van của người góa bụa. Nước mắt góa phụ lại không giàn giụa trên gò má, và tiếng bà kêu lại chẳng cáo tội kẻ làm bà phải khóc sao? Lời nguyện của người nghèo vượt ngàn mây thẳm. Lời nguyện chưa tới đích, họ chưa an lòng. Họ sẽ không rời đi bao lâu Đấng Tối Cao chưa đoái nhìn, chưa xét xử cho người chính trực và thi hành công lý” (Huấn Ca 35,13-18).
(”Missionari Servi dei Poveri (MSP) del Terzo Mondo”, Opus Christi Salvatoris Mundi, Anno 25, 2o Quadrimestre 2012, trang 12-15)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
THIÊN CHÚA LÀ ĐẤNG KHÔNG VỊ NỂ AI! (29-12-2012)


... Xét cho cùng, THIÊN CHÚA đã tôn trọng các đam mê, các dấn thân và các giá trị của tôi. Chúa đã giao hòa chúng, soi sáng chúng và làm cho chúng ổn định. Trong thời sinh viên, tôi lao mình vào các phong trào chính trị thuộc phái tả, cực tả, đi theo một ý thức hệ cộng sản. Chúng tôi hăng say tham gia các hoạt động nhằm giảm thiểu dân số, tuyên truyền một lối sống giản dị, gần gũi thiên nhiên, không mảy may lo đến tiền bạc!
Xuất thân từ một gia đình vô thần, tôi có một nhãn quan về Đức Tin và về Giáo Hội Công Giáo một cách khá .. cố định! Tôi cho rằng các Kitô-hữu tìm lánh nạn trong các xác tín của họ vì họ sợ cái chết, sợ bất hạnh. Như thế thì sự kiện quá rõ ràng, chả có gì để tìm hiểu hoặc bàn thảo thêm!
Mãi cho đến một ngày, trong chuyến xe buýt từ Lituani trở về Pháp, tôi gặp và làm quen với một đan sĩ trẻ mặc áo dòng bằng vải len thô. Đây là lần đầu tiên tôi trông thấy một người mặc tu phục như thế. Chúng tôi trao đổi tư tưởng và tôi phải thành thật thú nhận: vị đan sĩ trẻ tuổi đã kích thích tính tò mò của tôi. Cả hai chúng tôi đều lưu tâm đến cùng một lối sống, cùng yêu mến sự thuần khiết, thích gần gũi thiên nhiên và coi trọng tình huynh đệ. Vị đan sĩ mời tôi đến thăm Cộng Đoàn của thầy tại vương quốc Bỉ.
6 tháng sau, tôi khám phá ra ”Tibériade” giống như một tiểu quốc thiên đàng. Tại đây các nam nữ đan sĩ sống trên mảnh đất do chính các vị canh tác trồng trọt, sống trong các căn nhà do chính các vị xây cất bằng đá và bằng gỗ. Các vị phân phối thời giờ sống giữa lao công và kinh nguyện. Tôi tham dự các giờ kinh và các buổi cử hành phụng vụ như khán thính giả nhưng cảm thấy lòng thật xúc động. Vốn tính đa nghi, tôi tìm cách đặt nghìn câu hỏi, không phải chỉ với một tu sĩ, nhưng với nhiều tu sĩ khác nhau - riêng biệt từng vị một - với dụng ý kiểm chứng xem đây có phải là một giáo phái không.
Tôi đặt câu hỏi:
- Tại sao các vị tin nơi THIÊN CHÚA và làm thế nào để biết rằng đó là thật?
Mỗi vị có một câu trả lời khác nhau, rất hợp lý, và rất cá biệt. Như thế, tôi thấy rõ mình không đứng trước một nhóm Kitô-hữu thuộc loại giáo điều và thiển cận như tôi lầm tưởng.
Kể từ ngày đó - năm 2005 - mở rộng trước mặt tôi một con đường: chậm rãi, tiệm tiến và được soi sáng mỗi ngày một thêm mãi nhờ các sách báo tôn giáo mà các đan sĩ khuyên tôi nên đọc. Nhưng tôi vẫn chưa thấy tại sao lại phải vội vã thay đổi mọi chuyện. Và khi các tu huynh hỏi tôi về vấn đề bí tích rửa tội thì tôi tìm cách tảng lờ đi để khỏi phải trả lời. Bởi vì nếu muốn lãnh bí tích rửa tội thì tôi phải dừng lại nơi một giáo xứ trong vòng hai năm liền để theo một khóa học giáo lý dành cho dự tòng, và đây là điều tôi không muốn làm. Đúng ra là tôi sợ hãi.
Mãi cho đến một ngày, các đan sĩ mời tôi đến sống với các vị nơi một Cộng Đoàn bên nước Congo thuộc lục địa Phi Châu. Lý do là vì tại đây người ta cần một giáo sư Pháp ngữ. Tôi chấp nhận và hân hoan trả lời:
- Phải rồi, tôi sẽ đi Congo và sẽ chuẩn bị lãnh bí tích rửa tội!
Ngày hôm nay, từ Congo trở về Pháp, cuộc sống của tôi được thống nhất và thật hòa điệu. Tôi dấn thân trong một huynh đoàn Parvis. Tôi sống nơi căn nhà thuê tại khu ngoại ô của thành phố Lille ở miền Bắc nước Pháp. Tại đây chúng tôi làm chứng cho sự hiện diện của Đức Chúa GIÊSU KITÔ và của Giáo Hội Công Giáo trong một môi trường thật giản dị có số đông là tín đồ hồi giáo. Tôi làm nghề thợ mộc. Cuộc sống của tôi được dệt nên bởi các mối quan hệ thân hữu, hòa hợp và thật trầm lắng, không gây tiếng động ồn ào. Muôn vàn cảm tạ hồng ân Đức Tin đến từ THIÊN CHÚA là CHA nhân lành, từ ái vô biên!
(Chứng từ của anh Yann Fillebeen 27 tuổi).
... ”THIÊN CHÚA là Đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử. Vậy nếu anh em gọi Người là CHA, thì anh em hãy đem lòng kính sợ mà sống cuộc đời lữ khách này. Anh em hãy biết rằng không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại. Nhưng anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Chiên Con vẹn toàn, vô tỳ tích là Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Người là Đấng THIÊN CHÚA đã biết từ trước, khi vũ trụ chưa được dựng nên, và Người đã xuất hiện vì anh em trong thời cuối cùng này. Nhờ Người, anh em tin vào THIÊN CHÚA, Đấng đã cho Người sống lại từ cõi chết, và ban cho Người được vinh hiển, để anh em đặt niềm tin và hy vọng vào THIÊN CHÚA” (1Phêrô 1,17-21).
(”Prier”, l'aventure spirituelle, No 342, Juin 2012, trang 7)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
- Vietvatican.net
|
|