|
Bài
Hai Mươi Hai
VINH QUANG TỎ HIỆN
Thiên Chúa Quan Phòng đã thương chọn Đức
Giuse vào trong Kế Hoạch Cứu Chuộc muôn
dân.
Ai cũng mong muốn sang giàu. Ít ai thích âm thầm,
nhỏ bé. Đức Maria không hề dám nghĩ
tới chức làm Thiên Chúa Thánh Mẫu, chỉ
mong được làm nô tỳ cho Người,
thì đã được Thiên Chúa nâng cao. Trong
khi các thanh niên có đủ lý lịch cầu hôn
với Trinh Nữ Maria đều mơ được
se duyên, chỉ có Giuse vẫn quyết giữ lời
Khấn Khiết Trinh. Đức Mẹ kể
cho tôn nữ Agreda viết: “. . . Đã tới
ngày tập họp quy định. Nhiều
thanh niên hoàng tộc Đavid cùng huyết thống
với Mẹ, đủ mặt tại sân Đền
Thờ. Có một thanh niên nghèo khó quê ở
Nazareth làm thợ mộc ở Jerusalem. Quý
danh là Giuse. Hồi 12 tuổi đã khấn
Đức Trinh Khiết. Nay đã 33 tuổi
tuấn tú, đức hạnh vô song, không ai chê
trách, rất đẹp lòng Thiên Chúa. Được
đặc biệt mời đến. Đến
vì vâng lệnh, chứ không hề có kỳ vọng
kết hôn”.
Tất cả mọi người theo lệnh
Thượng Tế cầu nguyện với Tư
tế. Chúa soi sáng cho Thượng tế bảo
mỗi thanh niên cầm một cành cây khô để
cầu xin Chúa tỏ Tôn Ý. Biết Trinh Nữ
Maria tài sắc vẹn toàn, đức hạnh
tuyệt vời, cậu nào cũng mong kết
duyên, ngoại trừ Giuse.
Đang khi cầu nguyện, cành cây khô của Giuse
nở một chồi hoa, một chim câu lộng
lẫy đậu xuống trên đầu chàng.
Đồng thời có tiếng phán: “Giuse
đầy tớ của Ta, Maria phải là Bạn
Đường của con. Con hãy thận
trọng kính cẩn cưới Maria, người
Thanh Tịnh vẹn toàn. Con hãy thực hiện
những gì Maria sẽ nói với con”.
Sau này, Ngôi Lời Giêsu đã phán: “Ai tự hạ
sẽ được cất lên”. Giuse
được cất lên từ từ theo Chương
Trình Quan Phòng. Ngày nay Bộ Ba Danh Thánh Giêsu,
Maria, Giuse luôn ở trong tâm trí, cũng như trên
môi miệng Hội Thánh. Nhưng lúc đầu
Hội Thánh chỉ tập chú vào Đức Kitô
vì nhu cầu truyền giảng Phúc Âm. Đến
như Phaolô và Barbara mới làm vài phép lạ, mà
dân đã tôn lên làm Thượng Đế.
Phương chi nếu để họ thấy
Đức Maria và Đức Giuse sáng chói ngay từ
lúc Hội Thánh sơ khởi, thì công cuộc truyền
giáo Đức Tin sẽ gặp nhiều khó khăn
bất tiện.
Mấy thế kỷ sau, các Thánh Giáo Phụ bắt
đầu đề cao thế lực và quyền
năng của Đức Giuse.
Từ thế kỷ XII trở đi, địa
vị của Đức Giuse càng ngày càng được
đề cao, đặc biệt với Thánh Bênađô,
Thánh Bônaventura (1274) Dòng Phan Sinh, Bạn thân với
Thánh Tomasô Tiến Sĩ Dòng Đỗ Minh.
Thánh Tomasô biện luận là Đức Giuse phải
được khỏi tội tổ truyền
từ trong lòng mẹ. Thánh Tomasô nói rất
đúng. Vài thế kỷ sau, Đức Maria
đã mạc khải cho Tôn nữ Agreda biết
Đức Giuse được khỏi tội
khi thai nhi mới 7 tháng.
Với Thánh Têrêxa Avila, Danh tiếng Đức
Giuse trong Hội Thánh càng lan rộng. Người
nhận Đức Giuse làm Bộn Mạng các Nhà
Dòng Người thiết lập. Truyền thống
này sau đó các Dòng khác cũng bắt chước.
Người trở thành một Tông đồ
hăng say truyền bá lòng tôn sùng Đức Giuse
chẳng khác Thánh Louis Maria Grignon de Montfort và Thánh
Maxim Kolbe là Tông đồ lừng danh của Mẹ
thời thế mạt.
Sang thế kỷ XVIII, Danh Đức Giuse sáng
chói hơn nhất là tại Pháp Quốc với
Đức Giám Mục Bossuet. Nhờ Người,
Đức Urbanô VIII đã lập Lễ trọng
kính Đức Giuse khắp nước Pháp.
Đức Giuse đạt tới đỉnh
cao vinh quang khắp Giáo Hội trần thế
vào cuối thế kỷ XIX sang thế kỷ
XX khi Đức Piô IX, với Công Đồng Vaticanô
I đã long trọng tôn phong Đức Giuse làm
Đấng Bảo Trợ toàn Giáo Hội và Lễ
Kính Đức Giuse 19 tháng 3 thành Lễ trọng
khắp thế giới.
Đức Leô XIII, có thể mệnh danh là Giáo
Hoàng của Đức Giuse, ban hành Tông huấn
Quamquam Pluries ngày 15/8/1889 để tuyên dương
vinh hiển Đức Giuse, và truyền đặt
tháng Ba là Tháng Đức Giuse. Người
cũng truyền đọc Kinh xin Đức
Giuse Bầu Cử sau kinh Cầu Đức Bà
suốt Tháng Mai Khôi cũng do Người lập
năm 1883. Thật là Giáo Hoàng của Đức
Mẹ và Đức Giuse.
Đức Gioan XXIII năm 1960 ra sắc lệnh
truyền nhắc nhở đến Danh Đức
Giuse sau Đức Maria trong các Thánh Lễ.
Đức Gioan Phaolô II ra Tông Huấn Đấng
Gìn Giữ Chúa Cứu Thế ngày 31/10/1989.
Riêng cho Việt Nam, ngày 19 tháng 3 năm 1627, Đức
Giuse đã thương đưa hai Vị truyền
giáo là giáo sĩ Alexandre de Rhodes và Thầy Antoine
Marques thoát cơn bão vào Cửa Bạng ở Thanh
Hóa. Giáo sĩ này từ đó gọi cửa
biển ấy là Cửa Đức Giuse. Năm
1878 Đức Innocent XI, theo đề nghị
của các Giám Mục truyền giáo ở Phương
Đông, đã tôn Đức Giuse làm Đấng
Bảo Trợ Nước Việt Nam và các nước
lân cận.
Ngày nay khắp nơi ngày đêm đều có những
con cái hiếu thảo luôn kêu cầu : “Giêsu,
Maria, Giuse, con mến yêu xin thương cứu
các linh hồn”.
Đức Maria cho chân phúc Agreda biết: Ngày Đức
Kitô Phục sinh, có một số thánh được
sống lại với Chúa.
Vì Đức khiêm nhu thẳm sâu, Đức Giuse
luôn luôn muốn kín ẩn, nhưng chúng ta tin chắc
chắn trong số những Vị được
phục sinh sớm, phải có Đức Giuse
đi hàng đầu.
Chứng Tích:
Thánh An Phong kể chuyện sau đây. Có một
đôi vợ chồng hiếm muộn đến
kêu van Đức Giuse. Sau nhiều năm được
3 con trai. Hằng năm đến Đại
Lễ 19/3, gia đình ông này mừng Lễ sốt
sắng, cảm tạ và cầu xin cho con cái ngoan
ngoãn, khỏe mạnh. Nhưng ai ngờ, cháu
lớn 12 tuổi sau lúc mừng Lễ Đức
Giuse 19/3 được vài ngày lăn ra chết.
Hai vợ chồng chưa thất vọng, còn
sáng suốt vâng theo Thánh Ý Chúa. Nhưng năm
sau, cũng đúng Ngày 19/3, người con kế
lăn ra chết.
Hai vợ chồng chán nản, thất vọng,
khóc lóc nhiều ngày. Một hôm đang lúc buồn
phiền quá, được Chúa cho chứng kiến
một cảnh rùng rợn: hai người thắt
cổ chết, và một cảnh khác cảm động:
một vị Giám mục nhân từ. Rồi
đột nhiên thấy Đức Giuse hiện
ra khiển trách: Các con khóc thương mà không hiểu
gì hết. Nếu hai đứa lớn sống
tiếp sẽ sa vào đường tội ác
và sẽ bị xử tử treo cổ khốn
như thế đấy. Hãy vui lên mà tạ
ơn, ngợi khen Chúa. Con thứ 3 sẽ
làm giám mục cứu được nhiều
linh hồn làm sáng Danh Chúa. Hiểu chưa?
Thế không thích sao?
Việc Chúa làm bao giờ cũng khôn ngoan kỳ
diệu và nhằm ích lợi lớn lao, muôn đời
cho chúng con, nhưng chúng con ngu muội, thiển
cận chỉ thấy và tìm hư danh, lợi
lộc phàm trần, lại hay xin những thứ
nguy hiểm như con nít đòi chơi gươm
súng với lửa đạn v.v. . . Gặp gian
khổ thì kêu trách Chúa, thật đáng đánh đòn.
Xin Chúa thương tha thứ. Kính xin Đức
Giuse giúp chúng con có được thái độ
khiêm tốn, nhẫn nại khi gặp gian nan:
A) Bằng lòng đón nhận để
đền tội. Thật sự chúng
con không còn đáng hưởng cuộc sống
thoải mái dễ chịu. Nhưng Chúa nhân hậu
và cho chúng con được sống phần nhiều
dễ chịu ít khi gặp khốn khó.
B) Nhìn nhận đau khổ là giá đền tội
Chúa nhân từ gửi đến cho kẻ Chúa
thương xót.
|