|
|
| |
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL |
|
Mầu
Nhiệm Thánh Thể – Ơn Gọi Làm Người
Tổng Quan về Thông Điệp Thánh Thể của ĐTC Gioan Phaolô II
Theo tài liệu được Zenit phổ biến ngày Thứ Năm Tuần Thánh, 17/4/2003,
thì Văn Phòng Báo Chí của Tòa Thánh đã phổ biến một bản tóm lược
về Bức Thông Điệp về Thánh Thể với Giáo Hội cùng ngày Thứ Năm
Tuần Thánh, trước khi Đức Thánh Cha ký ban hành bức Thông Điệp
này trong Thánh Lễ Tiệc Ly ban chiều. Nguyên văn của bản tổng
tóm này như sau:
Bức Thông Điệp thứ 14 của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được
ban hành với mục đích cống hiến một ý thức sâu xa hơn về mầu nhiệm
Thánh Thể liên quan đến Giáo Hội. Bản văn kiện tương đối ngắn
nhưng quan trọng về khía cạnh thần học, qui luật và mục vụ. Bản
văn sẽ được ký ban hành vào Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, trong Thánh
Lễ Tiệc Ly, nơi khung cảnh phụng vụ mở màn cho Tam Nhật Vượt Qua
(the Paschal Triduum).
Hy Tế Thánh Thể, “nguồn mạch và là tột đỉnh của đời sống Kitô
giáo”, chất chứa tất cả những gì phong phú thiêng liêng của Giáo
Hội đó là Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã hiến mình cho Chúa Cha vì phần
rỗi của thế giới. Trong việc cử hành “mầu nhiệm đức tin” này,
Giáo Hội làm cho Tam Nhật Vượt Qua trở thành “đương thời” với
con người nam nữ ở hết mọi thế hệ.
Chương thứ nhất, chương về Nhiệm Đức Tin”, là chương cắt nghĩa
về bản tính hy hiến của Thánh Thể là hy hiến, nhờ thừa tác vụ
của linh mục, được làm cho hiện thực một cách bí tích nơi từng
Thánh Lễ mình Chúa Kitô “đã trao nộp” và máu Người “đã đổ ra”
để cứu độ thế gian. Việc cử hành Thánh Thể không phải là việc
lập lại Cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô, hay việc làm cho cuộc khổ
nạn này được lập đi lập lại nhiều lần trong thời gian và không
gian; Thánh Thể là một hy tế Thập Giá duy nhất được tái hiện thực
cho tới năm cùng tháng tận. Theo lời Thánh Ignatio Antiochia,
Thánh Thể là “một thứ thuốc bất tử, một thứ chất kháng tử”. Là
một hứa hẹn Nước Trời mai hậu, Thánh Thể cũng nhắc nhở tín hữu
về trách nhiệm của họ đối với hiện thế, trong đó, thành phần yếu
kém, thành phần bất lực nhất và thành phần bần cùng nhất đang
mong được giúp đỡ từ những ai biết đoàn kết có thể cho họ thấy
lý do của niềm hy vọng.
“Thánh Thể Xây Dựng Giáo Hội” là đầu đề của chương thứ hai. Khi
tín hữu đến với bữa tiệc thánh này, họ chẳng những lãnh nhận Chúa
Kitô mà còn được Người lãnh nhận nữa. Bánh và Rượu được thánh
hiến là lực phát sinh sự hiệp nhất của Giáo Hội. Giáo Hội được
nên một với Chúa của mình, Đấng ẩn thân dưới các hình Thánh Thể,
ngự trong Giáo Hội và xây dựng Giáo Hội. Giáo Hội tôn thờ Người
chẳng những nơi chính Thánh Lễ mà còn ở tất cả mọi lúc khác nữa,
khi ân cần sống với Người như “bảo tàng” trân quí nhất của mình.
Chương
thứ ba là chương suy tư về “Tính Cách Tông Đồ của Thánh Thể và
Giáo Hội”. Như tất cả thực tại của Giáo Hội không thể nào hiện
hữu nếu không có việc tông truyền thế nào thì cũng không có Thánh
Thể thực sự nếu không có Giám Mục như vậy. Vị linh mục cử hành
Thánh Thể là tác hành thay cho Chúa Kitô là Đầu; vị linh mục không
chiếm hữu Thánh Thể như làm chủ Thánh Thể mà là làm tôi phục vụ
lợi ích cho cộng đồng thành phần được cứu độ. Cũng thế, cộng đồng
Kitô hữu không “chiếm hữu” Thánh Thể mà là lãnh nhận hồng ân Thánh
Thể.
Những
suy tư này được khai triển ở chương thứ bốn, chương “Thánh Thể
và Mối Hiệp Thông Giáo Hội”. Giáo Hội, với tư cách là thừa tác
viên của mình và máu Chúa Kitô cho phần rỗi thế giới, trung thành
với tất cả những gì chính Chúa Kitô thiết lập. Trung thành với
giáo huấn của các Tông Đồ, gắn bó với qui luật của các phép bí
tích, Giáo Hội cũng cần phải tỏ ra một cách hữu hình mối hiệp
nhất vô hình của mình nữa. Thánh Thể không thể bị “sử dụng” như
phương tiện hiệp thông; trái lại, Thánh Thể bao hàm mối hiệp thông
như vốn đã hiện hữu và củng cố mối hiệp thông này. Theo chiều
hướng này cần phải để ý nhấn mạnh đến việc dấn thân đại kết là
những gì làm nên đặc tính của tất cả mọi người môn đệ Chúa Kitô,
vì Thánh Thể kiến tạo nên mối hiệp thông và xây dựng mối hiệp
thông này, khi Thánh Thể được cử hành một cách chân thực. Thánh
Thể không thể trở thành một thứ vồ vập của cá nhân cũng như của
các cộng đồng riêng biệt.
“Phẩm
Chất của Việc Cử Hành Thánh Thể” là vấn đề của chương thứ năm.
Việc cử hành “Thánh Lễ” được đánh dấu bằng những dấu hiệu bề ngoài
nhắm đến việc đề cao niềm vui qui tụ cộng đồng lại chung quanh
tặng ân Thánh Thể khôn sánh. Các thứ kiến trúc, điêu khác, hội
họa, âm nhạc, văn chương và một cách tổng quan hơn, hết mọi hình
thức nghệ thuật, đều cho thấy Giáo Hội qua các thế kỷ đã không
sợ phung phí nơi việc Giáo Hội làm chứng cho tình yêu đã liên
kết Giáo Hội với Phu Quân thần linh của Giáo Hội. Các cuộc cử
hành ngày nay cũng cần phải lấy lại cảm quan mỹ lệ.
Chương
thứ sáu, chương về “Tại Học Đường Maria, ‘Người Nữ của Thánh Thể’”,
là một suy tư hợp thời và vốn có về hình ảnh tương tự giống nhau
lạ lùng giữa Mẹ Thiên Chúa, Vị trở thành ‘nhà tạm” đầu tiên khi
cưu mang thân thể của Chúa Giêsu trong lòng Mẹ, và Giáo Hội là
nơi bảo trì và ban tặng cho thế gian mình máu Chúa Kitô. Thánh
Thể được ban cho các tín hữu để sự sống của họ được trở thành
một bài ca vịnh Ngợi Khen liên tục tôn vinh Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.
Đoạn
Kết đòi những ai muốn theo đuổi con đường thánh thiện không cần
phải có “các thứ chương trình” mới. Chương trình này vốn đã hiện
hữu, đó là chính Chúa Kitô, Đấng muốn được nhận biết, mến yêu,
bắt chước và loan truyền. Việc áp dụng tiến trình này được thực
hiện nhờ ở Thánh Thể. Điều này được thấy nơi chứng từ của các
Vị Thánh, thành phần lúc nào trong cuộc sống cũng chỉ biết làm
giãn cơn khát của mình nơi nguồn mạch vô tận của mầu nhiệm này,
cũng như chỉ biết kín múc từ mạch nguồn ấy một thứ mãnh lực thiêng
liêng cần thiết để sống trọn vẹn ơn gọi rửa tội của mình mà thôi.
“Vì
sự dữ tràn lan mà lòng mến nơi hầu hết con người ta đã trở nên
nguội lạnh”
Nhân dịp Đức Thánh Cha ban hành Thông Điệp Thánh Thể Ecclesia
de Eucharistia vào chính Ngày Thứ Năm Tuần Thánh 17/4/2003, dịp
Chúa Giêsu thiết lập Bí Tích Thánh Thể, kèm theo Phẩm Chức Linh
Mục và Giới Răn Yêu Thương, chúng ta chẳng những cần phải đọc
kỹ những gì Đức Thánh Cha nhắc nhở và giáo huấn về mối liên hệ
sâu xa giữa Giáo Hội và Thánh Thể, đúng như nhan đề của văn kiện,
một giáo huấn bao gồm cả 3 khía cạnh thần học, qui luật và mục
vụ. Về mục đích Đức Thánh Cha viết bức thông điệp này, như ở các
đoạn 6 và 7 cho thấy, là để tiếp tục chiều hướng Duc in altum
về nội tâm của một Giáo Hội Chứng Nhân Truyền Giáo, bằng việc
chiêm ngắm dung nhan Chúa Kitô, nhất là trong Bí Tích Thánh Thể.
Thế
nhưng, một trong những lý do sâu xa Đức Thánh Cha đã viết bức
thông điệp về mối liên hệ mật thiết giữa Giáo Hội và Thánh Thể
này, chứ không phải chỉ viết nguyên những gì về Mầu Nhiệm Thánh
Thể mà thôi, như bức Thông Điệp “Mầu Nhiệm Đức Tin” Mysterium
Fidei của Đức Thánh Cha Phaolô VI được ban hành vào chính ngày
Lễ kính Thánh Giáo Hoàng Thánh Thể Piô X, 3/9/1965, hay một số
Thông Điệp khác được Ngài nhắc đến ở đoạn 9, là vì ngày nay Kitô
hữu Công Giáo đã coi thường, nếu không muốn nói là tỏ ra bất kính,
một cách ý thức hay vô thức, đối với Chúa Giêsu Thánh Thể nơi
việc cử hành Phụng Vụ Thánh Thể cũng như trong việc tin thờ Thánh
Thể. Đó là lý do, ở câu cuối cùng của phần dẫn nhập, đoạn 10,
Ngài đã thẳng thắn cho biết về mối quan tâm của Ngài như sau:
“Tôi hy vọng rằng bức Thông Điệp này đây sẽ hiệu nghiệm giúp vào
việc đánh tan những đám mây mù bất khả chấp về tín lý cũng như
thực hành, nhờ đó Thánh Thể tiếp tục chiếu sáng tất cả mầu nhiệm
rạng ngời của mình”.
Thực ra, ngay vào đầu thế kỷ 20, trời cao đã báo động tình trạng
“vì sự dữ tràn lan mà lòng mến nơi hầu hết con người ta đã trở
nên nguội lạnh” (Mt 24:12) này rồi. Đúng thế, thế kỷ 20 được mở
ra với Vị Giáo Hoàng (1903-1914) lấy khẩu hiệu phục hồi mọi sự
trong Chúa Kitô “Instaurare omnia in Christo”, vị Giáo Hoàng được
tặng cho tước hiệu Giáo Hoàng Thánh Thể, vì một đàng, về mặt tiêu
cực, Ngài đã mạnh mẽ chống lại “sự dữ lan tràn” là các ngụy thuyết
được tổng hợp nơi Tân Tiến Thuyết (Modernism), bằng Sắc Lệnh Lamentabili
Sane ngày 3/7/1907 và Thông Điệp Pascendi Dominici Gregis ngày
8/9/1907, và về mặt tích cực, Ngài nỗ lực củng cố “lòng mến” nơi
Kitô hữu Công Giáo, như vào năm 1905, Ngài đã cho phép và kêu
gọi giáo dân rước lễ thường xuyên hơn, thậm chí rước lễ hằng ngày,
một thực hành sống đạo hoàn toàn ngoại lệ và phá lệ đối với truyền
thống trước đó, nhất là qua Sắc Lệnh Quam Singulari vào năm 1910
Ngài đã giảm số tuổi trẻ em xuống để các em có thể rước lễ sớm
hơn. Sau khi Vị Thánh Giáo Hoàng Thánh Thể Piô X này qua đi 2
năm, tại Bồ Đào Nha đã xẩy ra Biến Cố Fatima, một Biến Cố Thánh
Mẫu được mở màn với thần trời và các trẻ em về Chúa Giêsu Thánh
Thể.
Thánh Thể là Cốt Lõi của Biến Cố Fatima và Sứ Điệp Fatima
Thật vậy, theo Hồi Ký của chị Lucia, một trong ba trẻ được thị
kiến của Biến Cố Fatima bấy giờ, thì vào năm 1916, tại Fatima,
Thiên Thần Hòa Bình đã hiện ra với các em trong thời đoạn của
Thế Chiến Thứ Nhất (1914-1918) để dạy các em về Chúa Giêsu Thánh
Thể. Diễn tiến xẩy ra ba lần thứ tự như sau:
Lần thứ nhất, Thiên Thần Hòa Bình hiện ra với 3 Thiếu Nhi Fatima
vào Mùa Xuân năm 1916 ở trong hang Loca do Cabeco, để kêu gọi
và dạy các em cầu nguyện:
"Đừng
sợ. Ta là Thiên Thần Hòa Bình. Hãy cầu nguyện với Ta".
Thiên Thần Hòa Bình đã làm gương cho 3 Thiếu Nhi Fatima để các
em biết các em cần phải có những cử chỉ cầu nguyện như thế nào,
bằng việc ngài phục mình sát mặt xuống đất.
Thiên Thần Hòa Bình đã dạy 3 Thiếu Nhi Fatima cầu nguyện như sau:
"Lạy Chúa Trời Con, con tin kính Chúa, con thờ lạy Chúa,
con trông cậy Chúa và con yêu mến Chúa. Xin Chúa tha thứ cho những
người không tin kính Chúa, không thờ lạy Chúa, không trông cậy
Chúa và không yêu mến Chúa".
Sau khi 3 Thiếu Nhi Fatima bắt chước tác động và lập lại lời cầu
của Thiên Thần trên đây ba lần, Thiên Thần Hòa Bình khuyên dụ
các em cầu nguyện:
"Các em hãy cầu nguyện như thế, Trái Tim Chúa Giêsu và Mẹ
Maria luôn lắng nghe lời các em kêu xin".
Lần thứ hai, Thiên Thần Hòa Bình hiện ra với 3 Thiếu Nhi Fatima
vào Mùa Hè cùng năm, sau giờ nghỉ trưa, ở dưới bóng cây bên một
giếng nước, để kêu gọi các em hy sinh cầu nguyện và dạy cho các
em biết cách hy sinh đền tạ Chúa mà cứu rỗi các tội nhân:
"Các
em đang làm gì thế? Hãy cầu nguyện, cầu nguyện thật nhiều. Trái
Tim Chúa Giêsu và Mẹ Maria có những dự tính đầy yêu thương dành
cho các em đó. Hãy dâng kinh nguyện và thật nhiều hy sinh lên
Đấng Tối Cao".
Thiên Thần Hòa Bình dạy cho 3 Thiếu Nhi Fatima cách hy sinh khi
ngài trả lời cho câu hỏi của Lucia: "Chúng con làm thế nào
để hy sinh?":
"Các em hãy biến mọi sự các em có thể thành những hy sinh
dâng lên Chúa như một việc để đền tạ tội lỗi Ngài đã bị xúc phạm
mà cầu cho tội nhân ơn ăn năn hối cải. Như thế, các em sẽ mang
lại hòa bình cho quê hương của các em. Ta là thiên thần bổn mạng,
thiên thần của Nước Bồ Đào Nha. Nhất là các em hãy chấp nhận và
bằng lòng với tất cả mọi đau khổ Chúa gửi đến cho các em".
Lần thứ ba, Thiên Thần Hòa Bình hiện ra với 3 Thiếu Nhi Fatima
vào một buổi chiều Mùa Thu cũng năm ấy, trên đường các em từ Pregueira
về Lapa, để cho các em rước Mình Thánh (Lucia) và Máu Thánh (Phanxicô
và Giaxinta), sau khi kêu gọi các em đền tạ Chúa Giêsu Thánh Thể
như sau:
Thiên Thần Hòa Bình cho 3 Thiếu Nhi Fatima rước Mình Máu Thánh
Chúa Giêsu, bằng cách, ngài cho Lucia (bấy giờ đã được xưng tội
rước lễ lần đầu) rước Mình Thánh và cho Phanxicô cùng với Giaxinta
(bấy giờ chưa xưng tội rước lễ lần đầu) rước Máu Thánh.
Thiên Thần Hòa Bình kêu gọi 3 Thiếu Nhi Fatima đền tạ Chúa Giêsu
Thánh Thể như sau:
"Các em hãy nhận lãnh Mình và uống Máu Chúa Kitô bị xúc phạm
khủng khiếp bởi những tội vong ân bội nghĩa. Các em hãy đền bồi
tội lỗi của họ và hãy an ủi Thiên Chúa của các em".
Ngài sấp mình trước Thánh Thể mà nguyện 3 lần:
"Lạy Chúa Ba Ngôi Chí Thánh là Cha và Con và Thánh Thần,
con sấp mình thờ lạy Chúa. Con xin dâng lên Chúa Mình Máu châu
báu, linh hồn và Thiên Tính của Chúa Giêsu Kitô đang hiện diện
trong các nhà tạm trên khắp thế giới, để đền tạ những lăng nhục,
phạm thánh và thờ ơ lãnh đạm mà chính Người đã phải chịu. Xin
vì công nghiệp vô cùng của Thánh Tâm Chúa Giêsu và của Trái Tim
Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, xin Chúa ban cho các tội nhân ơn
ăn năn hối cải".
Phần Mẹ Maria đã hiện ra sáu lần với 3 em Thiếu Nhi Fatima Lucia
(10), Phanxicô (9) và Giaxinta (7) vào cùng ngày 13 trong tháng,
từ Tháng Năm đến Tháng Mười, (trừ Tháng Tám xẩy ra vào ngày 19
vì 3 em bị chính quyền bắt nhốt vào thời điểm ngày 13 như Đức
Mẹ hẹn), khoảng thời gian ở giữa cuộc Cách Mạng Nga đang sửa soạn
bùng nổ, từ lúc Lenin về nước vào Tháng Tư (trước khi Đức Mẹ hiện
ra 1 tháng) và cách mạng thành công vào Tháng Mười Một (sau khi
Đức Mẹ hết hiện ra 1 tháng). Tại Biến Cố Thánh Mẫu Fatima năm
1917 này, Mẹ Maria đã đến để kêu gọi con người về với Chúa qua
Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ, một Trái Tim đã được Mẹ cho biết
vào lần hiện ra thứ ba 13/7/1917 trong phần Bí Mật Fatima thứ
hai, đó là “Thiên Chúa muốn thiết lập lòng tôn sùng Trái Tim Vô
Nhiễm Nguyên Tội Mẹ trên thế giới”, một trái tim Mẹ cũng đã cho
3 Thiếu Nhi Fatima thị kiến thấy vào lần hiện ra thứ hai 13/6/1917,
một trái tim có vòng gai quấn chung quanh đâm vào cần phải được
rút ra bằng việc đền tạ, và sau đó Mẹ đã nói riêng với Lucia rằng:
“Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ là nơi con nương náu và là đường
đưa con đến với Thiên Chúa”.
Vâng,
cốt lõi của Sứ Điệp Fatima với ba Mệnh Lệnh Fatima là cải thiện
đời sống, lần hạt mân côi và tôn sùng mẫu tâm, cũng như trọng
tâm của Biến Cố Fatima đó là Chúa Giêsu Thánh Thể, chứ không phải
Mẹ Maria. Ngay trước khi biến đi vào lần hiện ra cuối cùng 13/10/1917,
chấm dứt Biến Cố Fatima, Mẹ đã cho con người thấy cốt lõi của
Sứ Điệp Fatima, đó là lời Mẹ kêu gọi con người hãy cải thiện đời
sống, trở về với Chúa như sau: “Đừng xúc phạm đến Chúa là Thiên
Chúa của chúng at nữa, vì Người đã bị xúc phạm đến nhiều lắm rồi”.
Vị “Chúa là Thiên Chúa của chúng ta” trong câu nói chính yếu của
Sứ Điệp và Biến Cố Fatima đây là gì, nếu không phải là Chúa Giêsu
Thánh Thể, Đấng đã được Thiên Thần Hòa Bình dạy cho 3 Thiếu Nhi
Fatima cầu nguyện, hy sinh và đền tạ Người.
Mầu
Nhiệm Thánh Thể là Mầu Nhiệm Chúa Kitô cũng là Mầu Nhiệm Ơn Gọi
Làm Người
Ôi Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa đã yêu loài người chúng con nói
chung và Kitô hữu chúng con nói riêng, đến nỗi Chúa đã tìm hết
cách để ở lại với chúng con cho đến tận thế trong Bí Tích Thánh
Thể. Bí Tích Thánh Thể quả thực là chứng từ hùng hồn nhất về nỗi
lòng khao khát này của Chúa, như Chúa đã thiết tha bộc tỏ trên
cây Thập Giá trước khi tắt thở: “Tôi khát” (Jn 19:28), khát đến
“há hốc miệng ra” và đến “nhỏ cả giãi ra”, qua hình ảnh cạnh sườn
của Chúa bị lưỡi đòng của người lính Rôma rạch toác ra để máu
và nước là những gì cuối cùng còn sót lại nơi thân thể hy hiến
đến tận tuyệt của Chúa tuôn trào (x Jn 19:34).
Thế
nhưng, lạy Chúa, để có thể nhận ra Chúa thực sự là Emmanuel (x
Mt 1:23; Jn 1:14) chẳng những đã ở giữa loài người chúng con nơi
dân Do Thái đời các thánh Tông Đồ ngày xưa, cũng như nơi Giáo
Hội hậu lai cho tới tận thế, chúng con cần phải có một đức tin
mãnh liệt. Bằng không, chúng con cũng sống với Chúa chẳng khác
gì trường hợp các tông đồ ngày xưa, thành phần được sống ngay
bên Chúa, được chứng kiến thấy phép lạ Chúa làm, được nghe thấy
những lời Chúa nói, tức được trực tiếp động chạm đến một Vị Thiên
Chúa Làm Người hữu hình bằng xương bằng thịt (x 1Jn 1:1-2), mà
rồi cuối cùng tất cả các vị còn bỏ Chúa mà tẩu thoát trong vườn
Cây Dầu khi Chúa bị bắt (x Mk 14:50), mà còn phản nộp Chúa như
tông đồ Giuđa Ích-Ca (x Mt 16:14-16, 25; 27:3-6), trắng trợn chối
bỏ Chúa một cách phũ phàng như tông đồ Phêrô (x Lk 22:31-34, 54-62).
“Xin
Chúa hãy tăng thêm đức tin cho chúng con” (Lk 17:5) để chúng con
có thể chẳng những tin nhận Chúa thực sự hiện diện trong Bí Tích
Thánh Thể, mà còn hiểu được sâu xa Mầu Nhiệm Thánh Thể của Chúa
nữa. Thật vậy, Mầu Nhiệm Thánh Thể bao gồm tất cả Mầu Nhiệm Chúa
Kitô, Mầu Nhiệm Nhập Thể, Mầu Nhiệm Tử Giá, Mầu Nhiệm Phục Sinh
và Mầu Nhiệm Giáo Hội.
Mầu
Nhiệm Thánh Thể bao gồm Mầu Nhiệm Nhập Thể, vì nếu Thiên Chúa
không “hóa thành nhục thể” (Jn 1:14) cũng chẳng bao giờ sẽ có
Thánh Thể. Mầu Nhiệm Thánh Thể bao gồm Mầu Nhiệm Tử Giá, vì Chúa
Giêsu thiết lập Bí Tích Thánh Thể không phải chỉ để ở lại với
Giáo Hội mà còn để tiếp tục sứ vụ, đúng hơn, để hiện thực công
cuộc cứu độ Tử Giá của Người, qua riêng Phụng Vụ Thánh Thể và
chung Phụng Vụ Bí Tích. Mầu Nhiệm Thánh Thể bao gồm Mầu Nhiệm
Phục Sinh, vì mục đích của việc Chúa Kitô đến trần gian và ở với
loài người là để “cho chiên được sự sống và là một sự sống viên
mãn hơn” (Jn 10:10), một sự sống Người đã bắt đầu thông ban cho
con người qua các vị tông đồ vào buổi tối ngày thứ nhất trong
tuần, khi Người thổi hơi “Thánh Thần” (Jn 20:22) “là Đấng ban
sự sống” (Kinh Tin Kính) từ thân xác phục sinh của Người trên
các vị. Mầu Nhiệm Thánh Thể bao gồm Mầu Nhiệm Giáo Hội, vì Giáo
Hội, về hữu hình là một Cơ Cấu Phẩm Trật, và về vô hình, là một
Cộng Đồng Hiệp Thông, mà Bí Tích Thánh Thể không thể nào có nếu
không có phẩm trật tông truyền, không có hàng giáo sĩ, với vị
đại diện Chúa Kitô trên trần gian thừa kế Thánh Phêrô “là nguồn
gốc và là nền tảng hữu hình và vĩnh viễn cho sự hiệp nhất của
cả đức tin lẫn mối hiệp thông” (x. Lumen Gentium, 18), “của cả
các vị giám mục lẫn toàn thể cộng đồng tín hữu” (ibid. 23).
Mầu Nhiệm Thánh Thể ngoài ra còn là mẫu gương sống nội tâm và
tông đồ. Ở chỗ, nơi Bí Tích Thánh Thể, qua thừa tác vụ của Giáo
Hội, về nội tâm, Chúa Kitô chẳng những tiếp tục hiến mình cho
Chúa Cha, mà về hoạt động tông đồ, Người còn thông ban sự sống
cho con người tín hữu khao khát đến với Người bằng tâm hồn thanh
sạch đầy tin yêu sùng bái. Ôi Chúa Giêsu, nơi Bí Tích Thánh Thể,
con chẳng những thấy được linh đạo Kitô giáo là sống nội tâm để
ban phát, là mến Chúa tức yêu người, mà còn thấy được tất cả ý
nghĩa sâu xa của tất cả ơn gọi làm người về khía cạnh nhân loại
học siêu nhiên, khía cạnh nhân bản Kitô giáo nữa.
Quả
thế, nếu “cho đi phúc hơn là nhận lãnh” (Acts 20:35), bởi tự mình
con người không có gì, và bởi tất cả những gì con người có đều
“được từ trên ban cho” (Jn 19:11; x. Jn 4:10), thành phần chỉ
đóng vai quản lý hơn chủ nhân ông nơi những gì họ có, nên họ phải
biết cách sử dụng và phân phát đi theo ý Chủ Nhân Ông Thần Linh
của họ, thì còn gì sống động và thực tế hơn là Thánh Thể Chúa,
một Thánh Thể đã “bị nộp vì chúng con” với máu đã “đổ ra vì chúng
con” (Lk 22:19-20), một tác động hy hiến Chúa đã Giáo Hội làm
để “nhớ đến Thày” (ibid.). Thế nhưng, Chúa không truyền cho Giáo
Hội chỉ làm việc này nơi Phụng Vụ Thánh Thể quan thừa tác vụ thánh
của hàng giáo sĩ thôi, mà còn, qua Giới Răn Mới, giới răn Đức
Ái Trọn Hảo, giới răn chúng con phải yêu thương nhau như Chúa
yêu chúng con (x Jn 13:34; 15:12), Chúa còn muốn Kitô hữu chúng
con phải dấn thân phục vụ những người anh em hèn mọn nhất của
Chúa nữa (x Mt 25:40), tức hoàn toàn sống cho tha nhân, thậm chí
liều cả mạng sống mình họ, như chính Chúa đã hiến mạng sống vì
bạn hữu mình vậy (x Jn 15:13).
Ôi
lạy Chúa, như thế, phục vụ là một diễm phúc, vì nhờ những hy sinh
thường ngày của mình, khi chúng con cho đi những gì chúng con
đã nhận lãnh, nhất là cho đi chính mạng sống của mình nếu cần,
đúng hơn khi chúng con biết trả về cho Thiên Chúa những gì Ngài
ban tặng cho chúng con, chúng con mới thực sự sống trọn ơn gọi
làm người của mình, một Ơn Gọi Thánh Thể, một ơn gọi Sống Đời
Thánh Thể của Chúa, như Chúa và với Chúa vậy! Amen.
|
|