|
|
GIÁO
HỘI: DÂN TỘC THÁNH THỂ
Cảm
thấy mệt mỏi vì sự chia rẽ, bạo động giữa nhiều tôn giáo, Mark
Twain đã viết châm chọc như sau: “Tôi làm một cái chuồng rồi nhốt
con chó và con mèo vào đó. Sau một thời gian thuyết pháp, huấn
luyện khô cả cổ, mỏi cả chân tay, tôi đã tập cho chúng sống chung
hoà bình với nhau. Rồi tưa vào thêm một con heo, một con dê, một
con kangaroo, vài con chim, và con khỉ. Sau một thời gian ngắn
học hỏi, chúng có thể sống chung hoà hợp, không gây chuyện cắn
xé nhau. Tôi thấy khoái chí quá nên đưa thêm và một người Hồi
giáo, một Phật tử, một nhà truyền giáo Baptist, một người Tin
lành, và một người Công giáo Ái nhĩ lan. Và sau đó không lâu,
chẳng còn mống nào sống sót trong chuồng!”
Nhiều nơi trên thế giới như tại Ái nhĩ lan, Nga, Đông âu, những
người cùng tin vào Chúa Kitô nhưng lại đối chọi chém giết nhau.
Ngay trong chính Giáo hội công giáo cũng có những rạn nứt trầm
trọng đối với giáo huấn, đường lối của Đức Thánh Cha, và nhiều
hơn nữa là sự chia rẽ bè phái ở tầng lớp giáo xứ. Phải chẳng Chúa
Kitô đã nhìn thấy trước mãi 2000 năm sự chia rẽ ngay giữa những
người tin vào Ngài, nên đã tha thiết cầu nguyện: “Con không chỉ
cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời
họ mà tin vào Con, để tất cả nên một như Cha ở trong Con và Con
ở trong Cha, để họ cùng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ
tin rằng Cha đã sai Con. Phần Con, Con đã ban cho họ vinh quang
mà Cha đã ban cho Con, để họ được nên một như chúng ta là một:
Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để học được hoàn toàn nên một;
như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai Con và Cha
đã yêu thương họ như đã yêu thương con” (Ga 17:20-23).
Có lẽ nhiều người chưa thể tin vào Chúa Kitô vì các môn đệ của
Ngài còn đối chọi, chém giết nhau. Một sự chia rẽ bất đồng trong
giáo xứ cũng đủ làm gương mù đánh mất đức tin của nhiều tín hữu,
đồng thời phá hoại công cuộc truyền giáo của Giáo hội. Chúng ta
hãy lấy lại tinh thần hiệp nhất, nhận ra mình được liên kết trong
một đoàn dân Thánh Thể, trong nhiệm thể Chúa Kitô, tức là Giáo
hội.
1.
Israel trong Cựu ước: Hình bóng Giáo hội
Dân tộc Israel được hình thành do lời giáo ước giữa Thiên Chúa
và Tổ phụ Abraham, đồng thời cũng là tiến trình trong kế hoạch
cứu chuộc nhân loại. chúa đã gọi Abraham ra khỏi cuộc sống bình
thường tại quê hương để dẫn đưa ông đến miền đất mà Chúa hứa ban
cho dòng dõi của ông. Ngài cũng hứa làm cho ông trở thành cha
của một dân tộc hùng mạnh, đông như sao trên trời, nhiều như cát
bãi biển. cuộc trao đổi giữa Abraham và Thiên Chúa là mối dây
giao ước đặt trên căn bản tình yêu. Giao ước đòi hỏi sự trao hiến
trọn vẹn bản thân. Abraham đã đáp ứng được đòi hỏi đó khi ông
vâng lệnh Chúa, sẵn sàng giết chết con trai duy nất làm của lễ
dâng lên Thiên Chúa. Tuy nhiên, lệnh đó chỉ là để thử lòng ông.
Khi Abraham đã chứng tỏ mình xứng đáng, Thiên Chúa đã thiết lập
giao ước với lời thề: “Ta lấy mình Ta, Ta thề, sấm của Giavê;
vì ngươi đã làm điều ấy, và đã không từ chối với Ta con một ngươi,
thì Ta sẽ ban phúc lành cho ngươi, Ta sẽ làm chyo dòng giống ngươi
nên đông, nên nhiều như sao trên trời, như cát bãi biển, và dòng
giống ngươi sẽ chiếm đoạt cửa thành quân địch. Mọi dân thiên hạ
sẽ được chúc phúc nhờ dòng giống ngươi, bởi vì ngươi đã vâng nghe
tiếng Ta!” (St 22:16-18).
Lời giao ước là lời hứa được bảo chứng bằng lời thề. Do đó, nếu
giữ lời hứa, những phúc lành được hứa ban sẽ hiện thực; ngược
lại, nếu lỗi lời hứa, lời chúc dữ sẽ đến với người ấy. Abraham
đã trung tín với Chúa nên lời Ngài hứa với ông đã được thực hiện,
phúc lành của Ngài luôn ở với ông. Dòng dõi của Abraham đã trở
nên một dân tộc đông đúc hùng mạnh, và được đưa vào miền Đất Hứa.
Khi dân Do thái lâm cảnh nô lệ bên Ai cập, họ đã kêu than với
Chúa. Ngài đã sai Maisen đến để giải thoát họ khỏi kiếp tôi mọi
và đưa họ về Đất Hứa. Tại núi Sinai, Chúa đã thiết lập giao ước
với dân Israel. Qua Maisen, Chúa đã phán với dân chúng: “Ngươi
sẽ loan báo cho con cái Israel: các ngươi thấy Ta đã làm gì cho
Ai cập và làm sao Ta đã nâng các ngươi trên cánh phượng hoàng
mà đem các ngươi đến với Ta? Vậy giờ đây, nếu các ngươi quyết
nghe tiếng Ta mà giữ giao ước của Ta, thì các ngươi sẽ là sở hữu
của Ta giữa các dân hết thảy, vì toàn cõi đất đều là của Ta. Còn
các ngươi, các ngươi sẽ là một vương quốc tư tế cho Ta, một dân
thánh. Đó là những lời ngươi phải nói với con cái Israel.” Maisen
đã truyền lại cho dân chúng lời Chúa phán, và họ đồng thanh đáp:
“Tất cả những gì Giavê đã phán bảo, chúng tôi sẽ làm theo.” Maisen
đã thưa lại với Chúa lời của họ (Xh 19:3-8).
Thiên Chúa đã truyền cho dân Israel giữa 10 giới răn, cùng nhiều
luật lệ khác dựa trên những giới răn đó. “Maisen đã viết mọi lời
Giavê, và sáng ngày ông dậy sớm và xây một tế đàn dưới chân núi,
với 12 bia đá cho 12 chi tộc Israel. Đoạn ông sai thanh niên trong
hàng con cái Israel dâng lễ thượng hiến và tế sát bò làm hy sinh
cầu an dâng Giavê. Và Maisen đã lấy một nửa huyết cho vào chậu,
còn phân nửa kia ông tưới trên tế đàn. Rồi ông lấsy quyển giao
ước và đọc cho dân. Họ nói: ‘Mọi điều Giavê đã phán, chúng tôi
sẽ thi hành và sẽ nghe theo.’ Maisen lấy huyết mà rảy trên dân.
Ông nói: ‘Này là máu giao ước đã kết với các ngươi, thể theo mọi
lời ấy’” (Xh 24:4-8).
Người trong giới giang hồ kết nghĩa anh em bằng cách uống chung
chén rượu có pha máu của những người liên hệ. Việc này thường
mang ý nghĩa một lời thề thầm kín hoặc được nói ra: “Có phước
cùng mang có hoạ cùng chịu; nếu trái lời sẽ bị thiên tru địa diệt.”
Máu là dấu chỉ tượng trưng cho sự sống. Máu bò rảy lên dân chúng
khi thiết lập giao ước với Thiên Chúa là lời thề độc sẽ bị mất
mạng nếu phản bội lời giao ước. Máu này cũng nhắc dân Israel nhớ
lại dịp lễ Vượt qua đầu tiên ở Ai cập; Chúa đã giết chết mọi con
trai đầu lòng của người Ai cập, và chỉ chừa mạng sống con trai
đầu lòng người Do thái, có máu chiên bôi trên cửa nhà. Máu đó
nhắc nhở rằng mạng sống của họ thuộc về Thiên Chúa. Qua máu giao
ước đó, toàn dân Israel thuộc về Chúa và Giavê là Thiên Chúa của
họ. Bao lâu dân Israel trung thành tôn thờ Chúa, sống theo luật
Ngài truyền, họ được chúc phúc với đời sống hùng cường. Trái lại,
khi nào phản bội lời giao ước, họ phải ngã gục dưới lưỡi gươm
của kẻ thù. Lịch sử của dân Israel đã cho chúng ta thấy rõ điều
đó. Họ đã không trung thành với giao ước, thờ lạy ngẫu tượng ngoại
bang, đối xử gian ác, bất công với đồng loại. Kết quả là thành
thánh Giêrusalem hai lần bị tiêu tán, lưu đày.
2.
Israel mới trong Tân ước
Vào thời Chúa Giêsu, đế quốc Rôma đang cai trị đất Do thái, tên
quốc gia Do thái đã không còn trên bản đồ. Người ta gọi đó là
vùng đất Palestine. Sau khi thành Giêrusalem bị phá hủy lần thứ
hai vào năm 70 AD, dân Israel cũng bị phân tán, lưu lạc khắp thế
giới. Một dân tộc thánh, thuộc riêng về Chúa không còn nữa. Chúa
Kitô đã đến để thiết lập một đoàn Dân Chúa mới, đó là Giáo hội
của Ngài. Dân tộc này được phôi thai cách nhiệm mầu từ cạnh sườn
của Chúa Kitô, khi bị lưỡi đòng đâm xuyên tới tim, khơi mạch cho
dòng máu và nước chảy ra. Dòng máu này đã sản sinh ra những con
người được cứu chuộc khỏi ách nô lệ tội lỗi.
Như Evà đã được dựng nên bằng xương lấy từ cạnh sườn của Ađam,
Giáo hội, hiền thê của Chúa Kitô, cũng được hình thành từ cạnh
sườn của Chúa Giêsu. Nơi Giáo hội, toàn thể nhân loại được kêu
mời đến hưởng nhờ ơn cứu chuộc. Đoàn dân Israel mới này cũng ký
kết với Thiên Chúa một giao ước mới, giao ước vĩnh cửu và hoàn
hảo, vì được ký kết không phải bằng máu chiên bò, nhưng bằng chính
máu của Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể. Máu này đã xoá bỏ lời nguyền
rủa đoạ phạt giáng trên nguyên tổ vì tội lỗi, làm hoàn hảo, trọn
vẹn giao ước cũ trên núi Sinai. Giao ước cũ được thiết lập giữa
tạo vật và Đấng Tạo Hoá, trong thái độ kinh hãi sợ sệt. Giao ước
mới được ký kết trong tình cha con, vì nhờ Đức Kitô và trong Thánh
Thần, nhân loại được gọi Thiên Chúa là Cha. Trong giao ước cũ,
tội lỗi thắng thế và Israel đã bị chúc dữ. Trong giao ước mới,
tội lỗi đã bị đánh bại, kho tàng ơn phúc mãi mãi thuộc về Giáo
hội, đó là các bí tích.
Giao ước cũ truyền cho dân Israel phải cử hành lễ Vượt qua hằng
năm để tưởng niệm biến cố được giải thoát khỏi ách nô lệ bên Ai
cập. Giao ước mới được thiết lập trên hình bóng lễ Vượt qua. Chúa
Kitô chính là Chiên Thiên Chúa bị sát tế trong dịp lễ Vượt qua
của Cựu ước. Máu Chiên này không chỉ cứu sống dân Israel, giải
thoát họ khỏi kiếp nô lệ, nhưng cứu sống toàn thể nhân loại, giải
thoát họ khỏi ách nô lệ của ma quỉ, tội lỗi, và sự chết. Trong
bữa Tiệc ly, tiệc Vượt qua, Chúa Kitô đã thiết lập bí tích Thánh
Thể. Ngài cầm lấy bánh trao cho các môn đệ và nói: “Tất cả các
con hãy cầm lấy mà ăn. Này là mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con.”
Rồi Ngài cầm lấy chén rượu, trao cho các môn đệ và nói: “Tất cả
các con hãy cầm lấy mà uống. Này là chén máu Thầy, máu giao ước
mới, giao ước vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được
tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Kinh nguyện
Thánh Thể). Thánh Thể là thực tại dựa trên cuộc tử nạn của Chúa
Kitô. Máu Chúa Kitô đã đổ ra để làm trọn vẹn lời giao ước muôn
đời. Giao ước đó là nhân loại được trở nên con cái Thiên Chúa,
được thừa hưởng gia nghiệp hạnh phúc với Ngài trong miền Đất Hứa
vĩnh cửu. Máu Chúa Kitô vẫn tiếp tục đổ ra trên bàn tiệc Thánh
Thể, vì đó là lời trăn trối của Ngài trước khi chịu khổ hình.
Qua lời truyền đó, Giáo hội trở nên Dân tộc Thánh Thể, tiếp tục
loan truyền cuộc tử nạn của Chúa Kitô qua việc cử hành thánh lễ.
Thánh Phaolô đã viết cho tín hữu thành Corintô: “Thật vậy, cho
tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, anh em loan
truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cor 11:26).
Sách Công vụ Tông đồ đã tóm tắt đời sống các Kitô hữu đầu tiên
như sau: “Họ chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, hiệp thông
với nhau, tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện. Mọi người đều kinh
sợ, vì các Tông đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. Tất cả các tín
hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán
đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu.
Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ. Khi làm
lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ
ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng
đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2:42-47).
Cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên tại Giêrusalem đã mang tính chất cá
biệt là tham dự lễ bẻ bánh tức là tiệc Thánh Thể, đoàn kết yêu
thương nhau. Đây chính là Giáo hội, đoàn dân Thánh Thể trong thời
sơ khai. Trải qua 2000 năm, Giáo hội đã lớn mạnh và phát triển
trên toàn thế giới. Sức sống và sự hiện diện của Giáo hội xuất
hiện ở đâu? Nơi thánh đường, nơi cử hành thánh lễ, nơi có sự hiện
diện của Thánh Thể. Sinh hoạt chính của người Kitô hữu xoay quanh
ngôi nhà thờ, và việc cử hành bí tích Thánh Thể luôn là tột đỉnh
của mọi biến cố lớn trong giáo xứ, Giáo hội. Giáo hội Công giáo
thật sự là Dân tộc Thánh Thể. Ngoài ra, ý nghĩa này không chỉ
thể hiện nơi sinh hoạt bên ngoài, nhưng nằm sâu trong bản tính
của Giáo hội.
3.
Nhiệm thể Chúa Kitô
“Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại,
bằng cách ăn ở thuận hoà, gắn bó với nhau. Chỉ có một thân thể,
một Thần Khí, cũng như anh em đã được ơn để chia sẻ cùng một niềm
hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một
Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người và trong
mọi người. Nhưng mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tùy theo
mức độ Đức Kitô ban cho... Và chính Người đã ban cho kẻ này làm
tông đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin
mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó, các thánh
được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức
Kitô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức
tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người
trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô. Như vậy, chúng
ta sẽ không còn là những trẻ nhỏ, bị sóng đánh trôi giạt theo
mọi chiều gió đạo lý, giữa trò bịp bợp của những kẻ xảo quyệt
khéo dùng mưu chước ma quỉ để làm cho kẻ khác lầm đường. Nhưng,
sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về
mọi phương diện, vươn tới Đức Kitô vì Người là Đầu. Chính Người
sẽ làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết
cấu chặt chẽ, nhờ thứ gân mạch nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt
động theo chức năng của mình. Như thế, Người làm cho toàn thân
lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái” (Eph 4:3-16).
Giáo hội không chỉ như một tổ chức trong xã hội, có các thành
phần, cơ cấu tổ chức ăn khớp với nhau như một thân thể, mà còn
có một mức độ hiệp nhất cao hơn nữa, mang tính chất nhiệm mầu
bắt nguồn từ Chúa Kitô. Khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, người tín
hữu trở nên phần thân thể của Chúa Kitô, phần tử của Giáo hội.
Mọi phần tử đều được nối kết với nhau trong một sự sống thần linh
do Chúa Kitô thông truyền qua các bí tích. Chúa Kitô là trung
tâm và nguồn sống; mọi Kitô hữu được liên kết với Ngài và Ngài
ban cho mỗi người những ân huệ thích hợp cho địa vị, ơn gọi trong
Giáo hội. Những ơn huệ đó nối kết mọi phần tử nên một thân thể
với đầy đủ khả năng hoạt động.
Nhờ các phần tử, Giáo hội được tăng số và phát triển ra khắp thế
giới. Giáo hội cũng gia tăng vẻ thánh thiện nhờ các phần tử tiến
triển trong mức độ nên giống Chúa Kitô. Nhờ đó, Giáo hội trở nên
sự hiện diện của Chúa Kitô giữa thế giới.
Dây nối kết giữa đầu và các phần tử được duy trì, nuôi dưỡng bằng
bí tích Thánh Thể. Qua bí tích này, người tín hữu cùng thuộc về
nhiệm thể Chúa Kitô nhờ trở nên dấu chỉ bên ngoài, đồng thời đưa
đến thực tại bên trong: “Tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là
một thân thể; vì chỉ có một tấm bánh, và tất cả chúng ta chia
sẻ cùng một tấm bánh ấy” (1 Cor 10:17).
4.
Giáo hội sống mầu nhiệm Thánh Thể
A. Hôn nhân Công giáo
Ngày xưa, có một người nông dân hiền lành tên là Ngọc Tâm, có
người vợ xinh đẹp tên là Nhan Diệp. Người chồng tính tình đơn
giản, quanh năm chăm chú làm ăn; ngược lại, người vợ lười biếng
xa hoa, chỉ lo thoả thuê sung sướng. Trong lúc hai vợ chồng ngỡ
rằng có thể chung sống với nhau đến ngày đầu bạc răng long thì
thình lình Nhan Diệp lăn ra chết. Người chồng quá đau đớn, không
nỡ rời xa xác vợ. Anh bán hết tài sản, mua một chiếc thuyền chở
quan tài vợ, và ở trên đó, sống cuộc đời nổi trôi trên mặt nước.
Một buổi sáng thuyền đi đến dưới chân một ngọn núi, cỏ cây ngào
nạt. Ngọc Tâm lên bờ, thấy đủ các loại kỳ hoa dị thảo, cây cối
nặng trĩu trái như chốn tiên cảnh. Ngọc Tâm leo lên núi và gặp
một ông lão tướng mạo phi phàm, râu tóc bạc phơ, tay chống gậy
trúc. Ngọc Tâm đoán là một tiên ông nên quì xuống van xin cứu
sống người vợ thương yêu. Vị thần thương hại nhìn Ngọc Tâm một
lúc rồi nói: “Ngươi còn nặng lòng vương vấn trần ai, chưa thoát
được vòng tục lụy... Ta có thể giúp ngươi, nhưng sau này đừng
ân hận!”
Ngọc Tâm nghe theo lời chỉ dạy của vị thần, mở nắp quan tài, chích
đầu ngón tay mình rồi nhỏ ba giọt máu vào thi thể Nhan Diệp. Người
đàn bà từ từ mở mắt ra, ngồi lên như sau một giấc ngủ dài. Trước
khi từ biệt, vị thần căn dặn người đàn bà: “Đừng quên bổn phận
của người vợ... Hãy luôn luôn nghĩ đến lòng thương yêu chung thủy
của chồng... Chúc cho hai người được hạnh phúc.”
Trên đường về quê, người chồng hối hả chèo thuyền đi mau. Một
tối, thuyền ghé bến và Ngọc Tâm lên bờ mua thức ăn. Trong lúc
đó, có một chiếc thuyền buôn lớn đậu sát bên. Chủ nhân là tay
lái buôn giàu có, chú ý đến nhan sắc lộng lẫy của Nhan Điệp. Hắn
gợi chuyện mời Nhan Điệp qua thuyền mình dùng trà rồi ra lệnh
cho thuyền thả buồm đi. Ngọc Tâm trở về không thấy vợ đâu, nên
bỏ ăn, bỏ ngủ, ngày đêm đi tìm kiếm, cả tháng sau mới gặp. Nhưng
người đàn bà đã quen với lối sống xa hoa bên cạnh tay lái buôn
giàu có, quên cả tình xưa nghĩa cũ. Thấy rõ bộ mặt thật của vợ,
Ngọc Tâm như tỉnh cơn mê, nói với Nhan Điệp: “Mình được tự do
bỏ tôi, nhưng tôi không muốn mình còn lưu giữ kỷ niệm gì của tôi.
Vậy hãy trả lại ba giọt máu của tôi đã nhỏ ra để cứu sống mình
lại.”
Nhan Điệp thấy được sự ra đi dứt khoát dễ dàng như thế, nên không
cần suy nghĩ, liền lấy dao rạch đầu ngón tay. Nhưng máu vừa bắt
đầu nhỏ giọt thì nàng lăn ra chết. Người đàn bà nông nổi, phụ
bạc chết vẫn luyến tiếc cõi đời nên hoá kiếp thành con vật nhỏ,
ngày đêm theo đuổi Ngọc Tâm, tìm cách ăn cắp ba giọt máu để trở
lại làm người. Con vật này kêu than với Ngọc Tâm, van lơn như
oán hận, như tiếc thương, kêu o o không ngừng. Người ta gọi đó
là con muỗi.
Câu chuyện mang tính chất huyền thoại, nhưng nói lên được vẻ quan
trọng của sự chung thủy trong tình nghĩa vợ chồng. Trong bí tích
hôn nhân Công giáo, người nam và người nữ thề trước mặt Chúa cương
quyết trung thành yêu thương nhau. Đó là lời giao ước ký kết bằng
máu, vì chỉ có sự chết mới phá vỡ được mối dây này. Qua bí tích
hôn phối, người chồng và người vợ là dấu chỉ và chứng nhân của
tình yêu Chúa Kitô dành cho Giáo hội. Giáo hội được phát sinh
từ cạnh sườn Chúa Kitô như nước và máu, để cũng như Ađam nói về
Evà, Chúa Kitô có thể nói về Giáo hội: “Này là xương bởi xương
tôi, thịt bởi thịt tôi.” Như vợ chồng liên kết nên một xương một
thịt, Giáo hội kết hợp với Chúa Kitô để trở nên nhiệm thể, hiền
thê của Ngài. Như Chúa Kitô đã hy sinh mạng sống vì Giáo hội,
người vợ và người chồng cũng phải sẵn sàng chết để giữ lòng chung
thủy yêu thương nhau. Đây là cách những người trong bậc hôn nhân
sống mầu nhiệm Thánh Thể: trung thành với giao ước tình yêu hai
người đã long trọng trao cho nhau, và làm chứng nhân cho sự chung
thủy của Thiên Chúa dành cho nhân loại.
Đáng tiếc thay, trào lưu xã hội đang đưa đẩy nhiều Kitô hữu đi
vào con đường bất trung trong bí tích hôn nhân. Nhiều người bỏ
chồng, bỏ vợ, mặc kệ đàn con để chạy theo cuộc tình lãng mạn,
dục vọng đê hèn của xác thịt. Ngoài ra còn rất nhiều người đang
chơi đùa với chước cám dỗ, liều mình rơi vào con đường bất hạnh.
Kết quả của sự phản bội giao ước hôn nhân phải trả bằng máu vì
đó là lời thề. Đây không phải là lý do để cho người bị phản bội
đi xin tí huyết, nhưng là lời cảnh tỉnh cho những người coi nhẹ
lòng chung thủy vợ chồng.
Ngày xưa tại Phần lan (Finland), Catherine Jagellon làm lễ thành
hôn với Jean Wasa, một sĩ quan trong quân đội quốc gia. Khi chồng
bà bị án tù chung thân vì tội phản loạn, Catherine đã xin với
vua Eric được chia sẻ cảnh tù ngục với chồng. Vua kinh ngạc, khuyên
can:
- Bà không biết chồng bà từ nay không còn được trông thấy ánh
mặt trời nữa sao?
- Tâu bệ hạ, tôi biết.
- Bà có biết chồng bà từ nay không còn được cư xử như một viên
sĩ q uan nữa, mà bị coi như một tên phản quốc không?
- Tâu bệ hạ tôi biết, nhưng tự do hay tù ngục, có tội hay vô tội,
anh ấy vẫn là chồng tôi.
-
Nhưng sau những sự kiện xảy ra, bà không còn bị ràng buộc với
chồng nữa. Từ nay bà được tự do.
Catherine không trả lời. Bà đưa chiếc nhẫn cưới cho vua xem và
nói:
- Xin ngài đọc.
Trên chiếc nhẫn khắc hai chữ “MORS SOLA”, nghĩa là “chỉ có cái
chết” mới cắt đứt tình yêu vợ chồng. Nếu bị cắt đứt khi còn sống,
cái chết là lời nguyền rủa giáng trên kẻ phản bội giao ước. Catherine
theo chồng vào tù, chia sẻ nỗi khổ với chồng 17 năm, cho đến khi
vua Eric băng hà.
Tại Việt nam, sau năm 1975, hàng trăm ngàn chiến sĩ Cộng hoà bị
bắt đi tù trong các trại cải tạo. Biết bao người vợ của những
tù nhân chung thủy tần tảo nuôi con, tiếp tế cho chồng trong nhiều
năm trời, và còn biết bao tấm gương sáng ngời thủy chung khác
của những đôi vợ chồng Công giáo Việt nam. Đây là những ngọn đèn
chiếu sáng giữa thế giới tăm tối ngày nay, khiến cho những tâm
hồn phản trắc, bội bạc phải xấu hổ và nghĩ lại. Những Kitô hữu
trung thành trong đời sống hôn nhân công bố rằng tình yêu thắng
vượt mọi khác biệt cá nhân, và sẵn sàng hy sinh bản thân.
B. Đời sống thánh hiến
Nếu các giáo hữu trong bậc hôn nhân làm chứng cho tình yêu của
Chúa dành cho Giáo hội, thì những người sống trong bậc thánh hiến,
các linh mục, tu sĩ là chính tình yêu của Giáo hội dành cho Chúa
Kitô. Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng đã băn khoăn suy tư về chỗ đứng,
địa vị của mình trong Giáo hội, so với những người hoạt động truyền
giáo. Thánh nữ đã vui mừng nhận ra mình là con tim của Giáo hội.
Trái tim nằm sâu trong lồng ngực, rất ẩn khuất và âm thầm nhưng
trung kiên làm việc, đập từng nhịp để chuyển máu, sự sống đến
cho cả cơ thể. Lúc nào con tim ngừng đập, con người hết sống.
Về mặt tinh thần, con tim tượng trưng cho tình yêu. Các linh mục,
tu sĩ được thánh hiến cho Thiên Chúa, nhận Chúa làm gia nghiệp,
là bạn tình. Đây chính là tình yêu của Giáo hội dành cho phu quân,
Chúa Kitô. Linh mục, tu sĩ được liên kết với Chúa Kitô bằng giao
ước lời khấn, chức thánh. Lời giao ước luôn là lời thề mang lại
ơn phúc nếu trung thành tuân giữ, đồng thời cũng là lời chúc dữ
nếu phản bội, bất trung. Lời nguyền rủa là kết quả đương nhiên
của giao ước, mà với tự do con người tự tình lựa chọn.
Chúa Kitô đã thiết lập bí tích Thánh Thể như một giao ước tình
yêu với nhân loại, với Giáo hội. Đời sống thánh hiến là lời đáp
trả của Giáo hội đối với Chúa Thánh Thể: “Chúng con sẽ sống trọn
tình nghĩa con thảo với Chúa, để đời đời được sống trong hạnh
phúc với Chúa.”
C. Hợp nhất nên một
Thánh Thể là nguồn mạch sự hiệp nhất, vì tất cả tín hữu cùng ăn
một Mình Thánh, cùng uống một chén Máu Chúa Kitô. Khi sống tinh
thần đoàn kết, hiệp nhất, người tín hữu sống mầu nhiệm Thánh Thể
cách sáng chói nhất.
Phương diện đầu tiên của sự hiệp nhất là với Giáo hội và Đức Thánh
Cha. Ngày nay, nhiều người nại vào lý luận tự nhiên của lý trí,
bị ảnh hưởng não trạng tự do dân chủ, thường dễ phê phán đường
lối của Đức Thánh Cha, của Giáo hội. Ví dụ như vấn đề cho phụ
nữ làm linh mục, cho linh mục kết hôn sẽ giải quyết được vấn đề
khan hiếm linh mục trong Giáo hội. Đây là cái nhìn thiển cận,
chỉ chữa chạy tật chứng bên ngoài của bệnh, nhưng không chữa trị
căn nguyên gây ra bệnh. Họ tưởng rằng có nhiều người choàng áo
vào làm lễ là giải quyết được vấn đề. Căn nguyên thiếu linh mục
là đời sống đức tin đã yếu kém, do trào lưu hưởng thụ vật chất
của thế giới ngày nay, sợ khó khăn, hy sinh, thiếu lý tưởng sống.
Đức Thánh Cha đã nêu rõ lập trường: Giáo hội không có quyền truyền
chức linh mục cho phụ nữ, vì Chúa Kitô trong sự tự do của Ngài
đã dành riêng chức linh mục cho nam giới; và quyết định của Ngài
không bị áp lực bởi quan niệm văn hoá, xã hội thời đó. Đức Thánh
Cha muốn nhắc nhở một chân lý quan trọng khác: Chúa Kitô hôm qua,
hôm nay, và mãi mãi vẫn là một. Ngài vẫn là vị lãnh đạo tối cao
của Giáo hội. Đức Thánh Cha chỉ là đại diện của Ngài nơi trần
gian, do đó quyền hạn của Đức Giáo Hoàng, của Toà thánh, của giám
mục, cũng chỉ đến một mức độ nào đó. Đức Thánh Cha được soi sáng
để nhận ra rằng quyền truyền chức linh mục cho phụ nữ vượt quá
giới hạn của Giáo hội.
Có người cho rằng luật độc thân của linh mục là do cơ chế Giáo
hội đặt ra, có thể thay đổi. Sự hiểu biết của Giáo hội về chân
lý vẫn còn tiếp tục tiến triển. Nhiều giáo lý, quan niệm thần
học cần được khai triển thêm cho đến mức trọn vẹn. Thời xa xưa,
khởi đầu Giáo hội, mọi người đều ở trong bậc hôn nhân, do đó các
giám mục, linh mục cũng có vợ con. Đây là điều bất đắc dĩ, phải
chấp nhận trong hoàn cảnh ban đầu. Giám mục, linh mục được gọi
là Chúa Kitô khác (alter Christus), khi truyền phép nói rằng:
“Này là Mình Thầy; này là Máu Thầy”. Do đó, họ phải theo sát Chúa
Kitô bao nhiêu có thể, cách riêng về đức đồng trinh. Do đó, luật
độc thân của linh mục không chỉ là điều lệ Giáo hội đặt ra, nhưng
phát xuất từ một chân lý được khai triển đầy đủ hơn. Ngày nay,
không ai ngu dại đến nỗi chui vào những đống rác, lục tìm lại
những máy chữ cổ gõ lọc cọc, cứng ngắc muốn gãy cả ngón tay, trong
khi kỹ thuật tân tiến cung cấp cho con người máy vi tính nhẹ nhàng.
Bãi bỏ luật độc thân của linh mục là bước thụt lùi đưa Giáo hội
về hơn ngàn năm trước. Do đó, các tín hữu cần sống tinh thần hiệp
nhất với Đức Thánh Cha, với Giáo hội cách trọn vẹn hơn nữa.
Phương diện thứ hai trong tinh thần hiệp nhất cần chú ý là lãnh
vực xứ đạo, đối với cha xứ, hội đồng điều hành. Tinh thần hiệp
nhất của người tín hữu nói lên sự trưởng thành cá nhân. Bè phái,
theo hùa nhau để đạt mục đích nào đó, là dấu hiệu ấu trĩ, trẻ
con. Con nít chưa đủ trí khôn suy nghĩ, không phải trái, thích
đông, vui, nên dễ vào hùa với nhau kết bè, kéo đảng phá phách
mà không biết lợi hại. Một người không vào hùa, không bè phái
phải tự suy nghĩ cho mình để đúng sai thế nào, hậu quả ra sao
và can đảm giữ vững lập trường của mình trước sự lôi kéo của người
khác. Điều đó chứng tỏ sự trưởng thành của đương sự. Khi người
tín hữu trưởng thành nhìn thấy điều sai trái nơi cha xứ hay người
lãnh đạo trong xứ, phải can đảm đối diện với cha xứ hay người
liên hệ để xác quyết nhận xét của mình, nếu là điều đúng đòi hỏi
có sự sửa đổi. Nếu không có hiệu quả, người ta có thể khiếu nại
đến thẩm quyền cao hơn cũng với phương thức đối diện trực tiếp.
Nếu đã cố gắng mọi cách mà không có kết quả, người tín hữu có
thể an tâm trước mặt Chúa vì mình đã làm tròn bổn phận. Người
sai lỗi phải chịu trách nhiệm trước mặt Chúa vì những thiệt hại
cho giáo xứ, Giáo hội.
Tuy nhiên, trong nhiều giáo xứ hiện nay, tình trạng bè phái đang
làm tổn thương trầm trọng cho nhiệm thể Chúa Kitô. Nhiều người
lên đến bậc trưởng thượng, nhưng hành động thiếu trưởng thành;
lập bè, lập phái chống đối cha xứ; viết thư nặc danh kể tội bêu
xấu đủ điều, rồi còn biểu tình, cầm bảng, la ó rùm beng. Tất cả
những cái đó chẳng giúp đích được gì, nếu không phải gây nên một
cảnh hoả ngục ngay trong Giáo hội. Thân thể Chúa Kitô đang bị
đả thương trầm trọng, người tín hữu cần trưởng thành trong đức
tin, tự suy nghĩ để theo điều hay tránh điều dở, tránh bè phái,
vào hùa, luôn hành động để xây dựng cho nhiệm thể Chúa Kitô, dù
phải chịu phần nào thiệt thòi. Nhờ vậy, mỗi khi tiến lên rước
Mình và Máu Thánh Chúa, chúng ta được liên kết với Chúa Kitô cách
trọn vẹn.
|
|