THÁNH GIUSE
người
công chính
I.
DẪN NHẬP:
Theo
thuật ngữ Kinh Thánh, từ công chính chỉ dùng riêng để nói về
Thiên Chúa: “Chỉ mình Thiên Chúa là
Đấng khôn ngoan thượng trí” (Rm 16,27); nhưng con
người cũng có thể được gọi là công chính và được công chính
hóa (x. ICr 1,30), nhờ làm theo Thánh Ý của Người. Vậy, trước
khi đi vào đề tài, xin giới thiệu đôi nét về thuật ngữ này.
II.
CÔNG CHÍNH:
1.
Thiên Chúa công chính
Thiên
Chúa công chính, vì Người thánh thiện và tốt lành từ bản chất,
Người luôn trung thành với giao ước và giữ trọn lời hứa. - Đức
Giêsu Kitô là Đấng công chính, vì Ngài không có tội gì hết,
đến mức cả viên đội trưởng trước tòa Philatô cũng phải cất tiếng
tôn vinh: “Quả thật, ông này là người
công chính” (Lc 23,47), Ngài lại là Đấng cứu độ
con người và làm cho con người trở nên công chính hóa (x. Cv
13,38; Rm 3,24; ICr 1,30). Ngài trung thành với Thiên Chúa một
cách tuyệt đối, Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng
lòng chịu chết, chết trên cây thập tự (x. Pl 2,8).
2.
Con người cũng có thể trở nên công chính
Người
công chính là người trung thành với Thiên Chúa và luôn sống
đẹp lòng Người (x. Lc 1,6), là người luôn thực thi Thánh Ý Chúa,
người biết việc này phải làm và việc kia không được làm (x.
Mt 3,15). Cũng như trong tám mối phúc (x. Mt 5, 3-19): người
công chính là người chính trực, hiền lành, hoàn hảo… có quan
hệ tốt với Thiên Chúa vì tuân theo Thánh Ý Người (x. Mt 5,20),
không như nhóm kinh sư (x. 5,21-48), hay như nhóm pharisiêu
(x. Mt 6,1-18), mà là đức công chính của người môn đệ Chúa (x.
Mt 6,19-7,20), sống như Lời Chúa dạy để trở nên người môn đệ
đích thực (x. Mt 7,21-27).
3.
Thánh Giuse, Đấng công chính (Mt
1,19)
Nhiều
người cho rằng: “Ông Giuse đã đính
hôn với Bà Maria rồi (x. Mt 1,18),
nhưng khi thấy vợ mình mang thai thì lại định tâm bỏ trốn, vì
biết rằng chủ nhân của bào thai đó không phải của mình (x.
Mt 1,19); hành động ấy không quân tử chút nào sao lại
khen ông là người công chính?”. Theo lời giải thích
của Cha Giáo Tanila Hoàng Đắc Ánh, OP: “Thánh
Giuse cư xử như vậy mới thật là công chính”:
Cha
Giáo nhấn mạnh: “Lý do thứ ba mới
thật là đáng nói”. Với những giải thích nêu trên,
cũng khá đủ để chứng minh rằng: Thánh Giuse là người công chính
như Kinh Thánh đã khen tặng. Chưa kể đến những việc làm trong
suốt cuộc đời của Ngài, hằng luôn vâng theo Thánh Ý Thiên Chúa
(x. Mt 1,18-25; 2,13-23; Lc 2,1-7.22). Vâng, Thánh Giuse là
một người công chính. Ngài chỉ luôn ao ước sống công chính trước
mặt Thiên Chúa. Vì thế mà Ngài đã quyết định không muốn tố giác
Đức Maria và cũng không định tâm bỏ Bà cách kín đáo nữa, để
tránh tối đa điều sẽ làm cho Đức Maria phải đau khổ.
III.
GƯƠNG CÔNG CHÍNH CỦA THÁNH GIUSE ĐƯỢC THỂ HIỆN RÕ NÉT NƠI CÁC
NHÂN ĐỨC CỦA NGƯỜI:
Kinh
Thánh nói rất ít về cuộc đời và sự nghiệp của Thánh Giuse, nhưng
chỉ cần thế thôi, cũng đủ để chúng ta nhận ra các nhân đức trong
con người và đời sống của Ngài. Xin nêu lên một vài nhân đức
tiêu biểu như:
1.
Đức khiêm nhường
Thánh
Giuse là một người rất khiêm nhường: Ngài thừa nhận vị trí của
Ngài với sự kính trọng đối với Đức Maria và Chúa Giêsu. Ngài
biết Ngài thua kém các Đấng trong bậc thang ân sủng. Dù vậy
Ngài vẫn chấp nhận vai trò vị hôn thê của Đức Maria và người
canh phòng Con Thiên Chúa. Đó là nhân đức giúp ta nhận thức
và hành xử trong tương quan liên hệ của chúng ta, đối với Thiên
Chúa và với tha nhân. Nhân đức này còn là bài học giúp chúng
ta không cho mình là tốt hơn hoặc vượt hơn những gì là thực
tại của mình, vì đó là tính kiêu ngạo; đồng thời, cũng giúp
chúng ta không đánh giá thấp chính mình, hoặc từ chối những
gì mình có mà cho rằng mình kém hơn, vì đó là sự khiêm nhường
giả hình. Sách nhân đức dạy rằng: “Một
người khiêm nhường không cho mình hơn những gì mình có, nhưng
cũng không tự nghĩ mình kém hơn những điều mình có”.
Khiêm nhường đúng đắn sẽ là một nhân đức, nó thừa nhận sự lệ
thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa. Và theo luật luân lý, nó nhìn
nhận sự bình đẳng mình cũng chỉ là một loài thụ tạo đối với
các loài thụ tạo khác; có chăng mình cao cấp hơn một số loài
thụ tạo khác, thì đó là một đặc ân Chúa ban và phải biết tạ
ơn Người. Khiêm nhường không chỉ đối lập với kiêu căng, nó còn
đối lập với sự hạ thấp chính mình thái quá, tức là không nhìn
nhận những ân huệ Chúa ban và sử dụng chúng theo như ý muốn
của Chúa.
2.
Đức vâng lời
Đức
vâng lời của Thánh Giuse bao phủ lên mọi khía cạnh trong cuộc
đời của Ngài. Ngài vâng lời khi nhận kết hôn với Đức Trinh Nữ
Maria. Ngài vâng lời đón nhận Đức Maria về nhà mình, mặc dù
đã biết Bà mang thai. Ngài vâng lời để Đức Maria cuốn gói đến
nhà Bà Isave hàng ba tháng trời. Ngài vâng lời đi Bêlem để kê
khai nguyên quán cùng với Đức Maria và đã chấp nhận cảnh đời
nghèo hèn khi phải chọn hang bò lừa làm nơi sinh Chúa Hài Nhi.
Ngài đã vâng lời khi đem Chúa Giêsu và Mẹ Người trốn sang Aicập
giữa đêm đông lạnh giá. Ngài đã vâng lời khi đem Chúa Hài Nhi
lên Giêrusalem dâng hiến theo như Luật dạy, và chấp nhận Thánh
Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa khi lạc mất con, phải tìm kiếm khổ
sở suốt ba đêm ngày. Chúng ta học được gì nơi nhân đức vâng
lời của Ngài? Thưa, vâng lời chính là một minh chứng tình yêu
của Thánh nhân đối với Thiên Chúa. Và Thánh Ý của Thiên Chúa
cũng là cách thức và là cơ hội Chúa dùng để thử thách mỗi người
chúng ta. Chúng ta có bổn phận chứng tỏ tình yêu của mình đối
với Chúa, bằng sự vâng lời, tín thác và hy sinh. “Tình
yêu mà không có hy sinh là tình yêu giả dối”; cũng
vậy, “nơi nào không có vâng lời thì
ở nơi đó không có tình yêu. Nơi nào càng yêu nhiều, thì càng
vâng lời nhiều”.
3.
Đức yêu thương
Thánh
Giuse có nhiều nhân đức đáng ca ngợi và noi giương, Ngài đáng
được noi gương bắt chước, đặc biệt về tình yêu mến của Ngài
đối với Đức Giêsu và Mẹ Maria đã đành. Nhưng Ngài còn đáng được
ca ngợi và noi gương ở đời sống lao động và làm việc cần mẫn,
cho tình yêu và vì tình yêu. Bí mật của tình yêu đích thực cũng
chính là ở chỗ đó. Trong nhân đức này, Thánh Giuse cho chúng
ta nhận ra sự quan phòng của Thiên Chúa trong tất cả mọi công
việc bổn phận hàng ngày, tùy theo bậc sống của mỗi người chúng
ta. Vâng, Thiên Chúa không muốn hành động một cách đơn độc.
Để biến đổi cuộc đời mỗi người chúng ta, Người muốn sử dụng
lòng nhiệt tâm, nhiệt tình của con người nhân loại như một công
cụ làm máng chuyển ơn thánh của Người. Qua
đức yêu thương, khiêm tốn và chính trực của Thánh Giuse, chúng
ta có thể nhận ra rằng mỗi người đều có một vai trò riêng trong
kế hoạch của Thiên Chúa, và cách thế duy nhất để chu toàn trọng
trách ấy là không ngừng điều chỉnh cách nghĩ, lời nói cũng như
hành động của mình cho phù hợp với đường lối của Thiên Chúa.
4.
Đức khiết tịnh
Chúng
ta vẫn tin rằng, Thánh Giuse là người suốt cuộc đời thanh tịnh
hiến dâng. Truyền thống của Giáo Hội xưa nay vẫn tin và dạy
rằng: Sở dĩ Thánh Giuse giữ mình như vậy, là vì Ngài luôn thi
hành Thánh Ý Thiên Chúa, bảo vệ danh giá của Mẹ Maria và gìn
giữ phẩm giá của Con Mẹ, người Con mà Ngài biết rõ là được sinh
ra bởi quyền phép của Thiên Chúa, mà Ngài có trách nhiệm dưỡng
dục. Đối với chúng ta, chúng ta có thể thực hành nhân đức này
được không? Thưa, tuy khó thực hiện hơn các nhân đức khác, nhưng
mỗi người chúng ta đều có thể thực thi. Vì nhân
đức khiết tịnh là nhân đức giúp con người tiết chế ước muốn
khoái lạc dục tình theo các nguyên tắc Đức Tin. Với
những người đã kết hôn, đức khiết tịnh giúp tiết chế sự thèm
muốn không thích hợp cho đời sống vợ chồng. Với những người
chưa kết hôn, đức khiết tịnh giúp kìm giữ sự thèm muốn làm điều
dâm ô tục tĩu, ảnh hưởng xấu đến luân lý. Với những ai quyết
định sống bậc tu trì, đức khiết tịnh giúp ước ao được thánh
hiến hoàn toàn.
5.
Đức khôn ngoan
Tuy
Phúc Âm không ghi lại lời nào của Thánh Giuse. Nhưng hành động
và việc làm của Ngài đã nói lên rất nhiều điều, vì “đức
khôn ngoan được chứng minh bằng hành động” (x. Mt
11,19). Chúng ta nhận thấy Ngài hành động hoàn toàn là điều
khôn ngoan, kể cả trong sự im lặng. Trong nhân đức khôn ngoan
có ẩn chứa một đời sống âm thầm cầu nguyện. Ngài cũng thường
xuyên cầu nguyện bằng đời sống vừa chiêm niệm vừa hoạt động:
khi chiêm niệm, Ngài cầu nguyện trong thinh lặng; khi hoạt động,
Ngài cầu nguyện bằng chính những công việc bổn phận hằng ngày.
Dù là chiêm niệm hay hoạt động, Ngài luôn cầu nguyện bên Chúa
Giêsu và Mẹ Maria với hết tâm tình, sức lực và trí khôn của
Ngài. Qua nhân đức này, Thánh Giuse dạy chúng ta rằng: khôn
ngoan chính là biết nhận thức đúng đắn về những việc phải làm
hoặc những việc cần phải tránh. Kinh Thánh dạy rằng: “người
khôn ngoan là người biết tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công
chính của Người” (Mt 6,33; xem thêm I Côrintô và
II Côrintô). Còn Sách luân lý thì dạy rằng: Đức
khôn ngoan là một nhân đức bản trụ, thuộc về trí tuệ, nhờ đó
con người nhận ra đâu là điều tốt phải làm và đâu là điều xấu
cần phải tránh. Sự khôn ngoan có thể nhận được trực
tiếp nhờ ơn sủng Chúa ban, nhưng cũng có thể huấn luyện và nâng
cấp bằng thực hành trí tuệ của riêng mình. Vì thế đức khôn ngoan
được coi là tự nhiên khi được phát triển bằng nỗ lực riêng và
cũng được gọi là ơn siêu nhiên, vì do Thiên Chúa ban để thực
thi chương trình cứu độ của Người.
IV.
THAY LỜI KẾT- THÁNH GIUSE TRONG LÒNG NGƯỜI KITÔ HỮU:
1.
Noi gương và cầu xin
Thánh
Giuse hẳn nhiên đáng cho mọi người Kitô hữu học hỏi và kêu cầu
Ngài nguyện giúp cầu thay cho chúng ta trước tòa Thiên Chúa.
Thánh Giuse, vốn là người luôn thực thi Thánh Ý Chúa một cách
tức khắc và chu toàn. Ước gì, mỗi người Kitô hữu chúng ta, đặc
biệt là những người cha trong gia đình, luôn biết hướng nhìn
lên Thánh nhân như một mẫu gương tin yêu phó thác và hy sinh,
đặc biệt là bổn phận bảo vệ gia đình và giáo dục con cái. Như
việc Ngài cộng tác thực thi kế hoạch cứu độ của Chúa một cách
nhạy bén, trong sáng, khôn ngoan, kín đáo, khiêm tốn và khó
nghèo. Mong sao, mỗi người Kitô hữu
chúng ta cũng có một lương tâm trong sáng và nhạy bén, luôn
biết chú tâm đón nhận ý Chúa trong mọi hoàn cảnh; nhờ đó, chúng
ta được ơn Chúa hướng dẫn để có thể vượt qua mọi khó khăn và
thử thách trong đời sống thường ngày. Vì trong đời
sống của chúng ta, thường khi gặp những lúc khó khăn, thử thách,
nhất là cuộc sống giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái hoặc giữa
những tương quan liên đới của ta với người khác. Ước chi mỗi
người chúng ta cũng có những quyết định tự quyết khi có những
vấn đề quan trọng trong lắng nghe và cầu nguyện, để ý muốn của
chúng ta luôn hợp với ý muốn của Thiên Chúa.
2.
Những ngày lễ kính
Lễ
Thánh Giuse - Bạn trăm năm Đức Maria (19-03, Lễ trọng):
Chỉ có Phúc Âm thánh Máthêu và thánh Luca mới nói về Thánh Giuse.
Theo hai Thánh Sử, Thánh Giuse thuộc chi tộc Đavít: người được
xem như dây liên hệ giữa dòng dõi Đavít với Đấng Mêsia. Những
chặng đường đời của Thánh Giuse cho chúng ta thấy rõ: Thánh
nhân là con người của niềm tin và phó thác, một người được chia
sẻ để hiểu biết Mầu Nhiệm của Thiên Chúa. Thánh nhân là con
người thinh lặng, ít nói nhưng cần cù lao động. Như được Thiên
Chúa chọn làm Bạn Trăm Năm của Đức Trinh Nữ Maria; Ngài cũng
được trao phó cho việc chăm sóc Con Thiên Chúa, như một người
cha. Thánh nhân sống bao lâu, chúng ta không rõ mấy. Kinh Thánh
cho chúng ta thấy lần cuối cùng Ngài xuất hiện tại Giêrusalem,
khi trẻ Giêsu lên 12 tuổi. Giáo Hội Phương Tây chính thức tôn
kính Thánh Giuse vào khoảng thế kỷ 14,15. Trong phụng vụ Rôma,
thánh lễ này bắt đầu được cử hành vào năm 1621. Đức Thánh Cha
Piô XI đã công bố: Thánh Giuse là quan thầy của cả Hội Thánh.
Lễ
Thánh Giuse Thợ - Bổn mạng của những người lao động (01-05,
Lễ trọng): Chính Đức Thánh Cha Piô XII đã xác định
lễ Thánh Giuse Thợ vào ngày 01-05; đó cũng là ngày toàn thế
giới mừng ngày Quốc Tế Lao Động. Trong ngày này, Thánh Giuse
được tôn kính như một mẫu gương lao động để mọi người noi theo.
Điều này cũng nói lên ý thức và giá trị lao động của con người
trong cuộc sống trần thế. Thánh Giuse đã lao động bằng chính
đôi tay và sức lực của mình để phục vụ lương thực và nhu cầu
sống cho gia đình Thánh Gia. Lao động ngày hôm nay khác với
ngày xưa, nhưng cũng có cùng một ý nghĩa khi con người sử dụng
thân xác và trí óc của mình để lao động, họ thể hiện chính cuộc
sống ý nghĩa và đích thực của mình để phát triển nhân vị và
làm cho cuộc sống đó có giá trị ở giữa trần gian. Hơn ai hết,
người Ktô hữu lại cần phải có ý thức về đời sống lao động chân
chính của mình, mọi công việc và thành quả của lao động đều
phải qui hướng về Thiên Chúa.
3.
Cầu nguyện
Lạy
Thiên Chúa là Cha toàn năng, Cha đã giao phó Mẹ Maria và Đức
Giêsu cho Thánh Giuse, và Thánh nhân đã trung thành chu toàn
sứ mệnh của mình để cộng tác vào công trình cứu độ nhân loại
của Cha. - Xin nhậm lời Thánh nhân cầu thay nguyện giúp, cho
Hội Thánh biết luôn luôn cộng tác với Đức Giêsu để hoàn tất
công trình Cha đã khởi sự. Chúng con cầu xin… Lạy Thiên Chúa
tạo thành trời đất. Cha đã muốn cho con người lao động để tiếp
tục công trình của Cha. - Xin nhậm lời Thánh Giuse chuyển cầu,
cho chúng con biết noi gương Ngài để lại, mà chu toàn nhiệm
vụ Cha đã giao phó, hầu sau này được hưởng niềm vui Cha đã hứa
cho những ai trung thành với Thánh Ý Cha. Chúng con cầu xin…