|
|
Thánh
Thể và Ơn gọi Linh mục
Một
vị linh mục trẻ vào thăm lớp giáo lý thêm sức có ý nói chuyện
cổ động ơn gọi tu trì. Cha hỏi học sinh: “Thánh kinh nói về những
người đi tu?” Một em nhớ lõm bõm được mấy Kinh thánh nhanh nhẩu
trả lời: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc
chúng làm.”
Ơn gọi linh mục và bí tích Thánh Thể là hai mầu nhiệm gắn liền
với nhau. Nếu không hiểu biết Thánh Thể, chúng ta khó có thể hiểu
biết chức linh mục và ngược lại. Do đó, nếu thiếu sự hiểu biết
về chức linh mục thì khi tham dự hoặc cử hành thánh lễ, chúng
ta khó mà thấu đáo được việc mình làm. Quả là đáng trách!
Linh
mục: vị Tư tế
1/ Tôn giáo cổ
Trong lịch sử lâu đời của nhân loại, trước Chúa giáng sinh hàng
chục ngàn năm, đối với xã hội văn minh thời Ai cập, hàng tư tế
là những người có đặc ân nói chuyện và gặp gỡ các vị thần. Họ
mang trong tâm hồn kiến thức thần thiêng về tạo vật và thực tại
thiên nhiên. Họ nghiên cứu, học hỏi những khoa học bí nhiệm, triết
lý tôn giáo của thời cổ. Họ ôm ấp những kiến thức đó để rồi truyền
đạt lại cho con người.
Tôn giáo cổ Ai cập tin rằng vua, gọi là Pharaon, là thần. Các
tư tế được vua chỉ định để cử hành nghi lễ tại đền thờ các thần
trên toàn quốc. Nhiệm vụ của các tư tế là săn sóc, hầu hạ các
vị thần. Ngoài ra các tư tế cũng cử hành nghi thức an táng, dạy
học, điều hành hướng dẫn các hoạ sĩ, và làm cố vấn cho dân chúng
khi gặp khó khăn.
Hầu hết các tôn giáo đều có những vị tư tế được chọn riêng để
ở trong đền thờ, liên lạc với các thần, cử hành lễ hy tế. Hàng
tư tế trong nhân loại đã được thiết lập từ ngàn xưa để đáp ứng
nhu cầu tâm linh của con người.
2/
Cựu ước
Lễ tế đầu tiên được dâng lên Thiên Chúa trong Cựu ước, không phải
của Adong, mà do hai con trai của ông là Cain và Abel. Sau trận
lụt Đại hồng thủy, ông Nôe dâng lễ tế lên Thiên Chúa. Hương thơm
lễ tế toàn thiêu bay lên tới Chúa và Ngài đã lập giao ước với
Nôe: Chúa sẽ không bao giờ hủy diệt loài người như Ngài đã làm
qua trận lụt. Chúa chúc phúc cho ông Nôe và con cái: hãy sinh
sản đầy mặt đất. Chúa trao trái đất và mọi sinh vật vào tay ông
và con cháu. Tiếp đến, thời tổ phụ Abraham, Isaác, Giacóp... Thiên
Chúa đã thiết lập giao ước với các ngài: ban cho con cháu trở
nên một dân tộc hùng mạnh và một miền đất phì nhiêu để sinh sống.
Lời giao ước được nhắc lại mỗi khi các tổ phụ dâng của lễ toàn
thiêu tôn thờ Thiên Chúa.
Trong thời điểm của Kinh thánh, hàng tư tế chưa được thiết lập
chính thức để chuyên lo việc tế tự. Do đó, quyền tế lễ thuộc về
các tổ phụ, tộc trưởng, gia trưởng, người đứng đầu, đại diện cho
gia tộc, họ hàng. Điểm thứ hai cần chú ý là thời điểm thiết lập
giao ước thường vào lúc sau khi con người dâng của lễ toàn thiêu.
Do đó, lễ tế là cuộc đối thoại long trọng giữa Thiên Chúa với
nhân loại qua người đại diện là vị tư tế.
Trong thời tổ phụ Abraham đã xuất hiện hình ảnh một vị tư tế siêu
phàm, tượng trưng cho Chúa Kitô, đó là thầy cả thượng phẩm Menkisêđê.
Sau khi Abraham đã chiến thắng bốn vị vua, giải thoát ông Lót
và trở về, Thánh kinh đã thuật lại là Menkisêđê, vua thành Salem,
đem dâng bánh và rượu, vì ông là tư tế của Thiên Chúa tối cao.
Ông chúc phúc cho Abraham với những lời sau đây: “Xin Thiên Chúa
tối cao, Đấng tạo thành trời đất, chúc phúc cho Abraham và chúc
tụng Thiên Chúa tối cao, Đấng trao quân thù vào tay ông” (St 14:18-20).
Tác giả thư gửi Do thái dẫn giải thêm về Menkisêđê như sau: “Tên
của ngài có nghĩa là ‘Vua Công chính’; ngài cũng là vua của thành
‘Salem’, tức là ‘Vua Bình an’. Ngài không có cha mẹ, tổ tiên,
không có giờ sinh, ngày tử; như Con Thiên Chúa, ngài là thượng
tế đời đời.” Menkisêđê không phải là người Do thái, nhưng được
chọn làm hình ảnh báo trước phẩm chức linh mục của Chúa Kitô.
Điều này nói lên tính chất phổ quát, đại diện cho cả nhân loại,
của phẩm chức này.
Trong cuộc xuất hành khỏi Ai cập, sau khi thiết lập giao ước với
dân Do thái tại núi Sinai, Thiên Chúa truyền cho Maisen tấn phong
Aaron và bốn con trai của ông làm tư tế, lo việc thờ phượng Chúa
trong cung thánh. Sau đó, Chúa đã chọn chi tộc Lêvi làm dòng tộc
tư tế, cha truyền con nối. Việc thờ phượng Chúa được xác định
tỉ mỉ trong sách Lêvi, gồm những chi tiết như vị tư tế phải mặc
y phục thế nào, rửa tay, thay y phục làm sao, bao nhiêu ngọn đèn
và đặt ở đâu... Những điều này cho thấy việc thờ phượng Chúa và
chức tư tế trong Cựu ước chú trọng nhiều đến khuôn khổ lề luật,
hình thức bên ngoài. Có nhiều hình thức đã nói lên những sự thánh
thiêng, liên quan đến Thiên Chúa và những xấu xa của tội lỗi...
3/
Tân ước
Chức tư tế trong Cựu ước chỉ là hình bóng xa xăm mờ nhạt của Chúa
Kitô. Chức tư tế của Chúa Kitô không bắt nguồn từ dòng dõi Lêvi,
vì Chúa sinh ra trong dòng dõi Đavít. chức tư tế của Chúa Kitô
có nguồn gốc thần linh, trong cõi đời đời như lời Thánh vịnh 110:
“Đức Chúa phán bảo rằng: ‘Ngày đăng quang con nắm quyền thủ lãnh,
vẻ huy hoàng rự rỡ tựa thần linh. Ngay trước lúc hừng đông xuất
hiện, tự lòng Cha, Cha đã sinh ra con.’ Đức Chúa đã một lần thề
ước, Người sẽ chẳng rút lời, rằng: ’Con là Thượng tế muôn đời
theo phẩm hàm Menkisêđê.’”
Tuy nhiên, chức tư tế của Chúa Kitô chỉ hoàn tất trong thân xác
nhân loại, khi Ngài tự hiến mình chịu chết trên thánh giá, đổ
máu ra để tẩy xoá tội lỗi con người. Tác giả thư gửi Do thái đã
nêu lên những ưu điểm của chức tư tế nơi Chúa Kitô so với chức
tư tế Lêvi trong Cựu ước (Dt 7:11-28):
a/ Chức tư tế Lêvi được thiết lập do lề luật, do đó, ở dưới quyền
lề luật. Chức tư tế của Chúa Kitô phát xuất từ lời truyền của
Thiên Chúa: “Con là Thượng tế muôn đời theo phẩm hàm Menkisêđê.”
Khi Chúa Kitô xuất hiện như vị tư tế của giao ước mới, lề luật
cũ bị bãi bỏ, vì không có sức thánh hoá, không đưa con người đến
gần Chúa.
b/ Chức tư tế của Chúa Kitô được bảo đảm bằng lời thề của Thiên
Chúa. Chúa Kitô hằng sống nên chức tư tế của Ngài tồn tại vĩnh
viễn để tiếp tục cứu chuộc, thánh hoá, cầu bầu cho nhân loại.
Các tư tế Lêvi bị thay thế vì không thể sống mãi.
c/ Chúa Kitô là vị Thượng tế thánh thiện, toàn vẹn, vô tội, tách
biệt khỏi những tội nhân và được nâng cao vượt các tầng trời.
Vì thế, Chúa Kitô chỉ cần dâng mình làm của lễ một lần là đủ;
không như các tư tế Lêvi, phải dâng lễ tế mỗi ngày để đền tội
của mình và của dân.
Ơn
gọi linh mục
1/ Một bậc sống
Một bà mẹ sinh được ba cậu quí tử ở cỡ tuổi 7-12. Bà ngồi tính
chuyện tương lai với bà hàng xóm:
- Thằng Tí lớn nhất, thông minh, học giỏi, tôi sẽ cho nó học làm
bác sĩ. Sau này nó sẽ hái ra tiền. Còn thằng thứ hai, cu Tèo,
đẹp trai, dẻo miệng, tôi sẽ cho nó đi Hollywood làm tài tử đóng
phim. Rồi đây nó sẽ lăn lộn trên đống tiền. Còn thằng út, ù lì,
mặt mũi ngớ ngác, khờ khạo, tôi... tôi cho... nó đi tu... làm
cha.
Có nhiều người lầm tưởng rằng việc làm linh mục là một “nghề”,
mà so với các nghề khác có phần bị lép vế. Nếu xét về thời gian
và phí tổn để huấn luyện một linh mục trong chủng viện, có thể
tương đương với việc theo đuổi lấy bằng tiến sĩ. Thế nhưng, xét
về lương bổng của một linh mục địa phận dù ở mức cao nhất, cũng
có vẻ... chết đói... so với các nghề khác. Do đó, người ta đã
kể một câu chuyện như sau: Ngày xưa tại Mỹ, các cha xứ phải đi
thăm con chiên bằng xe ngựa, đôi khi dẫn theo chú nhỏ giúp việc.
Có lần cha đến thăm một giáo dân, người này đưa ra nhận xét tỏ
vẻ quan tâm:
- Thưa cha, sao cha gầy còm, ốm yếu quá trong khi đó con ngựa
của cha coi thật mập mạp oai phong?
Cha ngần ngừ chưa biết trả lời sao, chú nhỏ đi theo nhanh nhẩu
trả lời:
- Có lẽ vì cha nuôi con ngựa, còn cha thì được giáo dân nuôi.
Nếu chỉ coi chức linh mục như một nghề trong bao nghề khác thì
quả là một thất bại lớn. Đó là quan niệm sai lầm. Linh mục là
mộ bậc sống cá biệt, một sự lựa chọn dấn thân hoàn toàn và trọn
đời. Linh mục là chứng nhân của Chúa Kitô, của nước trời, bằng
cách trở nên một Chúa Kitô thứ hai (Alter Christus).
2/
Một đặc sủng
Một
linh mục có thể làm hai phép lạ mỗi ngày: một là biến bánh rượu
thành Mình và Máu Chúa, và hai là đưa tay ban phép tha tội, lập
tức dù là cả núi tội cũng biến mất. Không phải ai cũng làm được
điều đó, dù là tổng thống Mỹ hay bất cứ vua chúa nào cũng không
có khả năng đó. Ngoài ra, còn biết bao kho tàng ơn phúc khác mà
linh mục là vị quản gia đứng ban phát cho nhân loại. Đây là ơn
huệ đặc biệt chỉ ban tặng cho một số người được tuyển chọn. Thánh
Phaolô đã cắt nghĩa điều này trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn
Corintô:
“Anh em là thân thể Đức Kitô, và mỗi người là một thành phần.
Trong Giáo hội, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các
Tông đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến
những người được ơn làm phép lạ, được đặc sủng để chữa bệnh, để
giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thức tiếng lạ. Chẳng
lẽ ai cũng là tông đồ? Chẳng lẽ ai cũng là ngôn sứ, ai cũng là
thầy dạy sao? Chẳng lẽ ai cũng được ơn làm phép lạ, ai cũng được
chữa bệnh sao? Chẳng lẽ ai cũng nói được các tiếng lạ, ai cũng
giải thích được các tiếng lạ sao?” (1 Cor 13:27-30).
Xét về các bí tích, linh mục được thông phần vào đặc sủng của
các tông đồ. Xét về quyền giảng dạy, linh mục chia sẻ đặc sủng
của các tiên tri. Linh mục chính là dụng cụ, thừa tác viên của
Giáo hội trao ban ơn cứu độ cho nhân loại.
3/
Đáp trả và chọn lựa
Linh mục là một ơn gọi vì được Thiên Chúa kêu mời và chọn lựa.
Trong lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã kêu mời và chọn lựa nhiều
người tham dự vào chương trình của Ngài. Abraham là thí dụ đầu
tiên trong Cựu ước. Ông đã trung tín đáp lại tiếng Chúa mời gọi,
thắng vượt thử thách qua việc sẵn sàng hiến tế Isaác, con trai
duy nhất. Ông đã trở nên công chính và làm cha một dân tộc được
tuyển chọn. Thứ đến là Maisen, được Thiên Chúa kêu gọi và sai
đi giải thoát dân Israel khỏi kiếp nô lệ cho người Ai cập. Rồi
đến các vị tiên tri Êlia, Isaia, Giêrêmia... cũng được Thiên Chúa
kêu gọi và chọn. Trong Tân ước, Chúa Kitô đã kêu gọi tuyển chọn
12 tông đồ, trong đó có Phêrô người đánh cá, Mátthêu người thu
thuế... Trong mỗi tiếng kêu mời trên của Thiên Chúa, mỗi vị đều
tự đáp lại với ý thức tự do.
Trong suốt 2000 năm lịch sử của Giáo hội, Thiên Chúa vẫn tiếp
tục kêu mời những con người được tuyển chọn thông phần chức linh
mục của Chúa Kitô. Nhiều người đã đáp lại lời kêu mời và trung
thành phục vụ Thiên Chúa, Giáo hội. Một số đã không trung thành,
rời bỏ chức linh mục. Điều này nêu cao sự tự nguyện đáp trả trong
can đảm và yêu thương của các linh mục.
Tiên tri Giêrêmia đã viết về ơn gọi của ông như sau: “Lời Chúa
phán cùng tôi rằng: ‘Trước khi tạo dựng ngươi trong lòng mẹ, Ta
đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hiến ngươi,
đặt ngươi làm tiên tri cho các dân tộc’” (Gr 1:5). Tương tự như
thế, ơn gọi linh mục có nguồn gốc huyền bí từ đời đời. Khi tạo
dựng linh mục trong lòng mẹ, Chúa đã ban cho những tặng ân, khả
năng để hoàn thành nhiệm vụ và thánh hiến ngài.
Ơn gọi linh mục ngày nay trở nên ít ỏi, phải chăng vì Chúa đánh
mất số điện thoại nên không gọi nữa? Thiên Chúa vẫn kêu mời con
người dấn thân hy sinh phục vụ Chúa trong chức linh mục, nhưng
trào lưu tục hoá của xã hội ngày nay khiến người ta đánh mất giá
trị luân lý và đạo đức. Âm nhạc, điện ảnh là những sức mạnh lôi
cuốn và ảnh hưởng giới trẻ nhất nhưng lại công khai khuyến khích
hưởng thụ, ích kỷ, hận thù, bạo động, suy tôn lạc thú tính dục...
Tiếng gọi của Thiên Chúa đang bị con người nhận chìm, vùi dập.
Thánh
Thể: Giao ước mới
1/ Ký kết bằng Máu Chúa Kitô
Giao ước cũ được ký kết trên núi Sinai bằng máu chiên bò, với
lời Chúa hứa ban một lãnh thổ “chảy tràn sữa và mật ong”. Giao
ước cũ bao gồm lề luật trói buộc con người nhưng không có khả
năng thánh hoá họ. Giao ước cũ chỉ là hình bóng sửa soạn cho giao
ước mới, do đó, không sinh được hiệu quả trọn vẹn. Dân Do thái
phản bội giao ước, đi thờ thần ngoại lai. Miền Đất hứa bị quân
thù thống trị, hoặc bị bỏ hoang.
Giao ước mới được ký kết trên đồi Golgotha, bằng máu của Con Thiên
Chúa. Qua giao ước này, Thiên Chúa không hứa ban cho một dân tộc,
một miền đất nơi dương thế tạm bợ, nhưng Ngài hứa ban ơn tha tội
cho cả nhân loại, tức là ban cho nước Thiên đàng vĩnh cửu. Giao
ước này bao gồm lề luật của tình yêu: yêu thương kẻ thù, cầu nguyện
cho kẻ ghét mình, tha thứ cho kẻ giết mình... Giao ước mới có
sức thánh hoá, đưa con người đến sự hoàn thiện.
Trước khi dâng mình tế lễ trên thánh giá, ký kết giao ước mới,
Chúa Kitô đã thiết lập bí tích Thánh Thể và liên kết mầu nhiệm
này với hy lễ trên núi Sọ: “Trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy
bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: ‘Anh em cầm
lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm
như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy.’ Cũng thế, cuối bữa ăn,
Người nâng chén và nói: ‘Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập
giao ước mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để
tưởng nhớ đến Thầy.’ Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần
ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết”
(1 Cor 11:23-26).
Bí tích Thánh Thể diễn lại và thực tại hoá cách mầu nhiệm và không
đổ máu lễ hy tế trên thánh giá. Tất cả thánh lễ từ thời các thánh
tông đồ hco đến tận thế cũng chỉ là một lễ Hy tế trên đồi Golgotha.
Mầu nhiệm Thánh Thể siêu vượt không gian và thời gian.
2/
Ban ơn tha tội
Tội lỗi là gông cùm xiềng xích trói buộc nhân loại mãi từ khi
nguyên tổ phạm tội, nghe lời ma quỉ, chống lại Thiên Chúa. Cũng
từ đó, nhân loại khắc khoải đợi chờ Thiên Chúa thực hiện lời hứa
ban Đấng Cứu Thế. Chúa có thể chỉ phán một lời đơn giản: “Ta tha
tôi cho con” thì lập tức tội lỗi của nhân loại được xoá bỏ. Tuy
nhiên, điều đó không diễn tả được tình yêu vô cùng của Thiên Chúa
dành cho nhân loại. Hơn nữa, Ngài muốn dạy cho nhân loại biết
rằng: tội lỗi, sự chết, đau khổ, đổ máu, sự sống là những thực
tại liên kết với nhau trong mầu nhiệm cứu chuộc. Đau khổ, sự chết
là hiệu quả của tội lỗi, là dấu chỉ chiến thắng của ma quỉ, nhưng
khi Thiên Chúa trở nên con người, chịu đau khổ, chịu chết thì
đau khổ và sự chết trở nên phương tiện đem lại ơn cứu chuộc, trở
nên căn nguyên ơn tha tội, dấu chỉ ma quỉ bị đánh bại. Chúa Kitô
muốn để lại bí tích Thánh Thể để nhắc nhở nhân loại bài học đó,
và làm sống động cách hiện thực mầu nhiệm ấy. Bí tích Thánh Thể
là lời giao ước mới ban ơn tha tội, giải thoát nhân loại khỏi
kiếp nô lệ cho tội lỗi, ma quỉ.
3/
Chúa Kitô: Tư tế và của lễ
Thông thường từ ngàn xưa cho đến thời Cựu ước, vị tư tế bắt con
vật làm của lễ hy sinh trên bàn thờ. Vị tư tế bắt chiên, bò đổ
máu để đền tội, cầu xin, thờ phượng Chúa. Vị tư tế và của lễ hoàn
toàn khác biệt. Việc dâng lễ tế này thật ra không có hiệu quả
ban ơn thạ độ, vì đó chỉ là hình bóng nghèo nàn hướng về lễ tế
trọn hảo, có một không hai của Chúa Kitô. Lễ tế này trọn hảo vì
vị Tư tế và Của lễ là Đấng vô cùng chính trực. Lễ tế trọn hảo
này chỉ cần dâng tiến một lần đã đủ, nhưng lại phải luôn đem lễ
tế này vào thực tại để sự trọn hảo không bị quên lãng vì tính
yếu đuối của nhân loại.
Thánh
Thể: mục đích của ơn gọi linh mục
Trong bữa Tiệc ly, sau khi Chúa truyền phép cho bánh rượu trở
nên Mình Máu Chúa, Ngài đã truyền cho các môn đệ: “Các con hãy
làm việc này mà nhớ đến Thầy.” Chức linh mục của Tân ước khởi
đầu từ đây. Vị tư tế và của lễ luôn đi đôi với nhau. Mình Chúa
bị nộp, Máu Chúa bị đổ ra để làm của lễ trong bí tích Thánh Thể.
Vậy ai là vị tư tế? Trong bữa Tiệc ly, chính Chúa Kitô là tư tế,
và ngài đã truyền chức tư tế đó cho các tông đồ, môn đệ khi phán:
“Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.” Chúa Kitô đã thiết
lập bí tích Thánh Thể và chức linh mục cùng một lúc; cả hai cùng
phát xuất từ Chúa Kitô.
Chúa Kitô, trong sự khôn ngoan thần linh, đã thấy trước nhu cầu
của bí tích Thánh Thể là phải có linh mục, nên đã thiết lập chức
linh mục để phục vụ Thánh Thể. Linh mục tồn tại để cử hành Thánh
Thể. Thánh Thể hiện hữu nhờ có linh mục. Một linh mục không thi
hành nhiệm vụ thánh của mình là cử hành thánh lễ tức là đánh mất
ý nghĩa, mục đích của đời linh mục.
Sự gắn bó giữa linh mục và Thánh Thể là điều cần thiết liên quan
đến sự sống còn của nhau: không có linh mục, không có Thánh Thể;
không có Thánh Thể, không cần có linh mục, vì không cần dâng lễ,
nhiệm vụ chính của linh mục. Vì thế, đời sống linh mục phải là
đời sống vì Thánh Thể và cho Thánh Thể. Hơn nữa, nhờ bí tích Thánh
Thể mà linh mục trở nên Chúa Kitô thứ hai. Như Chúa Kitô, linh
mục phải thực sự trở nên của lễ hy sinh trên bàn thờ bằng chính
cuộc sống của mình. Đời sống hy sinh, dấn thân phải là bản chất
căn bản của đời linh mục, vì như thế linh mục mới trở nên hy lễ
dâng tiến trên bàn thờ nên một với Chúa Kitô mỗi khi dâng thánh
lễ.
Kết
luận
Ơn gọi linh mục là một mầu nhiệm liên kết chặt chẽ với mầu nhiệm
Thánh Thể. Bản chất thần linh của Thánh Thể nâng cao và thánh
hoá nhân tính của linh mục. Tính chất hy sinh hiến mình của Thánh
Thể đòi hỏi linh mục phải trao ban bản thân đến tận cùng như Chúa
Kitô. Như Thánh Thể, linh mục là chứng nhân của tình yêu, do đó
đòi hỏi một trái tim tinh tuyền và chung thủy. Có thể nói Thánh
Thể là lời thách đố cho các linh mục sống trọn ý nghĩa và ơn gọi
của mình. Với những trọng trách và đòi hỏi lớn lao đó, linh mục
rất cần lời cầu nguyện, sự nâng đỡ của mọi tín hữu. Chúng ta hãy
cầu nguyện cho các ngài phản chiếu mầu nhiệm Thánh Thể trong cuộc
sống, để có thể ban phát mầu nhiệm ấy cho dân Chúa.
|
|