| |
Lm.
George - Dịch giả: Ngọc Đính, CMC |
|
Mối
Liên Hệ Thiết Yếu Giữa
Tình Thương Chúa Và Thiên Chức
Linh Mục
Thiên
Chúa yêu thương chúng ta bằng một
tình yêu giao ước, một tình yêu
đoan kết và tín trung, đó là
tình yêu hiền phụ. Tình yêu của
Người còn mang tính dịu dàng và
cảm thông, đó là tình yêu
hiền mẫu. Tóm lại, Thiên Chúa
đầy nhân lành. Người là chính
Tình Thương.
Tình
Thương là chính yếu tính của
việc nhập thể cứu chuộc và
thiên chức linh mục của Chúa Kitô.
Tự bản chất, thiên chức linh mục
của Chúa là một công trình của
tình thương dựa trên giao ước
mà Thiên Chúa đã thực hiện
với con người. Chúa Kitô đã
đem tặng ân tình thương của
Thiên Chúa đến cho con người,
đem đến ơn thứ tha tội lỗi
qua việc hy sinh Mình và Máu Thánh của
Người ? như một giao ước mới
và trường cửu của Tình Thương
Thiên Chúa.
Hơn
nữa, chính Thiên Chúa đã muốn
chúng ta trở nên đồng sự để
cùng cộng tác với Người vào
công trình tình thương này. Do hiệu
lực nhiệm tích Thánh Tẩy, và
cụ thể hơn nữa là hiệu lực
của nhiệm tích Truyền Chức, chúng
ta được tấn phong thành những
thừa tác viên của Chúa Kitô, Linh
Mục Thượng Phẩm, Ðấng Cứu
Thế và Trung Gian. Cũng như Mẹ Maria,
Mẹ Thiên Chúa và Giáo Hội, chúng
ta cũng là những cộng sự viên
với Chúa Kitô trong công trình cứu
chuộc và trung gian ? tức là công trình
của tình thương. Là những linh
mục, chúng ta được đặt định
làm những dòng kênh chuyển thông
và khí cụ của Tình Thương
Thiên Chúa qua các nhiệm tích Thánh
Thể và Xá Giải.
Ðối
với các linh mục, kết luận và
hệ quả từ giao ước Tình Thương
Thiên Chúa và tương quan cộng tác
của chúng ta vào giao ước ấy
chính là: lòng sùng kính Tình Thương
Chúa không còn phải là một tùy
chọn nữa. Lòng sùng kính Tình
Thương Chúa thuộc về chính bản
chất của thiên chức linh mục. Ðó
chính là nguyên nhân ra đời của
quyển sách này: để trình bày
cho các linh mục những lời của Chúa
và của thánh nữ Faustina về lòng
thương xót.
Lòng Sùng
Kính Tình Thương Chúa
Thế
thì lòng sùng kính Tình Thương
Chúa là gì? Ðó không phải
chỉ là "lại thêm một lòng sùng
kính nữa." Ðúng hơn, đó là
điều mà lòng sùng kính chân
thực phải có trong ý nghĩa căn
bản của no - đó là sự tận
hiến, một dâng hiến với lời
thề hứa long trọng. Theo nghĩa này,
lòng sùng kính Tình Thương Chúa
là một cam kết trọn vẹn với
Chúa Tình Thương ? để sống
nhân lành như chính Người là
Ðấng Nhân Lành. Ðó là một
giao ước của tình thương.
Ðối với lòng sùng
kính Tình Thương Chúa, các linh
mục có thể dễ dàng nêu lên
phản bác: "Phải chăng lại thêm
một lòng sùng kính nữa? Chúng
tôi không cần thêm những lòng
sùng kính nào nữa." Nhưng tôi muốn
trả lời rằng như vậy là làm
cho vấn đề sùng kính trở nên
lạc hậu! Ðây không phải sự
hy hiến chúng ta dâng lên Thiên
Chúa, nhưng là sự hy hiến Thiên
Chúa dành cho các bạn và cho tôi.
Vấn đề của lòng sùng kính
này chính là vì Thiên Chúa là
Tình Thương và Người muốn
biểu lộ tình thương đối
với tất cả mọi người (x. Rm
11:32).
Lòng
sùng kính này đã được
làm nổi bật nhờ các mặc khải
Chúa ban cho thánh nữ Faustina, bắt đầu
từ năm 1931 và tiếp tục cho đến
khi thánh nữ qua đời vào năm 1938.
Sứ điệp của Chúa là một
sứ điệp tình thương. Ðây
là lúc để trở về với Tình
Thương Chúa trong lúc vẫn còn thời
giờ của lòng thương xót, trước
khi ngày phán xét đến. Chúa đặc
biệt yêu cầu: hãy tín thác vào
lòng thương xót của Người;
hãy thỉnh cầu và tôn vinh lòng
thương xót của Người bằng
cách lãnh nhận lòng thương xót
ấy; hãy cao rao lòng thương xót
của Người và hãy sống nhân
lành với nhau. Ðó là điều
cốt lõi của Phúc Âm!
Hơn
nữa, ngoài nhiệm tích Thánh Thể
và nhiệm tích Xá Giải, qua thánh
nữ Faustina, Chúa còn ban cho chúng ta những
phương thế đặc biệt để
kín múc Tình Thương của Người,
đó là: bức ảnh Chúa Tình
Thương với hàng chữ: Lạy Chúa
Giêsu, con tín thác nơi Chúa," chuỗi
hạt kính Chúa Tình Thương, lễ
kính Chúa Tình Thương, và việc
cầu nguyện vào đúng giờ Chúa
tử nạn trên thập giá. Việc mô
tả kỹ hơn những yếu tố của
lòng sùng kính này sẽ cho thấy
đó là một lòng sùng kính của
linh mục như thế nào.
Ðức
Lêô Cả nhiều năm trước đây
đã chỉ thị cho các linh mục hãy
rao giảng về Tình Thương Chúa,
ngài nói rằng chúng ta không còn
một lựa chọn nào khác trong vấn
đề này:
Linh mục không có quyền khước
từ việc rao giảng về một mầu
nhiệm quá ư vĩ đại như vậy,
hơn nữa linh mục không thể thiếu
chất liệu để diễn giảng về
một đề tài mà chưa bao giờ
được nói cho đầy đủ;
và nếu trước tôn nhan vinh quang của
Thiên Chúa, tuy chúng ta thấy mình không
xứng đáng để diễn giảng
về những công trình của Tình
Thương, nhưng chúng ta hãy nỗ lực
và dâng hiến trí năng của mình
đến độ vận dụng tất cả
mọi khả năng lợi khẩu (Sermo I, de
Passione).
Ðức
Gioan Phaolô II, trong bức tông thư Thiên
Chúa Giàu Lòng Xót Thương (Dives
in Misericordia) cũng nói về việc cao
rao Tình Thương.
Giáo Hội của thời đại chúng
ta? phải trở nên ý thức đặc
biệt và sâu xa về nhu cầu làm
chứng cho Tình Thương Chúa trong sứ
mạng trọn vẹn của mình, theo bước
chân của truyền thống Cựu và
Tân Ước, và trước nhất chính
là của Chúa Giêsu Kitô và các
Tông Ðồ của Người (VII, phần
Giới Thiệu).
? Giáo Hội phải coi việc tuyên
xưng và đưa mầu nhiệm Tình
Thương - như đã được
mặc khải một cách đầy đủ
nhất trong Chúa Giêsu Kitô (#14) -
vào cuộc sống là một trong
những bổn phận chính yếu của
mình ? trong mọi giai đoạn lịch sử
và nhất là trong thời buổi hiện
tại của chúng ta.
Những
Thái Ðộ Với Mặc Khải Tư
Một
số linh mục cũng như giáo hữu
thường có thành kiến đối
với các mặc khải tư, cho dù là
những mặc khải đã được
Giáo Hội chuẩn nhận. Thái độ
của các linh mục ấy được
thể hiện qua những câu đại loại
như : "Ôi, chỉ là mặc khải tư."
"Tôi chẳng cần mặc khải tư nào
hết." "Cái đó đâu phải cho
tôi." "Tôi có thành kiến đối
với các lòng sùng kính và các
đền thánh."
Nhưng
thật đáng tiếc, những thái độ
như vậy thực sự là những vật
cản đối với việc lắng nghe
tiếng Chúa và Ðức Mẹ trong thời
đại hiện nay.
Trong bài
giảng tại Fatima (ngày 13.5.1982), Ðức
Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói lên
thái độ của Giáo Hội đối
với mặc khải tư trong một tuyên
bố rõ ràng. Ngài trích dẫn lời
Công Ðồng Vaticanô II và áp dụng
vào trường hợp các mặc khải
tại Fatima:
Giáo Hội vẫn luôn giáo huấn và
tiếp tục tuyên bố rằng mặc
khải của Thiên Chúa đã đến
chỗ toàn thành trong Ðức Giêsu
Kitô, Ðấng là viên mãn của
mặc khải, và "chúng ta không phải
chờ đợi một mặc khải công
nào khác nữa trước khi Chúa Giêsu
Kitô, Chúa chúng ta hiện đến trong
vinh quang" (Dei Verbum, 4). Giáo Hội đánh
giá và thẩm định các mặc
khải tư dựa trên tiêu chuẩn phù
hợp với mặc khải công ấy.
Nếu Giáo Hội đã chấp nhận
sứ điệp Fatima, trước hết là
vì sứ điệp này bao hàm một
chân lý và một lời mời gọi
có nội dung căn bản chính là chân
lý và lời mời gọi của Phúc
Âm.
"Hãy hối cải và tin vào Phúc Âm"
(Lc 1:15): đây là những lời đầu
tiên mà Ðấng Thiên Sai đã
nói với nhân loại. Sứ điệp
Fatima, trong cốt lõi căn bản, cũng
là một lời mời gọi hoán cải
và sám hối như trong Phúc Âm.
Chỉ
bằng một vài câu, Ðức Gioan Phaolô
II đã phác ra vị trí của các
mặc khải tư ? đó là một
chân lý và một lời mời gọi
của chính Phúc Âm. Những ngôn
từ và những hành động của
Ðức Gioan Phaolô II rất rõ ràng
và mạnh mẽ, nhưng chúng tôi thiết
tưởng các suy tư khác cũng ích
lợi.
Thiên
Chúa đã không ngừng nói với
Dân Người sau cái chết của vị
Tông Ðồ sau cùng là thánh Gioan,
người môn đệ dấu yêu. Các
mặc khải công được đóng
lại bằng cái chết của thánh
Gioan, nhưng Thiên Chúa vẫn tiếp tục
nói với chúng ta và ban cho chúng ta
sự đảm bảo về cuộc vinh thắng
của Người. Vấn đề ở đây
là: Ai đang lắng nghe tiếng Chúa nói?
Sau đây
là một số lý do khác giúp chúng
ta trân trọng các mặc khải tư
hơn:
* Thiên
Chúa là Ðấng tự do. Người
có thể nói với chúng ta nếu Người
muốn. Thiên Chúa có những điều
quan trọng để nói với chúng ta.
* Những
mặc khải tư là các sự kiện
lịch sử.
* Các
mặc khải tư xác nhận Phúc Âm.
* Các
mặc khải tư nhấn mạnh đến
các chân lý đức tin và luân
lý trong bối cảnh hiện tại.
* Các
mặc khải tư đưa ra sự hướng
dẫn lựa chọn một đường
lối trong những thời buổi khủng
hoảng.
* Nội
dung của các sứ điệp rất phong
phú cho việc xây đắp đức
tin của chúng ta.
Một
suy tư khác nữa là việc thực
thi các lời mặc khải tư thuộc
về những đoàn sủng mà Công
Ðồng Vaticanô II đã khuyến khích:
"Phải lãnh nhận các đoàn sủng
này, từ các ơn chói lọi nhất
đến các ơn thường mà nhiều
người lãnh được, với lòng
tri ân và phù hợp với các nhu
cầu của Giáo Hội" (Lumen gentium, 12).
Ðức
giám mục Gaber của giáo phận Regensburg
đã nói lên những lời cảm
động về vấn đề mặc khải
tư với đại hội Fatima diễn ra
tại Freiburg, Ðức Quốc, ngày 23.9.1973
như sau:
Một lần nữa chúng tôi xác nhận
rằng mặc khải công đã đóng
lại với Chúa Kitô và các Tông
Ðồ của Người. Nhưng như
vậy không có nghĩa là Thiên Chúa
phải nín lặng, không thể nói
thêm gì với Dân Người nữa.
Và như vậy, như một số tín
hữu vẫn nghĩ - Chúa ở xa cách
và bỏ mặc thế gian hay sao? Ðó
không phải là một Thiên Chúa thực
sự rất kỳ lạ hay sao? Thiên Chúa
đã minh nhiên phán bảo qua các
tiên tri của Người rằng "Ta sẽ
đổ Thần Khí Ta trên hết thảy
người phàm, con trai con gái các ngươi
sẽ trở thành ngôn sứ, thanh niên
sẽ thấy thị kiến, bô lão sẽ
được báo mộng. Ta sẽ đổ
Thần Khí Ta cả trên tôi nam tớ
nữ của Ta" (Cv 2:17; x. Ga 3:1-5). Lời tiên
tri ấy lẽ nào lại bị giới hạn
vào ngày Ngũ Tuần đầu tiên
hay sao? Chắc chắn là không" (Fatima: The
Great Sign, Francis Johnston, A.M.I., Washington, N.J., 07882).
Thánh
Tôma Tiến Sĩ cũng bàn về lời
tiên tri rằng:
Ðối với việc hướng dẫn
các hành vi con người, mặc khải
tiên tri đã được đa dạng
hóa không theo quá trình thời gian,
nhưng theo nhu cầu các hoàn cảnh; bởi
vì như đã viết trong sách Châm
Ngôn: "Nơi đâu không có lời
tiên tri, người ta sống không kìm
hãm" (Cn 29:18). Ðó là lý do trong mọi
thời đại, người ta đều
được Thiên Chúa dạy bảo
về những điều phải làm, để
mưu ích phần rỗi cho những người
được tuyển chọn.
Cũng
trong bài viết trên, thánh nhân còn
viết:
Trong mỗi thời đại, luôn luôn
có những người được ban
thần khí tiên tri, mục đích không
phải là để đặt thêm giáo
lý mới bắt người ta phải tin,
nhưng là để quản trị các
hoạt động của con người (Summa
II, II, Q. 176, a.6).
Cha Karl
Rahner, dòng Tên, trong bài "Theology of Devotion
to the Sacred Heart" (Thần Học về việc
Sùng Kính Thánh Tâm) đăng trong
ấn phẩm Theological Investigations (vol. III, pp.
338, 339) có giải thích rằng trong khi các
mặc khải tư không đưa ra thêm
giáo lý mới bắt phải tin, nhưng
đưa ra sự hướng dẫn đặc
biệt cho Giáo Hội, đề cao những
phương cách cụ thể và khẩn
thiết để ứng dụng đức
tin vào hành động. Các mặc khải
tư trình bày cho chúng ta cách đánh
giá của Thiên Chúa về điều
gì cần thiết nhất trong các thời
kỳ riêng biệt.
Về
vấn đề này, cha Walter Kern, trong tác
phẩm Updated Devotion to the Sacred Heart, cũng góp
thêm một suy tư quan trọng. Ngài giải
thích rằng các mặc khải tư
?được ban như một ơn đặc
biệt để mưu ích cho nhân loại
nói chung. Người ta vẫn có thể
được rỗi linh hồn mà không
một ơn đặc biệt nào từ
Thiên Chúa, nhưng vấn đề ở
chỗ là Thiên Chúa đã ban, và
vì ơn ấy đang hay đã hữu
ích, nên người ta phải trân trọng
nó.
Nhất là trong những thời buổi thử
thách như thời đại của chúng
ta hiện nay, chúng ta cần phải lắng
nghe lời Chúa đã tuyên phán rõ
ràng và mạnh mẽ như tiếng kèn
vang dậy. "Giả như kèn chỉ phát
ra một tiếng vu vơ, thì ai sẽ chuẩn
bị chiến đấu?" (1 Cr 14:8). Ai sẽ
nghe được và hành động? Ai
sẽ có thể cùng thưa lên như
Samuel, "Lạy Chúa, xin hãy phán vì tôi
tớ Chúa đang lắng tai nghe" (1 Sm 3:9)?
Trong năm dịp khác nhau, Chúa
Giêsu đã truyền chị Faustina phải
nói cho các linh mục về Tình Thương
của Người. Chị phải nói cho
các ngài biết:
* Ðón nhận Tình
Thương Chúa (177),
* Rao giảng cho mọi
người về Tình Thương lớn
lao khôn cùng của Chúa (570),
* Các tội nhân
cứng lòng nhất sẽ hối cải khi
nghe các ngài giảng về Tình Thương
Chúa, và linh mục nào rao giảng về
Tình Thương Chúa sẽ được
ân thưởng một quyền năng kỳ
diệu có sức đánh động các
tâm hồn (1521), và
* Cổ động chuỗi
kinh Chúa Tình Thương cho các tội
nhân (687).
Ngoài ra, qua chị Faustina, Ðức
Mẹ cũng có những lời với các
linh mục (x. 1585).
Những Lời Chúa Kitô
Nói Với Các Linh Mục
Về việc công bố và
rao giảng về Tình Thương Chúa,
nhất là cho các tội nhân:
50 "Cha ước mong
các linh mục hãy công bố Tình
Thương lớn lao của Cha cho các
tội nhân. Ðừng để họ sợ
hãi không dám đến gần bên
Cha. Những ngọn lửa thương xót
đang bừng cháy trong Cha ? kêu gào đòi
được phung phát; Cha muốn trào
đổ xuống cho các linh hồn này."
177 Chúa Giêsu lại
nói với tôi một cách dịu dàng,
"Ái nữ của Cha, con hãy nói cho
các linh mục về Tình Thương khôn
lường của Cha. Những ngọn lửa
tình thương đang bừng cháy trong
Cha, kêu gào đòi được phung
phát; phần Cha muốn cứ trào đổ
xuống trên các linh hồn; trái lại,
các linh hồn không muốn tin vào lòng
nhân lành của Cha."
570 "Không một
linh hồn nào sẽ được công
chính hóa trước khi quay về với
Tình Thương của Cha với niềm
tín thác, và đó là lý do tại
sao Chúa Nhật đầu tiên sau lễ
Phục Sinh sẽ là đại lễ kính
Tình Thương Cha. Trong ngày đó,
các linh mục hãy nói cho mọi người
về Tình Thương vĩ đại khôn
dò của Cha. Cha đang làm cho con trở
nên thừa tác viên cho Tình Thương
của Cha. Con hãy cho cha giải tội biết
rằng bức ảnh (Chúa Tình Thương)
phải được trưng bày công
khai trong Giáo Hội chứ không phải
chỉ trong nội vi của tu viện. Qua bức
ảnh, Cha sẽ ban nhiều ân sủng cho
các linh hồn, vậy hãy để mọi
người đến được với
bức ảnh ấy."
1521 Chúa phán với
tôi, "Hỡi ái nữ của Cha, con đừng
chán ngại cao rao Tình Thương của
Cha. Như thế, con sẽ làm giãn khát
Trái Tim Cha đang cháy lửa thương
xót các tội nhân. Con hãy cho các
linh mục của Cha biết rằng những
tội nhân cứng lòng nhất sẽ hối
cải khi nghe lời các ngài rao giảng
về Tình Thương khôn cùng của
Cha, về lòng thương cảm Cha dành
cho họ trong Trái Tim Cha. Linh mục nào
cao rao và tán dương Tình Thương
Cha, Cha sẽ ban cho họ quyền năng kỳ
diệu, Cha sẽ xức dầu những lời
của họ và đánh động tâm
hồn những ai nghe lời họ rao giảng."
Về
việc giới thiệu tràng kinh kính Chúa
Tình Thương:
687 Một lần kia, tôi
đang từ trên nhà xuống bếp và
được nghe những lời sau đây
trong linh hồn: "Con hãy không ngừng đọc
chuỗi hạt mà Cha đã dạy cho con.
Bất cứ ai đọc chuỗi hạt này
sẽ nhận được tình thương
xót bao la trong giờ lâm tử. Các
linh mục hãy giới thiệu chuỗi hạt
ấy cho các tội nhân như niềm
trông cậy sau cùng cho ơn cứu rỗi.
Một tội nhân cho dù chai đá cứng
lòng nhất, nhưng nếu đọc chuỗi
hạt này, dù chỉ một lần duy
nhất mà thôi, cũng sẽ nhận được
ơn thánh do lòng nhân lành vô cùng
của Cha. Cha khát khao ban tràn những ân
sủng khôn tả cho những linh hồn tín
thác vào Tình Thương Cha."
Những Lời Ðức Mẹ Nói Với
Các Linh Mục
1585 Thị kiến
về Mẹ Thiên Chúa. Giữa vầng
ánh quang hết sức rực rỡ, tôi
đã được nhìn thấy Mẹ
Thiên Chúa trong áo chùng trắng, thắt
đai lưng bằng vàng; và có nhiều
ngôi sao nhỏ bé cũng bằng vàng
óng ánh khắp trên trang phục của
Mẹ, các tay áo hình chữ V của
Mẹ cũng được viền vàng.
Áo choàng của Mẹ màu thiên thanh,
khoác hờ trên vai. Trên đầu, Mẹ
đội một chiếc khăn trong suốt
duyên dáng, làn tóc của Mẹ mượt
mà dưới triều thiên bằng vàng
với những hình thập giá nho nhỏ.
Mẹ bồng Chúa Hài Nhi Giêsu bên
tay trái. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy
Ðức Mẹ như kiểu hình này.
Bấy giờ Ðức Mẹ đưa mắt
nhìn tôi dịu dàng và nói: "Ta
là Mẹ Thiên Chúa của các linh
mục."* Sau đó, Mẹ đặt Chúa
Giêsu trên tay xuống đất, rồi
giơ tay phải lên trời, Mẹ thưa
lên: "Lạy Thiên Chúa, xin chúc phúc
cho đất nước Ba Lan, xin chúc phúc
cho các linh mục." Bấy giờ, một lần
nữa Mẹ lại phán với tôi rằng:
"Con hãy nói cho các linh mục những
gì con đã thấy." Tôi quyết tâm
sẽ nói cho cha (Andrasz) ngay khi nào được
gặp ngài; nhưng phần tôi, tôi
chẳng hiểu được gì từ thị
kiến này.
* Tiếng Ba Lan: "Jestem Matka Boska
Kaplanska."
Ngữ nghĩa: "Ta là Mẹ
Thiên Chúa của các linh mục."
Hoặc tương tự:
"Ta là Ðấng Sinh Hạ Thiên Chúa
(Theotokos) của các linh mục."
Giá Trị Các Sứ Ðiệp
Dưới Ánh Sáng Phúc Âm
Sáu sứ điệp Chúa
và Ðức Mẹ ban cho các linh mục
qua chị thánh Faustina hoàn toàn phù
hợp với tiêu chuẩn Ðức Gioan
Phaolô II đã đưa ra về việc
chấp nhận các mặc khải tư. Các
sứ điệp ấy bao hàm "một chân
lý và một lời mời gọi có
nội dung căn bản là chân lý và
lời mời gọi của chính Phúc Âm"
(Bài giảng tại Fatima, 1982).
Chiều kích Phúc Âm của
các sứ điệp này có thể được
thấy một cách rõ ràng bằng cách
xem xét từng sứ điệp, tách riêng
những từ ngữ quan trọng tóm kết
nội dung căn bản của sứ điệp,
và sau đó so sánh các từ ngữ
này với các bản văn Cựu và
Tân Ước nói về lòng tín thác
Thiên Chúa và lượng từ bi của
Người.
"Cha
ước mong các linh mục hãy công
bố tình thương lớn lao của Cha
cho các tội nhân. Ðừng để
họ sợ hãi không dám đến
gần bên Cha. Những ngọn lửa thương
xót đang bừng cháy trong Cha ? kêu gào
đòi phung phát; Cha muốn trào đổ
xuống cho các linh hồn này"
(Nhật Ký 50).
Những
từ ngữ quan trọng:
* Hãy công bố Tình Thương
bao la của Chúa.
* Hãy đến với các
tội nhân.
* Cho họ biết về khát
vọng nhân lành của Chúa.
Mt 4:17
"Từ lúc đó, Chúa Giêsu bắt
đầu rao giảng rằng: ?Hãy hối
cải đời sống vì Nước Trời
đã gần.?"
Mt 11:28-30
"Hãy đến với Ta, hết thảy
những ai đang vất vả mang gánh nặng
nề, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bổ sức.
Hãy mang lấy ách của Ta và hãy
học cùng Ta, vì Ta hiền lành và
khiêm nhượng trong lòng. Rồi tâm
hồn anh em sẽ được thư thái,
vì ách của Ta thì êm ái còn
gánh của Ta thì nhẹ nhàng."
Lc 6:36
"Anh em hãy có lòng nhân lành như
Cha anh em là Ðấng nhân lành."
Ga 19:28
"Ta khát."
Rm 10:12b-15b
Vì tất cả đều có cùng
một Chúa là Ðấng nhân lành
đối với tất cả những ai kêu
cầu Người. Vì tất cả những
ai kêu cầu danh Chúa đều được
cứu thoát. Thế nhưng làm sao họ
kêu cầu Ðấng mà họ không
tin? Làm sao họ tin Ðấng mà họ
không được nghe biết? Làm sao
họ nghe được nếu không có
ai rao giảng? Làm sao có ai rao giảng nếu
như họ không được sai đi?
Lc 15:11-32
Người Con Phung Phá ? "Nhưng chúng
ta phải ăn mừng và hoan hỉ, vì
em con đây đã chết mà nay sống
lại, đã mất mà nay lại tìm
thấy."
"Ái
nữ của Cha, con hãy nói cho các
linh mục về Tình Thương khôn lường
của Cha. Những ngọn lửa tình thương đang bừng cháy trong
Cha, kêu gào đòi được phung phát; phần Cha muốn cứ trào đổ xuống
trên các linh hồn; trái lại, các linh hồn không muốn tin vào lòng
nhân lành của Cha"
(Nhật Ký 77).
|