Tin giáo hội theo Vietvatican.net
12- 2008
Đức Thánh Cha đề cao Tuyên Ngôn quốc tế nhân quyền
VATICAN.10-12-2008 ĐTC Biển Đức 16 đề cao Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của LHQ như một điểm tham chiếu rất quí giá cho cuộc đối thoại liên văn hóa về tự do và các quyền của con người.
Ngày bày tỏ lập trường trên đây vào cuối buổi hòa nhạc chiều ngày thứ tư, 10-12-2008 tại Đại thính đường Phaolô 6 ở Nội thành Vatican, trước sự hiện diện của tổng thống Italia, Ông Giorgio Napoletano, thủ lãnh Hội hiệp sĩ Malta, các vị HY và TGM lãnh đạo các cơ quan trung ương Tòa Thánh, ngoại giao đoàn, và đông đảo quan khách đạo đời.
ĐTC đặc biệt cám ơn Ngân Quỹ Thánh Mathêu tưởng niệm ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận đã tổ chức buổi hòa nhạc này, cùng với buổi trao tặng các giải thưởng mang tên Đức Cố HY. Nhắc đến Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền, ĐTC cũng khẳng định rằng: ”Phẩm giá của mỗi người chỉ thực sự được bảo đảm khi tất cả các quyền căn bản của con người được nhìn nhận, bảo vệ và thăng tiến. Giáo Hội vẫn luôn lập lại rằng các quyền căn bản là một sự kiện phổ quát, vì nó hiện diện nơi chính bản chất con người, tuy nó được diễn tả theo thể thức và được đặt nặng khác nhau trong các bối cảnh văn hóa khác biệt. Luật luân lý tự nhiên được Thiên Chúa ghi khắc trong lương tâm con người, là một danh xưng chung cho tất cả mọi người và mọi dân tộc; đó là người hướng đạo phổ quát mà tất cả đều có thể nhận ra và dựa theo đó, tất cả có thể cảm thông với nhau. Vì thế, xét cho cùng, các quyền của con người có căn cội nơi Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, Đấng ban cho mỗi người trí thông minh và tự do. Nếu tách rời khỏi nền tảng luân lý vững chắc ấy, thì các quyền con người sẽ mong manh vì thiếu nền móng vững chắc”.
ĐTC nhận xét rằng việc kỷ niệm 60 năm Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền là cơ hội để kiểm điểm xem các lý tưởng đã được phần lớn cộng đồng các dân nước chấp nhận hồi năm 1948 đã được tôn trọng thế nào trong luật pháp của các quốc gia, và hơn nữa, trong lương tâm của các cá nhân và tập thể. Chắc chắn, một đoạn đường dài đã được trải qua, nhưng con đường phải đi vẫn còn dài: hằng trăm triệu anh chị em chúng ta vẫn còn bị đe dọa trong các quyền sống, tự do, an ninh của họ; sự bình đẳng giữa mọi người cũng như phẩm giá của mỗi người không luôn luôn được tôn trọng, trong khi các hàng rào mới đang được dựng lên vì những lý do chủng tộc, tôn giáo, chính kiến và các xác tín khác. Ước gì sẽ không chấm dứt những dấn thân chung để thăng tiến, hay đúng hơn là xác định các quyền con người, đồng thời gia tăng nỗ lực để bảo đảm sự tôn trọng các quyền con người”.
Buổi hòa nhạc mà ĐTC và mọi người tham dự là phần thứ hai trong chương trình buổi lễ do Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình, và Ngân Quỹ Thánh Mathêu tưởng niệm ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận tổ chức để kỷ niệm 60 năm công bố Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của LHQ.
Buổi kỷ niệm khởi sự lúc 4 giờ rưỡi. ĐHY Tarcisio Bertone, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, và Ông Juan Somavia, Tổng Giám đốc tổ chức Lao động của LHQ, Ông Jacques Diouf, Tổng giám đốc tổ chức Lương nông quốc tế, đã trình bày về các khía cạnh của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và việc áp dụng tuyên ngôn này.
Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, SDB
Trong bài thuyết trình, ĐHY Bertone khẳng định rằng Giáo Hội coi Tuyên Ngôn quốc tế nhân quyền như một 'dấu chỉ thời đại', và như một bước tiến quan trọng trên con đường tiến tới việc tổ chức cộng đồng thế giới về mặt pháp lý và chính trị' (Pacem in terris, 75). Đó là một văn kiện có khả năng tổng hợp ý nghĩa tự do của con người, liên kết những đòi hỏi hiện tại với những nguyên lý bất biến... Tuyên ngôn này là một cột mốc trên con đường dài và khó khăn của nhân loại. Cần đo lường tiến bộ của nhân loại không những bằng sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, nhưng đồng thời và trên hết bằng vị trí ưu tiên của các giá trị tinh thần và bằng sự tiến bộ trong đời sống luân lý”.
ĐHY Quốc vụ khanh Tòa Thánh cũng nói đến những thách đố ngày nay và báo động rằng ”Đứng trước bối cảnh hoàn cầu đáng lo âu, do ảnh hưởng của các cơ cấu kinh tế không tương ứng với giá trị con người, các quyền căn bản dường như phải lệ thuộc những động cơ vô danh, không có kiểm soát và lệ thuộc một quan điểm khép kín trong chủ nghĩa duy thực dụng trong lúc này mà quên đi tương lai của gia đình là tình liên đới.”
ĐHY Bertone tố giác sự từ bỏ quan niệm về con người như một chủ thể và biến con người thành một đối tượng của hoạt động kinh tế, để rồi chỉ đòi hỏi những quyền gắn liền vấn đề tiêu thụ chứ không liên hệ tới nhân vị.
Riêng về quyền tự do tôn giáo, như được khẳng định trong khoản số 18 của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, ĐHY Quốc vụ khanh phê bình xu hướng trong nhiều xã hội ngày nay muốn loại bỏ tôn giáo và các quyền gắn liền với tôn giáo ra khỏi việc cộng tác vào công trình xây dựng trật tự xã hội. Vì thế tự do tôn giáo có nguy cơ bị lẫn lộn với tự do phụng tự, hoặc bị giải thích như một yếu tố thuộc lãnh vực riêng tư, và ngày càng bị thay thế bằng một thứ gọi là quyền được bao dung nhân nhượng”. Làm như thế là cố tình không biết rằng tự do tôn giáo, như một quyền cơ bản, đánh dấu sự vượt lên trên sự bao dung về tôn giáo, vốn dựa trên một quan điểm duy tương đối về chân lý và trên chủ thuyết duy cá nhân vô giới hạn”.
Trước khi cuộc hòa nhạc bắt đầu, đã có nghi lễ trao giải thưởng ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, liên đới và phát triển, cho Tiến sĩ Cornelio Sommaruba, Cựu Chủ tịch Ủy ban quốc tế chữ thập đỏ, Cha Pedro Opeka, sáng lập viên dự án Akamasoa, một dự án cung cấp nhà cho những người vô gia cư tại Tananarivo bên Madagascar; tiếp đến là Cha José Raul Matte, LM bác sĩ dòng Camillo, tận tụy săn sóc giúp đỡ người cùi tại miền Amazzonia nơi nhà thương Thánh Camilo và Thánh Louis.
2 dự án được giải thưởng là dự án Galunap, một trường y khoa tại Gulu ở miền bắc Uganda, cộng tác với đại học Federico II ở Napoli, nam Italia, sau cùng là dự án ”Nhóm Ercolini - Làng Ercolini” giúp người trẻ thuộc sắc dân du mục Rom, hội nhập văn hóa và xã hội, qua việc chỉnh trang một khu vực ở Roma.
Buổi buổi hòa nhạc do Ban nhạc thành phố Frankfurt bên Đức trình diễn, dưới quyền điều khiển của bà nhạc trưởng Inma Shara người Tây Ban Nha, một số tác phẩm của các nhạc sĩ Felix Mendelssohn, Amilcare Pinchielli, Manuel de Falla và đặc biệt là của nhạc sư Mozart, một tác giả được ĐTC đặc biệt ưa chuộng.
G. Trần Đức Anh OP
Công bố Huấn Thị ”Phẩm giá con người” của Bộ Giáo Lý đức tin
VATICAN. Ngày 12-12-2008, Bộ giáo lý đức tin đã công bố Huấn Thị ”Dignitas personae” (Phẩm giá con người), về một số vấn đề luân lý sinh học.
Huấn thị được Đức TGM Luis Ladaria, dòng Tên, Tổng thư ký Bộ giáo lý đức tin, và Đức TGM Rino Fisichella, Chủ tịch Hàn lâm viện Tòa Thánh về sự sống và vị nguyên chủ tịch của Hàn lâm viện này là Đức Cha Elio Sgreccia, giới thiệu trong cuộc họp báo tại Phòng báo chí Tòa Thánh. Văn kiện này mang chữ ký ngày 8-9-2008 của ĐHY Tổng trưởng William Levada và Đức TGM Tổng thư ký Luis Ladaria, trước đó đã được ĐTC Biển Đức 16 phê chuẩn ngày 20-6 năm nay và truyền công bố.
Huấn thị ”Phẩm giá con người” cập nhật Huấn thị ”Donum vitae” (Hồng ân sự sống), do Bộ giáo lý đức tin ban hành năm 1987, vì trong thời gian hai thập niên qua đã có những tiến triển lớn trong kỹ thuật y khoa sinh học.
Huấn thị mới dài 37 trang gồm 3 phần với tổng cộng 37 đoạn: phần đầu nhấn mạnh những khía cạnh nhân loại học, thần học và luân lý đạo đức; phần hai bàn về các vấn đề liên quan tới việc truyền sinh; phần ba nói về sự lèo lái các phôi thai và gia sản di truyền của con người (3).
Văn kiện Tòa Thánh khẳng định rằng lập trường không chấp nhận nhiều kỹ thuật sinh học mới phải được đánh giá tích cực như một sự phủ nhận của nhân loại chống lại những vụ vi phạm các quyền con người, nạn kỳ thị chủng tộc, chế độ nô lệ, kỳ thị phụ nữ, trẻ em và người bệnh (36). Cách đây 1 thế kỷ, Giáo Hội đã can đảm bảo vệ các công nhân bị áp bức trong các quyền của họ, thì ngày nay Giáo Hội bảo vệ một lớp người khác, là những người vừa được thụ thai, bị áp bức trong quyền sống căn bản của họ (37). Giáo Hội tin tưởng nhìn những nghiên cứu khoa học và nhìn nhận sự độc lập của ngành này, nhưng Giáo Hội nhắc nhở cho mọi người liên hệ về trách nhiệm luân lý đạo đức và xã hội (10). Nguyên tắc căn bản trong lãnh vực này là: 'Hoa quả sự sinh sản của con người từ lúc đầu tiên trong cuộc sống, nghĩa là từ lúc hợp tử đầu tiên (zygote) được thành hình do sự kết hợp giữa trứng và tinh trùng, phải đươc nhìn nhận các quyền của con người, trong đó trước tiên có quyền sống bất khả nhượng của mội người vô tội” (4).
Các vấn đề
Đi vào chi tiết hơn, trước hết về vấn đề chữa trị sự son sẻ, Huấn Thị dạy rằng cần phải loại trừ mọi kỹ thuật thụ thai nhân tạo có sự can thiệp của người thứ ba ngoài đôi vợ chồng và các kỹ thuật thụ thai, tuy ở trong vòng vợ chồng, nhưng thay thế tác động vợ chồng. Trái lại có thể chấp nhận các kỹ thuật nhắm giúp tác động vợ chồng và sự thụ thai”. Huấn thị khuyến khích việc nhận con nuôi (12-13) đồng thời nhắc nhở rằng trong việc thụ thai trong ống nghiệm, ”con số phôi thai bị hy sinh rất cao”. Đây là một kỹ thuật trong đó phôi thai người bị đối xử như 'một mớ tế bào' mà thôi. Ngoài ra, càng ngày càng có những đôi vợ chống không son sẻ sử dụng các kỹ thuật truyền sinh nhân tạo với mục đích duy nhất là để có thể chọn lựa con cái theo hệ di truyền (14-15). Giáo Hội nhìn nhận ước muốn hợp pháp có con, nhưng ước muốn này không thể biện minh cho sự sản xuất. Trong thực tế, người ta có cảm tưởng một số nhà nghiên cứu dường như chiều theo tiêu chuẩn duy nhất là các ước muốn chủ quan và sức ép về kinh tế, rất mạnh mẽ trong lãnh vực này” (16). Trong số các kỹ thuật tự nó là bất hợp pháp, có phương pháp gọi tắt là ICSI (Intra Cytoplasmic Sperm Injection), bơm thẳng tinh trùng vào trứng, vì kỹ thuật này được thực hiện bên ngoài cơ thể của đôi vợ chồng nhờ những cử chỉ của người thứ ba” (17).
Huấn thị tái khẳng định sự không chấp nhận việc làm đông lạnh phôi thai và tuyên bố không thể chấp nhận việc dùng những phôi thai đông lạnh hiện có để nghiên cứu hoặc để chữa bệnh hay để cho các đôi vợ chồng son sẻ tùy tiện sử dụng...
Về việc phá thai, Huấn Thị của bộ giáo lý đức tin nói đến việc giảm bớt số phôi thai hoặc bào thai trong lòng mẹ bằng cách trực tiếp hủy bỏ chúng. Đây thực là một hành động phá thai chủ ý tuyển chọn. Cả việc chẩn bệnh trước khi phôi thai bám vào màng tử cung, trong thực tế đây cũng là một sự tuyển chọn phẩm chất với hậu quả là hủy hoại các phôi thai bị tật hoặc có những đặc tính không được người ta mong muốn. Hành động này thực là một sự kỳ thị bất công, đưa tới sự không nhìn nhận qui chế luân lý và pháp lý của những người bị bệnh nặng hoặc bị tật nguyền (21-22).
Ngoài các phương pháp ngừa thai, cũng được coi là bất hợp pháp những kỹ thuật ngăn chặn, như vòng xoắn và viên thuốc ngày hôm sau, nhắm chặn đứng phôi thai trước khi bám vào tử cung. Cũng thế đối với các kỹ thuật chống thai nghén, như thuốc RU-486, tạo nên sự đào thải phôi thai mới bám vào thành tử cung. Việc sử dụng các phương tiện này thuộc vào tội phá thai và nếu đi tới sự chắc chắn là đã thực hiện sự phá thai, thì đương sự mắc vạ tuyệt thông tức khắc (23).
Về kỹ thuật chọn giống tốt, việc sử dụng kỹ thuật di truyền với mục đích trị liệu, có thể chấp nhận trên nguyên tắc các can thiệp trên các tế bào không sinh sản, và chỉ có công hiệu giới hạn cho từng cá nhân mà thôi. Trái lại, những can thiệp trên các tế bào giống có nguy hiểm lớn cho việc thông truyền những thiệt hại cho dòng dõi, thì đó là điều bất hợp pháp (25-26).
Huấn thị quyết liệt lên án việc ứng dụng kỹ thuật di truyền với mục đích không trị liệu, nghĩa là nhắm mục tiêu gọi là cải tiến và tăng cường những năng khiếu di truyền. Đây thực là một sự tự phụ ý thức hệ muốn thay thế Thiên Chúa trong toan tính tạo nên một loại người mới (27). Việc phúc chế người (clonation) để sản xuất, trị liệu hoặc nghiên cứu đều là điều tự nó là bất hợp pháp. Sự phúc chế để sản xuất người tạo nên một hình thức nô lệ về sinh học. Trầm trọng hơn nữa là sự phúc chế gọi là với mục đích trị bệnh: tạo nên những phôi thai người, rồi phá hủy đi với mục đích chữa trị cho một người khác (28-29-30).
Về việc sử dụng tế bào gốc: là điều hợp pháp khi người ta sử dụng những phương pháp không gây thiệt hại trầm trọng cho đương sự mà người ta rút lấy tế bào gốc, chẳng hạn trong trường hợp lấy những mô từ một cơ phận trưởng thành, từ máu của giây rún khi mới sanh, từ các mô của bào thai chết một cách tự nhiên. Trái lại, thật là điều bất hợp pháp trầm trọng khi lấy tế bào gốc từ phôi thai người còn sống, vì làm như thế có nghĩa là hủy hoại phôi thai ấy. Việc nghiên cứu khoa học trên các tế bào gốc rút từ phôi thai người đã bị lịch sử lên án, không những vì nó thiếu ánh sáng của Thiên Chúa, nhưng còn vì nó thiếu nhân đạo (31-32).
Huấn Thị khẳng định rằng phúc chế phôi thai người lai vật, pha trộn các yếu tố di truyền của con người với các yếu tố của loài vật là một sự xúc phạm đến phẩm giá con người, việc làm ấy có thể gây xáo trộn cho căn tính đặc thù của con người (30). Sau cùng, Văn kiện Tòa Thánh cũng bàn về vấn đề sử dụng chất liệu sinh học của con người, từ một nguồn gốc bất hợp pháp. Các nhà nghiên cứu cần loại bỏ việc này, cho dù các chất liệu ấy được sản xuất ngoài trung tâm nghiên cứu của mình, được bán trên thị trường, lý do vì cần phải tránh cộng tác với sự ác và tránh gương mù. (SD 12-12-2008)
G. Trần Đức Anh OP
Đức Thánh Cha kêu gọi các GM Đài Loan đẩy mạnh mục vụ gia đình và di dân
VATICAN. Trong buổi tiếp kiến sáng 12-12-2008, dành cho HĐGM Đài Loan, ĐTC Biển Đức 16 đặc biệt kêu gọi các vị đẩy mạnh việc mục vụ gia đình và người di dân.
8 GM thuộc 7 giáo phận Đài Loan vừa kết thúc cuộc hành hương Roma, viếng mộ hai thánh Tông Đồ và thăm Tòa Thánh.
Trong bài huấn dụ, ĐTC đề cao tầm quan trọng của việc đào tạo linh mục và huấn luyện cho giáo dân về giáo lý, và nhận định rằng “Việc huấn giáo hữu hiệu chắc chắn sẽ kiến tạo các gia đình mạnh mẽ hơn, làm nảy sinh các ơn gọi LM mới... Như anh em đã biết, gia đình là tế bào đầu tiên và sinh động của mọi tầng lớp xã hội. Thư mục vụ mới đây của anh em về mối quan tâm xã hội và truyền giáo cũng nhấn mạnh nhu cầu của Giáo Hội phải dấn thân thăng tiến đời sống gia đình... Mối quan tâm của anh em đối với thiện ích của gia đình và xã hội nói chung, thúc đẩy anh em trợ giúp các đôi vợ chồng bảo tồn đặc tính bất khả phân ly của hôn ước. Anh em đừng bao giờ mệt mỏi trong việc cổ võ những luật lệ dân sự đúng đắn, nhắm bảo vệ sự thánh thiêng của gia đình. Hãy bảo vệ bí tích hôn phối khỏi những gì có thể gây nguy hại, nhất là sự cố tình hủy hoại sự sống trong những giai đoạn dễ thương tổn nhất trong cuộc sống”.
ĐTC ca ngợi mối quan tâm của các GM Đài Loan đối với người di dân và nói: ”Tôi hài lòng vì Giáo Hội tại Đài Loan tích cực cổ võ những đạo luật và chính sách bảo vệ nhân quyền của người di dân. Như anh em biết, nhiều người di dấn đến Đài Loan, không những để chia sẻ sự sung mãn của cộng đồng hiệp thông Công Giáo, nhưng còn mang theo những gia sản văn hóa đặc thù của nguyên quán của họ. Tôi khuyến khích anh em tiếp tục chào đón họ trong tình thân ái để họ có thể được chăm sóc mục vụ thích đáng, và giúp họ xác tín mình thuộc về cùng một gia đình đức tin” (Gal 6,10).
Đài loan chỉ rộng hơn 36 ngàn cây số vuông, với trên 22 triệu dân cư, trong số này có 308 ngàn tín hữu Công Giáo, tương đương với 1,37% dân số toàn quốc (SD 12-12-2008)
G. Trần Đức Anh OP
Đức Thánh Cha viếng thăm Đại Sứ quán Italia cạnh Tòa Thánh
ROMA. Sáng 13-12-2008, ĐTC Biển Đức 16 đã đến viếng thăm Đại Sứ quán Italia cạnh Tòa Thánh. Ngài đề cao tầm quan trọng của quan hệ giữa Italia và Tòa Thánh trong hoàn cảnh thế giới hiện nay.
Đến nơi vào lúc 11 giờ, ĐTC đã được ngoại trưởng Franco Frattini, Thứ trưởng tại phủ thủ tướng Gianni Letta và đại sứ Zanardi Landi tiếp đón, cùng với các nhân viên sứ quán và thân nhân của họ.
ĐTC đã nhà nguyện của Đại sứ quán dâng kính thánh Carlo Borromeo mới được hoàn toàn tân trang. Tại đây ngài đã kính viếng Mình Thánh Chúa và gặp gỡ các nhân viên của Đại sứ quán. Thứ trưởng Gianni Letta đã đại diện thủ tướng Berlusconi chào mừng ĐTC.
Trong bài huấn dụ ngắn, ĐTC nhắc lại sự kiện dinh thự hiện được dùng làm Đại Sứ quán Italia cạnh Tòa Thánh hiện nay vốn là một dinh thự được ĐGH Piô 4 tặng cho hai người cháu của ngài là Frederico và em là thánh Carlo Borromeo. Chính tại đây, thánh Carlo, vốn được phong HY Quốc vụ khanh Tòa Thánh khi còn rất trẻ, lúc 22 tuổi, đã cộng tác với việc cai trị Giáo Hội hoàn vũ. Và sau khi anh qua đời, Carlo đã khởi sự tiến trình trưởng thành về thiêng liêng, đạt tới một cuộc hoán cải sâu xa và quyết liệt chọn cuộc sống Tin Mừng. Sau khi trở thành GM giáo phận Milano, ngài tận tụy chăm sóc giáo phận, thực thi giáo huấn của Công đồng chung Trento và xả thân cứu giúp dân chúng trong những năm bị dịch tễ, đến độ dân chúng gọi ngài là ”Thiên thần của những người bị dịch”.
Và ĐTC kết luận rằng ”Cuộc sống nhân bản và thiêng liêng của thánh Carlo Borromeo chứng tỏ rằng ơn thánh của Chúa có thể biến đổi tâm hồn con người và làm cho con tim ấy có khả năng yêu thương anh chị em mình đến độ hy sinh bản thân”.
Phần thứ hai cuộc viếng của ĐTC đã diễn ra tại phòng khánh tiết và có thêm sự hiện diện của nhiều quan chức chính phủ Italia và một số đại sứ các nước trong ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh.
Lên tiếng sau lời chào mừng của ngoại trưởng Frattini, ĐTC nhắc lại sự kiện tòa nhà lịch sử này đã được 3 vị Giáo Hoàng tiền nhiệm của ngài viếng thăm, đó là các Vị Tôi Tớ Chúa Đức Piô 12 năm 1951, Đức Phaolô 6 năm 1964 và Đức Gioan Phaolô 2 năm 1986. Sự chú ý đặc biệt của các vị Giáo Hoàng đối với sứ quán này nói lên sự nhìn nhận vai trò quan trọng của Đại sứ quán Italia cạnh Tòa Thánh trong các quan hệ đặc biệt và khẩn trương giữa Tòa Thánh và Cộng hòa Italia... Quan hệ đầy thành quả giữa Italia và Tòa Thánh là điều rất quan trọng và ý nghĩa trong hiện tình thế giới, trong đó vẫn còn kéo dài các cuộc xung đột và căng thẳng giữa các dân tộc, khiến cho sự cộng tác giữa tất cả những người cùng chia sẻ các lý tượng công lý, liên đới và hòa bình càng trở nên cần thiết”.
ĐTC cũng nhấn mạnh tới sự phân biệt và độc lập giữa Giáo Hội và Nhà Nước. Giáo Hội nhìn nhận và tôn trọng nguyên tắc này, nhưng không quên nghĩa vụ khơi dậy trong xã hội các sức mạnh luân lý và tinh thần, góp phần giúp mọi người quyết tâm đáp ứng những đòi hỏi chân chính của sự thiện. Vì thế, khi nhắc nhở về giá trị của một số nguyên tắc luân lý đạo đức căn bản đối với cuộc sống riêng tư và công cộng, Giáo Hội góp phần bảo đảm và thăng tiến phẩm giá con người và công ích của xã hội, và theo nghĩa đó, sự cộng tác đích thực và đáng mong muốn giữa Nhà Nước và Giáo Hội được thực hiện. (SD 13-12-2008)
G. Trần Đức Anh OP
vietvatican.net