|
|
Phụng
vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể
Ngày
9-5-2001 vừa qua, trước sự hiện diện của 150 ngàn tín hữu, tức
là gần nửa dân số toàn đảo Malta, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
đã tôn phong ba vị chân phước đầu tiên của Giáo hội tại đây, nổi
bật là cha George Preca (1880-1962), người sáng lập Hội Giáo lý
kitô, gồm các giáo dân đặc trách giảng dạy giáo lý cho các trẻ
em. Trong việc thực hiện sáng kiến này, cha Preca đã phải vượt
qua nhiều khó khăn từ phía giáo quyền sở tại.
Thực vậy, hồi đầu thế kỷ 20, có nhiều tư tưởng sai lầm được truyền
bá ở Malta, nên giáo quyền Công giáo tại đây thường nhìn những
hoạt động và tổ chức mới mẻ với cặp mắt lo lắng và ngờ vực, sợ
rằng một số lạc thuyết mới có thể xâm nhập và làm hại các tế bào
truyền thống của Kitô giáo. Vì thế, khi được tin có một nhóm thanh
niên thường xuyên họp nhau để nói về Chúa, cha Salvatore Grech,
tổng đại diện giáo phận La Valetta, thủ đô Malta, cảm thấy lo
sợ. Cha càng sợ vì có nhiều người chạy đến để nghe cha Preca và
các đệ tử của cha nói về Chúa một cách đơn sơ rõ ràng, và thậm
chí họ còn “cả gan” mở sách Kinh thánh ra để đọc, một cuốn sách
mà hồi đó người ta vẫn còn quan niệm là chỉ có các linh mục mới
được đọc, chứ không phải giáo dân. Sau đó, cha tổng đại diện Salvatore
Grech ra lệnh cho cha Preca phải đóng cửa tất cả các trung tâm
giáo lý cha đã mở ra.
Nhưng rồi với thời gian và sau nhiều cuộc điều tra, dần dần giáo
quyền đã nhận Hội Giáo lý Kitô của cha Preca, và ngày nay, hội
này có khoảng 110 trung tâm với hơn một ngàn thành viên. Họ đang
giảng dạy giáo lý cho 20 ngàn trẻ em tại đảo Malta, Úc, Pere,
Sudan, Anh quốc, Kenya và Albani.
Trong cùng thời đại vừa nói của cha Preca, có hiện tượng nói chung
trong Giáo hội Công giáo, đó là giáo dân ít được khuyến khích
đọc và suy niệm Kinh thánh, và cũng trong bối cảnh đó, phần phụng
vụ Lời Chúa trong thánh lễ không được nhấn mạnh. Ngày xưa, người
ta thường nêu vấn nạn: khi đi dự lễ, bỏ đi phần nào trong thánh
lễ thì bị coi là mất lễ? Và thường câu trả lời phản ảnh quan niệm
trên cho rằng phần cốt yếu trong thánh lễ là phần truyền phép,
vì thế, nếu có bỏ phần phụng vụ Lời Chúa thì cũng chẳng sao. Có
lẽ cũng vì thế mà trước kia, ít là một số nơi ở Việt nam, người
ta thường thấy có hiện tượng là khi đi dự lễ Chúa nhật, nhiều
thanh niên thường đứng ngoài nhà thờ nói chuyện, đợi cho đến lúc
cha giảng xong rồi mới vào nhà thờ và họ yên tâm là đã giữ trọn
nhiệm vụ “xem lễ ngày Chúa nhật”.
Những quan niệm thiếu sót trên đây đã được Công đồng Vaticanô
II đặc biệt sửa sai khi đề cao giá trị của hai phần chủ yếu trong
thánh lễ: Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể.
Hai
phần chủ yếu của thánh lễ
Thánh lễ được bắt đầu với phần dẫn nhập: gồm có nghi thức tiến
vào, lời chào của vị chủ tế, nghi thức thống hối tội lỗi để xin
ơn tha thứ, với ý thức mạnh mẽ rằng cá nhân và cả cộng đoàn tín
hữu đều cần đến lòng từ bi yêu thương của Chúa Cha, Đấng chẳng
những luôn sẵn sàng đón nhận, nhưng còn truyền mở tiệc khi người
con hoang đàng trở về nhà cha. Tiếp đến, kinh Vinh danh được hát
hoặc đọc lên trong những lễ kính và lễ trọng. Kinh này nhắc lại
bài ca của các thiên thần trong đêm Chúa giáng sinh ở Bêlem (Lc
2:13-14), và biểu lộ tâm tình thờ lạy Thiên Chúa, chúc tụng, cảm
tạ, cầu khẩn Chúa Kitô, Đấng xóa tội trần gian.
Lời nguyện của ngày lễ. Lời nguyện này có một cơ cấu hướng về
Ba Ngôi Thiên Chúa, nghĩa là lời nguyện luôn luôn được dâng lên
Chúa Cha, nhân danh Chúa Kitô Con của Ngài, là Đấng hằng sống
và hằng trị cùng với Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần ngự trong
chúng ta và ban cho chúng ta ánh sáng để hiểu mầu nhiệm chúng
ta đang cử hành và ban sức mạnh để làm chứng cho mầu nhiệm ấy.
Việc cử hành thánh lễ gồm hai phần chính: Phụng vụ Lời Chúa và
Phụng vụ Thánh Thể. Hai phần này “liên kết chặt chẽ với nhau đến
độ hợp thành một hành vi phụng tự duy nhất” như Công đồng Vatican
II đã xác quyết trong Hiến chế về Phụng vụ thánh (SC 56). Thực
vậy, bàn tiệc được thiết lập cho chúng ta trong thánh lễ vừa là
bàn tiệc Lời Chúa và đồng thời cũng là bàn tiệc Mình Máu thánh
Chúa (DV 21). “Trong Lời Chúa có công bố giao ước của Thiên Chúa
và trong Phụng vụ Thánh Thể, giao ước ấy được trình bày lại như
một giao ước mới và vĩnh cửu. Trong Phụng vụ Lời Chúa, lịch sử
cứu độ được gợi lại bằng lời nói. Trong Phụng vụ Thánh Thể, lịch
sử ấy được tái diễn qua các dấu chỉ bí tích. Vì thế, cần luôn
nhớ rằng Lời Chúa được Giáo hội đọc và rao giảng trong phụng vụ,
một cách nào đó đều dẫn đưa tới hy tế giao ước và bàn tiệc hồng
phúc là Thánh Thể. Do đó, việc cử hành thánh lễ, trong đó chúng
ta nghe Lời Chúa, dâng hiến và lãnh nhận Thánh Thể, họp thành
một hành vi duy nhất của việc phụng tự Chúa, nhờ đó lễ hy sinh
được dâng lên Thiên Chúa và ơn cứu độ sung mãn được thông ban
cho con người” (Ordo lectionum Issae, Praenotanda, 10, 1981, Congregazione
per il Culto Divino).
Giáo phụ Origène (183-252) cũng nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ
giữa việc lắng nghe Lời Chúa và rước lễ, khi khẳng định rằng:
“Anh em vốn có thói quen tham dự các mầu nhiệm của Chúa, anh em
biết cần phải cung kính khi rước Chúa như thế nào, để khỏi làm
rơi dù là một mụn bánh nhỏ... Anh em cảm thấy có lỗi và thực sự
là anh em có lỗi nếu việc làm rơi Bánh Thánh xảy ra vì sự lơ là
của anh em. Cũng vậy... làm sao việc lơ là với Lời Chúa có thể
không trầm trọng cho bằng việc lơ là với Mình Thánh Ngài?”
Cũng vì thế, các tín hữu không những được mời gọi tham dự thánh
lễ trong Ngày của Chúa, nhưng còn phải hiện diện ngay từ đầu lễ
để lắng nghe trọn vẹn phần Phụng vụ Lời Chúa mời gọi chúng ta
hoán cải. Trước Công đồng Vatican II, phần Phụng vụ Lời Chúa không
được nhấn mạnh bao nhiêu, và trọng tâm được đặt nơi Phụng vụ Thánh
Thể, nhất là phần thánh hiến Mình Thánh Chúa.
Phụng
vụ Lời Chúa
Phụng vụ Lời Chúa chủ yếu gồm các bài đọc Kinh thánh được xen
kẽ bằng thánh ca. Qua các bài đọc sách thánh, được giải thích
bằng bài giảng, Thiên Chúa nói với dân Ngài và nuôi dưỡng họ bằng
sức sống thiêng liêng của Ngài; chính Chúa Giêsu Kitô hiện diện
trong Lời Ngài giữa các tín hữu. Thánh vịnh đáp ca là lời đáp
lại của cộng đoàn, và kinh Alleluia chào kính sự hiện diện của
Chúa trong Tin mừng. Việc tuyên xưng đức tin hay là kinh Tin kính
nói lên tâm tình gắn bó của cộng đoàn tín hữu với Lời Chúa mà
họ vừa nghe công bố trong các bài đọc sách thánh và trong bài
giảng. Trong lời nguyện cho mọi người hay cũng được gọi là lời
nguyện giáo dân, các tín hữu thi hành chức linh mục chung của
mình khi cầu nguyện cho tất cả mọi người, nhất là những người
đau khổ.
Như vừa nói, xưa kia, Phụng vụ Lời Chúa không được coi trọng trong
thánh lễ, và việc chọn lựa các bản văn Kinh thánh không được dồi
dào, và chính bài giảng nhiều khi không được hướng dẫn bởi Lời
Chúa trong ngày ấy; ngày nay, Phụng vụ Lời Chúa được phong phú
hơn và trở thành trung tâm hoạt động phụng vụ, đến độ không thể
có cử hành phụng vụ mà không có Lời Chúa. Lý do vì mỗi khi, trong
Giáo hội, chúng ta đọc Kinh thánh, lúc ấy chính Thiên Chúa nói
với dân Ngài và Đức Kitô, hiện diện trong Lời Ngài, loan báo Tin
mừng: “Chúa Kitô hằng hiện diện trong Giáo hội, nhất là là trong
các hoạt động phụng vụ: (...) Ngài hiện diện thiết thực trong
lời của Ngài vì chính Ngài nói khi ta đọc Thánh kinh trong Giáo
hội” (SC 7).
“Trong việc cử hành Phụng vụ, Thánh kinh giữ vai trò tối quan
trọng. Thực vậy, người ta trích từ thánh kinh những bài để đọc,
những bài để dẫn giải trong bài giảng, cũng như những ca vịnh
để hát. Chính nguồn cảm hứng và sức phấn khởi của Thánh kinh cũng
làm xuất phát những lời kinh, lời nguyện, và những bài phụng ca,
đồng thời làm cho những động tác và các biểu hiệu trở thành ý
nghĩa. Vì vậy, để xúc tiến việc canh tân, phát triển và thích
ứng Phụng vụ, cần phải phát huy lòng mộ mến Thánh kinh đậm đà
và sống động, đã được truyền thống khả kính của các nghi lễ Đông
phương và Tây phương minh chứng” (SC 24).
Chính vì thế, Công đồng Vatican II dạy rằng các bài đọc Lời Chúa,
vì cấu thành một yếu tố hết sức quan trọng của phụng vụ, nên phải
được tất cả mọi người lắng nghe với lòng tôn kính. Và mặc dù Lời
Chúa trong các bài đọc Kinh thánh được gửi tới tất cả mọi người
trong mọi thời đại, và họ có thể hiểu được, nhưng hiệu năng của
Lời Chúa được nuôi dưỡng bằng sự trình bày sinh động, nghĩa là
bằng bài giảng, được coi như thành phần của hoạt động phụng vụ
(SC 52).
Bài
giảng
Trong phụng vụ Lời Chúa, có bài giảng như một yếu tố cần thiết
để nuôi dưỡng đời sống Kitô. Bài giảng phải là bài giải thích
về một vài khía cạnh của các bài đọc Kinh thánh, hoặc về một văn
bản khác của phần thường lễ hoặc phần riêng của thánh lễ trong
ngày, để ý đến mầu nhiệm được cử hành, cũng như về những nhu cầu
đặc biệt của người nghe. Trong cùng Hiến chế về Phụng vụ Thánh,
Công đồng dạy rằng: "Bài giảng căn cứ vào Thánh kinh để trình
bày các mầu nhiệm đức tin và những qui tắc cho đời sống Kitô giáo
trong suốt chu kỳ năm phụng vụ, rất đáng được coi như thành phần
của chính phụng vụ. Hơn nữa, trong thánh lễ được cử hành những
ngày Chúa nhật và lễ buộc có dân chúng tham dự, không được bỏ
giảng, nếu không có lý do hệ trọng" (SC 52).
Bài giảng làm cho Lời Chuá trở nên hiện tại, nghĩa là cho thấy
công trình của Chúa Giêsu phải tiếp tục qua đời sống của các tín
hữu Kitô: ngày nay họ là Chúa Giêsu đang giúp đỡ, chữa lành, an
ủi, cầu nguyện, mời gọi đừng gây gương mù cho trẻ em, nói về Thiên
Chúa với những ai quên Ngài.
Nghe bài giảng không phải là một hành vi thụ động, như nghe những
tiếng nói phát xuất từ máy thu thanh mở ra một cách tình cờ. Đó
là một hoạt động đòi hỏi sự cố gắng. Đó là sự khám phá Thiên Chúa
muốn gì ngày nay, và bây giờ. Cần sự kiên nhẫn và đức tin. Nếu
không, các tín hữu Kitô chỉ quan tâm đến những nhà giảng thuyết
hùng biện mà thôi. Ai nghe Lời Chúa với tất cả cố gắng sẽ thấy
Chúa Giêsu đang nói với mình nơi mỗi linh mục.
Trong nhiều trường hợp, sở dĩ giáo dân không ý thức được tầm quan
trọng của Phụng vụ Lời Chúa trong thánh lễ, hoặc không kín múc
được nhiều lương thực thiêng liêng từ Lời Chúa, một phần không
nhỏ cũng vì sự thiếu sót của linh mục.
Thực vậy, thời đại ngày nay là thời đại của truyền hình, dân chúng
thường được lớn lên trong nền văn minh hình ảnh. Từ bé, nhiều
người đã theo "đạo chầu TV", hoặc ít ra cũng được bố
mẹ chọn TV làm "baby-sitter" cho, mỗi ngày vài ba tiếng
đồng hồ. Ngoài ra, còn có đủ loại báo chí, phim ảnh, quảng cáo,
khiến cho tập quán lắng nghe của họ cũng bị thay đổi. Các cuộc
điều tra nghiên cứu cho thấy dân chúng ngày nay thường khó có
khả năng chú lý lắng nghe những bài dài quá 6 phút. Chỉ cần xem
các mục tin tức trên đài truyền hình: người ta phải ráp nối tin
tức, phóng sự và phỏng vấn cùng với giọng đọc nối tiêp nhau sao
cho khán thính giả khỏi chán. Trước tình trạng đó, thách đố mà
nhà giảng thuyết phải đương đầu càng lớn lao nhiều hơn, và chắc
chắn có nhiều người không vượt qua được thách đố đó, như nhà thần
học Karl Rahner, S.J đã nhận xét: “Nhiều người đã rời bỏ Giáo
hội vì ngôn ngữ xuất phát từ các toà giảng không có ý nghĩa gì
đối với họ; những bài giảng đó chẳng ăn nhằm gì tới cuộc sống
của họ và chỉ lướt qua nhiều vấn đề nghiêm trọng mà không thể
bỏ qua được... Những khó khăn trong việc giảng thuyết ngày càng
lớn”. Có những người bi quan hơn thì nhận định rằng cái thời giảng
thuyết nay đã qua rồi. Anthony Trollope còn đi tới độ nói rằng:
“Ngày nay, có lẽ không có sự cực nhọc nào lớn hơn sự cực nhọc
mà người ta giáng trên nhân loại tại những nước văn miunh và tự
do cho bằng sự bó buộc phải nghe giảng”.
Có những nhà giảng thuyết quen giảng dài và khô, tự an ủi mình
bằng cách trưng dẫn sự tích thánh Phaolô, mặc dù có tài hùng biện
với những chân lý cứu độ thâm thúy như vậy, thế mà bài giảng của
thánh nhân cũng đã làm cho chàng thanh niên Eutychus buồn ngủ
đến độ từ trên thành cửa sổ xuống đất chết tốt (Cv 20:9). Tuy
nhiên, cũng có nhiều người khác cố gắng thích ứng việc giảng thuyết
với đời sống văn minh hihện nay. Các bài giảng thường ngắn gọn
hơn và nhiều hình ảnh ví dụ hơn; kiểu nói theo “thánh thuật hùng
biện” trước kia được thay thế bằng lối nói chuyện thân tình hơn.
Nhiều nhà thờ tin lành còn đặt ra hai toà giảng và hai nhà giảng
thuyết đối thoại, phỏng vấn nhau về một vấn đề nào đó; đó là không
kể tới những nhà giảng thuyết trên truyền hình trổ tài làm cho
tín đồ khán thính giả cảm động gửi ngân phiếu ào ào về cho mục
sư.
Có những linh mục hình như theo sát nút lời khuyên “Chưa tới cầu
đừng lo thiếu cách qua sông” của Dale Carnegie trong cuốn “Quẳng
gánh lo đi”, nên cứ để cả tuần lo chạy việc này việc kia, và đến
lễ cuối tuần mới giở sách báo dọn bài giảng ra quơ đại bài suy
niệm Lời Chúa hoặc bài giảng “đồ hộp”, rồi tán giải trên toà giảng.
Cũng không thiếu những cha sở hoặc cha quản nhiệm Việt Nam có
thói quen “chộp” cha khách vào phút chót vừa tới thăm và xin cha
giảng dùm.
Cũng vì coi nhẹ bài giảng và không được chuẩn bị kỹ lưỡng trước
như thế, nên nhiều khi bài giảng dài lê thê, dường như vị giảng
thuyết nói đi nói lại cho đến khi nào tìm được những ý tưởng để
thực sự thông truyền cho thính giả. Đó cũng là một lý do kơhiến
cho Phụng vụ Lời Chúa chưa được tín hữu ý thức cho đủ tầm quan
trọng và chưa cảm nghiệm được lương thực thiêng liêng của Lời
Chúa.
Một ngày kia, người ta hỏi văn hào người Mỹ, Mark Twain (1835-1910),
đâu là bí quyết thành công trong việc giảng thuyết. Ông đáp: “Phải
ngắn gọn!” Sau đó, ông kể giai thoại này: “Một hôm, tôi nghe một
bài giảng về các xứ truyền giáo. Sau năm phút đầu, tôi có xúc
động vì bài giảng nên tôi quyết định sẽ tặng 50 mỹ kim cho công
cuộc truyền giáo này. Bài giảng tiếp tục, sau 10 phút, tôi nghĩ
rằng chỉ cần 40 mỹ kim là đủ. Ba mươi phút sau, tôi nghĩ rằng
nếu mình cho hơn 10 mỹ kim thì thật là điên rồ. Và sau một tiếng
đồng hồ, bài giảng chấm dứt, tôi tức quá, chẳng những không tặng
đồng nào, mà lại còn lấy trộm hai mỹ kôim ở cái giỏ quyên tiền
của nhà thờ!”
Đức cố Hồng y Tisserant, niên trưởng Hồng y đoàn, nhận định rằng:
“Nếu để diễn tả một ý tưởng mà bạn phải dùng hơn mười chữ, điều
đó có nghĩa là bạn không có một ý tưởng nào trong đầu!”
Phụng
vụ Thánh Thể
Phụng vụ Thánh Thể gồm ba phần là: nghi thức chuẩn bị, kinh nguyện
Thánh Thể, và phần hiệp lễ.
1. Trong nghi thức chuẩn bị bánh, rượu và nước, nghĩa là chính
các yếu tố mà Chúa Kitô đã cầm trong tay xưa kia, được mang lên
bàn thờ giữa tiếng hát và lời kinh. Phần này kết thúc bằng “Lời
nguyện trên lễ vật”. Đây là lời cầu đầy tâm tình tín thác, cầu
xin Chúa Cha tiếp nhận những lễ vật mà chính Ngài đã đặt trong
tay Giáo hội, và dùng quyền năng của Ngài biến thành bí tích cứu
độ, và nhờ Chúa Kitô trung gian, làm cho các tín hữu được trở
nên hoàn thiện trong tình hiệp nhất với Ngài và với nhau, để Thiên
Chúa trở thành tất cả trong mọi sự (SC 48).
2. Với “Kinh nguyện Thánh Thể”, là kinh Tạ ơn và những lời truyền
phép, chúng ta đi vào trọng tâm và tột đỉnh của việc cử hành thánh
lễ. Trong kinh nguyện Thánh Thể, chúng ta tạ ơn Thiên Chúa vì
tất cả công trình cứu độ và lễ vật trở thành Mình và Máu Chúa
Kitô.
Kinh nguyện Thánh Thể gồm các yếu tố chính:
- Tạ ơn: hành động này được biểu lộ đặc biệt trong kinh Tiền tụng
- vị chủ tế, nhân danh toàn thể dân thánh, tôn vinh Thiên Chúa
Cha và cảm tạ Ngài vì toàn thể công trình cứu độ hoặc một khía
cạnh đặc biệt nào đó trong công trình cứu độ, tùy theo ngày, lễ
hoặc mùa khác nhau.
- Tung hô chúc tụng: toàn thể cộng đoàn dự lễ, hiệp với các triều
thần thiên quốc, hát hoặc đọc kinh “Thánh! Thánh! Thánh!” Việc
tung hô này thuộc về kinh nguyện Thánh Thể, được dân chúng cùng
đọc hoặc hát với vị linh mục.
- Cầu xin Chúa Thánh Thần (Epiclesi): Giáo hội, với những lời
cầu khẩn đặc b iệt, nguyện xin quyền năng Chúa, để các lễ vật
loài người dâng hiến được thánh hoá, nghĩa là trở thành Mình và
Máu Chúa Kitô, và để lễ vật tinh tuyền, được tiếp rước trong phần
hiệp lễ, mang lại ơn cứu độ cho những người tham dự.
- Trình thuật phần lập bí tích Thánh Thể: qua những lời đọc và
cử chỉ của Chúa Kitô, Bữa Tiệc ly được tái diễn, trong đó chính
Chúa Kitô lập bí tích khổ nạn và phục sinh của Ngài, khi Ngài
ban cho các tông đồ Mình và Máu Ngài để ăn và uống, dưới hình
bánh và hình rượu, và để lại cho họ mệnh lệnh tiếp tục làm như
vậy để mầu nhiệm ấy được trường tồn.
- Tưởng niệm (anammesi): Giáo hội, thi hành mệnh lệnh của Chúa
ban cho các tông đồ, tưởng niệm Chúa Kitô, nhắc nhớ cuộc khổ nạn
hồng phúc và sự sống lại vinh hiển và việc lên trời của Chúa.
- Dâng hiến: trong cùng lễ tưởng niệm ấy, Giáo hội và đặc biệt
là cộng đoàn đang tụ họp lúc ấy tại nơi đó, dâng lên Chúa Cha
trong Thánh Linh hiến vật tinh tuyền. Giáo hội mong muốn rằng
các tín hữu không những dâng hiến vật tinh tuyền, nhưng còn học
cách dâng hiến bản thân mình, và như thế mỗi ngày họ thi hành
việc kết hiệp với Thiên Chúa và tha nhân, nhờ sự trung gian của
Chúa Kitô, và để Thiên Chúa trở nên mọi sự trong mọi người: “Giáo
hội hằng quan tâm lo cho các Kitô hữu tham dự vào mầu nhiệm đức
tin ấy, không phải như những khách bàng quan, câm lặng, nhưng
là những người thấu đáo mầu nhiệm đó nhờ các nghi lễ và kinh nguyện
họ tham dự hoạt động thánh một cách ý thức, thành kính và linh
động: được huấn luyện bằng Lời Chúa, được bổ sức nơi bàn tiệc
Mình Chúa họ tạ ơn Chúa; và trong khi dâng lễ vật tinh tuyền,
họ không chỉ nhờ tay linh mục mà còn liên kết với Ngài, họ tập
dâng chính mình; và ngày qua ngày, nhờ Chúa Kitô Đấng Trung Gian,
học được tiêu hao trong tình liên kết với Thiên Chúa và với nhau,
để sau cùng Thiên Chúa trở nên mọi sự trong mọi người” (SC 48).
- Chuyển cầu: trong những lời chuyển cầu ấy diễn tả sự kiện thánh
lễ được cử hành trong tình hiệp thông với toàn thể Giáo hội, thiên
quốc cũng như trần thế, và việc dâng lễ được thực hiện cho Giáo
hội và toàn thể mọi thành phần Giáo hội, còn sống cũng như đã
qua đời, học được mời gọi tham dự ơn cứu chuộc và cứu độ thủ đắc
nhờ Mình và Máu Chúa Kitô.
- Tụng ca “Chính nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô và trong Đức
Kitô...” kết thúc diễn tả sự tôn vinh Thiên Chúa: sự tôn vinh
này được đồng thanh biểu lộ bằng tiếng thưa Amen của dân Chúa.
Kinh nguyện Thánh Thể đòi mọi người phải lắng nghe với sự tôn
kính và trong thinh lặng. Họ tham dự qua những lời đáp lại được
quy định trong nghi thức.
3. Nghi thức rước lễ: Vì việc cử hành thánh lễ là một bữa tiệc
Vượt qua, nên theo mệnh lệnh của Chúa, cần phải rước lấy Mình
Máu thánh Chúa như lương thực thiêng liêng.
- Kinh Lạy Cha, gồm bảy lời cầu: ba lời đầu liên hệ tới chính
Thiên Chúa: “Xin cho danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha
thtể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Bốn lời sau liên quan
đến những nhu cầu vật chất và tinh thần của chúng ta, trong đó
có lời cầu xin lương thực hằng ngày, được ban cho các tín hữu
đặc biệt trong Mình thánh Chúa Kitô, và cầu xin ơn thanh tẩy mọi
tội lỗi. Linh mục mời tất cả các tín hữu cùng với ngài đọc kinh
Lạy Cha. Sau đó, vị chủ tế đọc thêm lời nguyện xin cho toàn thể
cộng đoàn tín hữu được giải thoát khỏi quyền lực sự ác.
-
Nghi thức bình an: Kinh Lạy Cha được nối tiếp với lời kinh “Lạy
Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin cho những ngày chúng
con đang sống được bình an, nhờ Cha rộng lòng thương cứu giúp,
chúng con luôn thoát khỏi tội lỗi và được an toàn khỏi mọi biến
loạn...” Kinh này có từ thế kỷ thứ năm và được soạn tại Roma lúc
đó đang phải chịu sự xâm lăng của dân man di. Qua lời kinh này,
các tín hữu cầu xin ơn an bình và hiệp nhất cho toàn thể Giáo
hội và gia đình nhân loại, và biểu lộ tình yêu đối với nhau, trước
khi rước Mình thánh duy nhất của Chúa. Thực vậy, tai ương lớn
nhất là mất bình an. Bao dân tộc trên thế giới biết rõ điều đó
khi họ thường sống trong tình trạng kinh hoàng, phá hoại, đói
khát, chiến tranh và chết chóc. Do lòng từ bi, Chúa giải thoát
chúng ta khỏi tội lỗi là căn nguyên của mọi sự ác và tai ương.
- Cử chỉ bẻ bánh, do Chúa Kitô thực hiện trong Bữa Tiệc ly, từ
thời các thánh tông đồ, đã mang lại tên cho việc cử hành thánh
lễ. Cử chỉ này không những có lý do thực hành, nhưng coòn có ý
nghĩa là tất cả chúng ta tuy nhiều, nhưng trở thành một thân thể
duy nhất khi rước một Bánh duy nhất là Chúa Kitô (1 Cor 10:17).
Tóm lại, nghi thức chúc bình an và bẻ bánh nói lên rằng khi chia
sẻ cùng một bánh thánh, chúng ta được liên kết với nhau chặt chẽ
hơn trong Nhiệm Thể duy nhất củêa Chúa Kitô. Kinh “Lạy Chiên Thiên
Chúa” đi kèm nghi thức này, được kết thúc bằng lời cầu khẩn: “Xin
ban bình an cho chúng con.” Sau phần hiệp lễ, một lời nguyện cuối
cùng x in Chúa cho bí tích Thánh Thể sinh hoa trái trong chúng
ta.
Lời chào kết thúc và phép lành của vị chủ tế, kèm theo lời giải
tán các tín hữu chấm dứt việc cử hành thánh lễ. Những nghi thức
trên đây nhắc nhớ rằng những người tham dự thánh lễ phải tiếp
tục sống trong tinh thần tạ ơn.
Sống
thánh lễ
Linh mục Nazareno Rocchi, một thừa sai Italia làm việc truyền
giáo trong gần 50 năm tại Nhật bản và coi sóc xứ đạo Enzai, cách
thủ đô Tokyo 100 cây số. Cha kể lại rằng: “Một hôm có một giáo
sư đại học trẻ, người Nhật, xin gặp tôi mỗi tuần hai buổi tối
để thảo luận về các vấn đề tôn giáo và Phúc âm, mặc dù ông chưa
phải là tín hữu Kitô. Các cuộc thảo luận như vậy kéo dài hơn một
năm trời. Viên giáo sư đó bày tỏ cho tôi những thắc mắc về tôn
giáo, đồng thời xin tôi giải thích về Phúc âm, về Giáo hội và
giáo huấn luân lý của Chúa Kitô. Sau hơn một năm, tôi cảm thấy
viên giáo sư thông minh đó có vẻ sẵn sàng đón nhận bí tích rửa
tội, nên tôi hỏi ông ta xem có muốn rửa tội và gia nhập Giáo hội
Công giáo hay không. Tôi ngạc nhiên vì thấy ông ta lịch sự từ
chối và từ đó tôi không thấy ông lui tới gặp tôi nữa.
“Mười tháng sau, khi tôi hầu như đã quên viên giáo sư đó thì một
hôm ông ta trở lại gặp tôi và nói: ‘Thưa cha, cha đã thuyết phục
được con! Bây giờ con sẵn sàng đón nhận bí tích rửa tội vga con
cũng đã chuẩn bị vợ con và hai đứa con của con nữa’. Nghe đến
đây, tôi rất ngạc nhiên và hỏi xem điều gì đã làm cho ông ta thay
đổi ý kiến như vậy. Ông đáp: “Trong những tháng qua, con đã âm
thầm quan sát xem cha đã sống như thế nào. Cha từng nói với con
là cha dâng thánh lễ một mình trong nhà thờ mỗi ngày vào lúc 7
giờ sáng. Đó cũng là giờ con ra ga xe lửa để tới Tokyo dạy học.
Vì thế con vẫn có dịp đi qua nhà nguyện củêa cha, con dừng lại
một lát, nhìn vào cửa sổ xem cha làm gì trong đó. Bao giờ con
cũng thấy cha ở trong nhà thờ và cầu nguyện, hầu như lần nào cũng
chỉ có một mình, và lúc đúng 7 giờ, cha làm lễ thật sốt sắng.
Rồi con cũng dò hỏi nhiều người khác về cách sống của cha như
thế nào. Qua những cuộc điều tra đó, con thấy quả thực cha đã
tin và sống những điều cha đã dạy con. Nếu cha tin thực như thế
thì con cũng phải tin. Xét về mặt kiến thức, thì con đã xác tín
về chân lý Phúc âm, nhưng con muốn xem cha có sống Phúc âm thực
sự hay không” (Piero Gheddo, Il Vangelo delle 7.18, Novarra, 1989,
pp. 36-38).
Cha Rocchi không những truyền giáo bằng lời giảng dạy, nhưng còn
bằng chính cuộc sống của cha. Dù có giáo dân dự lễ hay không,
cha vẫn sống xác tín thánh lễ là trung tâm và là tột đỉnh của
đời sống Kitô giáo, đó không phải là việc đạo đức riêng tư, và
cha dâng lễ trong niềm kết hiệp với toàn thể Giáo hội.
Không những các linh mục, nhưng tất cả mọi tín hữu Kitô cũng đều
được mời gọi sống trọn xác tín “thánh lễ là điều quan trọng nhất
trong đời sống Kitô”, và thánh lễ phải được kéo dài trong cuộc
sống thường nhật. Kéo dài như thế nào?
Trong Tông huấn “Christifideles Laici” về tín hữu giáo dân, đoạn
14, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã giải thích về sự tham gia
của giáo dân vào sứ mạng tư tế, sứ ngôn, và vương giả của Chúa
Giêsu Kitô. Riêng về việc tham gia vào sứ vụ tư tế, ĐTC viết:
trong sứ vụ này, Chúa Giêsu dâng hiến chính mình trên thánh giá
và còn tiếp tục tự hiến trong việc cử hành thánh lễ để tôn vinh
Chúa Cha hầu mưu phần rỗi cho nhân loại. Vì được tháp nhập vào
Chúa Giêsu Kitô, nên các tín hữu cũng hiệp nhất với Ngài và với
lễ hy sinh của Ngài bằng cách hiến dâng bản thân và toàn thể các
hoạt động của mình (cf. Rom 12:1-2). Khi nói về các tín hữu giáo
dân, Công đồng dạy trong số 34 của Hiến chế Ánh sáng Muôn dân
rằng: “Mọi hoạt động, kinh nguyện và việc tông đồ, đời sống hôn
nhân và gia đình, công ăn việc làm thường ngày, việc nghỉ ngơi
thể xác và tinh thần, nếu giáo dân chu toàn trong Thánh Linh của
Thiên Chúa, và cả những thử thách của cuộc sống, nếu họ kiên trì
chịu đựng, thì tất cả đều trở nên lễ vật thiêng liêng đẹp lòng
Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô (cf. 1 Pet 2:5); và những của lễ
ấy được thành kính dâng lên Chúa Cha cùng với Mình Thánh Chúa
khi cử hành thánh lễ. Như thế, giáo dân thánh hiến thế giới này
cho Thiên Chúa và phụng thờ Ngài ở mọi nơi trong cuộc sống thánh
thiện của mình” (LG 34).
|
|