|
|
| |
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL |
|
Thông
Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể
và Bản Hướng Dẫn “‘Redemptionis Sacramentum’ Thánh
Thể là Sự Sống Hiệp Thông nơi việc Cử Hành Thánh Lễ
Trong
Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô
II đã xác tín Thánh Thể là một Sự Sống Hiệp Thông qua việc Kitô
hữu Hiệp Lễ cũng như bằng Tặng Ân Thánh Thần Người ban cho những
ai lãnh nhận Mình Máu Thánh của Người, ở khoản số 16 và 17 thứ
tự sau đây:
•
“Hiệu năng cứu độ của hiến tế này được hoàn toàn hiện thực khi
lãnh nhận mình máu Chúa lúc hiệp lễ. Hiến Tế Thánh Thể tự bản
chất nhắm đến việc hiệp nhất nội tâm của tín hữu với Chúa Kitô
qua việc hiệp lễ; chúng ta lãnh nhận chính Đấng đã hiến mình cho
chúng ta, chúng ta lãnh nhận thân thể Người đã trao nộp cho chúng
ta trên Thập Giá cũng như lãnh nhận máu Người ‘đã đổ ra cho nhiều
người được tha tội’ (Mt 26:28). Chúng ta được lời Người nhắc nhớ
rằng: ‘Như Cha hằng sống đã sai Tôi và Tôi sống bởi Cha thế nào,
thì ai ăn Tôi cũng sẽ sống bởi Tôi như vậy’ (Jn 6:57). Chính Chúa
Giêsu đã bảo đảm với chúng ta rằng việc hiệp nhất này, một thứ
hiệp nhất được Người so sánh với việc hiệp nhất sự sống Ba Ngôi,
được thực sự thể hiện. Thánh Thể thực sự là một bữa tiệc Chúa
Kitô đã tự hiến mình làm của dưỡng nuôi chúng ta. Vào lần đầu
tiên Chúa Giêsu nói về thứ dưỡng nuôi này, thành phần nghe Người
bấy giờ lấy làm lạ lùng và bối rối khiến Vị Thày này bắt buộc
phải nhấn mạnh đến chân lý khách quan của những lời Người nói:
‘Thật vậy, thật vậy, Tôi nói cho quí vị hay, trừ phi quí vị ăn
thịt Con Người và uống máu của Người, bằng không quí vị sẽ không
có sự sống nơi bản thân quí vị’ (Jn 6:53). Đây không phải là thứ
lương thực bóng bẩy mỹ từ, bởi vì ‘Thịỉt Tôi thực sự là của ăn
và máu Tôi thực sự là của uống’ (Jn 6:55)”.
• “Qua việc chúng ta được hiệp thông với mình máu của Người, Chúa
Kitô cũng ban cho chúng ta Thần Linh của Người nữa. Thánh Ephrem
viết: ‘Người đã gọi thứ bánh này là thân mình của Người và Người
đã làm cho bánh ấy tràn đầy Người cùng với Thần Linh của Người…
Ai lấy đức tin mà ăn bánh ấy là ăn Lửa và Thần Linh… Hãy nhận
lấy mà ăn, tất cả anh chị em, và hãy ăn Thánh Linh nơi bánh này.
Vì đó thật là mình của Tôi nên ai ăn bánh ấy sẽ được sự sống đời
đời’ (Sermo IV in Hebdomadam Sanctam: CSCO 413/Syr. 182, 55).
… Trong Sách Lễ Rôma, vị chủ tế nguyện rằng: ‘Xin ban cho chúng
con là những kẻ được nuôi dưỡng bởi mình máu Người được tràn đầy
Thánh Thần của Người, và được trở nên một thân thể, một tinh thần
duy nhất trong Chúa Kitô’ (Eucharistic Prayer III). Như thế, nhờ
tặng ân Mình Máu của Người, Chúa Kitô làm tăng lên trong chúng
ta tặng ân Thần Linh Người đã được tuôn đổ xuống trên chúng ta
qua Phép Rửa cũng như đã được ban xuống cho chúng ta như ‘dấu
ấn’ qua bí tích Thêm Sức”.
Phụng
Vụ Thánh Thể, sau Phụng Vụ Lời Chúa, trong mỗi Thánh Lễ được chia
ra làm ba phần, phần dâng lễ, phần hiến lễ và phần hiệp lễ. Nếu
phần Hiến Lễ là phần của Mầu Nhiệm Thánh Thể liên quan đến Hy
Tế Thập Giá được Giáo Hội, qua vị chủ tế, hiến dâng lên Chúa Cha,
thì phần Hiệp Lễ là phần của Mầu Nhiệm Thánh Thể liên quan đến
Sự Sống Hiệp Thông, được Giáo Hội, qua vị chủ tế, cũng như qua
các thừa tác viên Thánh Thể hay thừa tác viên ngoại lệ cho Rước
Lễ, ban phát cho những tín hữu xứng đáng và tin tưởng lãnh nhận
Hy Tế Thập Giá, lãnh nhận Chiên Thiên Chúa.
Đúng
thế, Chúa Giêsu thiết lập Bí Tích Thánh Thể không phải chỉ để
làm cơ sở cho Người có thể Hiện Diện Thực Sự, hay để hiện thực
hóa Hy Tế Thập Giá của Người vậy thôi, mà còn để trở thành Sự
Sống Hiệp Thông cho chung Giáo Hội cũng như cho riêng các phần
thể của mình mầu nhiệm của Người nữa. Đó là lý do, ngay mấy chữ
đầu của lời truyền phép, lời Người phán để thiết lập bí tích Thánh
Thể, Người đã kêu gọi các tông đồ nói riêng và Giáo Hội nói chung
là “các con hãy cầm lấy mà ăn” và “các con hãy nhận lấy mà uống”.
Dĩ
nhiên, về phương diện phụng vụ, phần Thánh Lễ quan trọng nhất
là phần Hiến Lễ, qua tác động chủ tế hiến dâng Thánh Thể lên Chúa
Cha ngay sau khi chủ tế truyền phép Thánh Thể. Thế nhưng, nếu
Hy Tế Thập Giá đã vĩnh viễn hiệu thành (x Heb 7:27, 9:12) thì
việc hiện thực và tái diễn hy tế này trên bàn thờ không phải chỉ
là việc để làm cho hy tế ấy nên trọn, mà là việc làm cho hy tế
ấy trở thành viên mãn hơn, đúng như ý định Chúa Giêsu muốn, đó
là việc Người là Vị “Chủ Chiên nhân lành thí mạng sống vì chiên
cho chiên được sự sống và là một sự sống viên mãn hơn” (Jn 10:10).
Như
thế, phần Hiệp Lễ cũng là phần rất quan trọng và cần thiết đối
với cả Chúa Giêsu Thánh Thể lẫn thành phần môn đệ của Người. Đối
với Chúa Giêsu Thánh Thể, Hiệp Lễ là phần rất quan trọng và cần
thiết, bởi vì Người muốn thông ban “Sự Sống viên mãn” phát xuất
từ Hy Tế Thập Giá của Người cho thành phần đã tin nhận Người qua
Phép Rửa và đã nhận được “sự sống” từ Người, một sự sống cần phải
được bảo trì và tăng trưởng cho tới khi đạt đến tầm vóc viên mãn
của mình trong Chúa Kitô (x Eph 4:13,15). Đối với Kitô hữu, Hiệp
Lễ là phần rất quan trọng và cần thiết, bởi vì, có tiếp nhận Chúa
Giêsu Thánh Thể, Đấng đã tự hiến để Giáo Hội được thánh hóa trong
chân lý (x Jn 17:19), con người và hoạt động của họ mới có thể
được biến đổi một cách mầu nhiệm, như rượu bánh trên bàn thờ “là
hoa mầu ruộng đất và lao công của con người” (lời dâng lễ vật)
được biến thể Mình Thánh và Máu Thánh của Người.
Vì
được đón nhận Chúa Giêsu Hiện Diện Thực Sự trong Mình Thánh và
Máu Thánh cực linh của Người mà, theo Chương 4 của Bản Hướng Dẫn
“‘Redemptionis Sacramentum’ Về Một Số Vấn Đề Cần Phải Tuân Giữ
Hay Tránh Lánh Liên Quan Đến Thánh Thể Cực Linh”, thành phần thừa
tác viên trao ban Thánh Thể cũng như thành phần lãnh nhận Thánh
Thể cần phải để ý đến những điều kiện và tác động xứng đáng sau
đây:
•
“Theo thông lệ của Giáo Hội thì mỗi người cần phải xét mình kỹ
lưỡng và ai ý thức được trọng tội của mình thì không được cử hành
hay lãnh nhận Mình Thánh Chúa Kitô trước khi lãnh nhận bí tích
giải tội, trừ khi có lý do quan trọng như trường hợp không có
cha giải tội; trong trường hợp ấy họ phải nhớ rằng họ buộc phải
ăn năn tội cách trọn, và phải có ý hướng đi xưng tội sớm bao nhiêu
có thể”. (khoản số 81)
•
“Các vị thừa tác viên Công Giáo chỉ được ban các Phép Bí Tích
cho tín hữu Công Giáo mà thôi, thành phần cũng chỉ được phép lãnh
nhận các phép bí tích này từ các vị thừa tác viên Công Giáo, trừ
những trường hợp được đề cập đến ở khoản Giáo Luật 844.2-4 và
861.2 (Cf. Code of Canon Law, n. 844.1; Pope John Paul II, Encyclical
Letter Ecclesia de Eucharistia, nn. 45-46: AAS 95 [2003] pp. 463-464;
cf. also Pontifical Council for the Promotion of Christian Unity,
Directory for the application of the principles and norms on ecumenism,
La recherche de l’unité, nn. 130-131: AAS 85 [1993] 1039-1119,
here p. 1089). Ngoài ra, không được tách biệt những điều kiện
bao hàm khoản Giáo Luật 844.4, những điều kiện không thể miễn
trừ (Cf. Pope John Paul II, Encyclical Letter Ecclesia de Eucharistia,
n. 46: AAS 95 [2003] pp. 463-464); bởi thế mà cần phải hội đủ
tất cả mọi điều kiện này”. (khoản số 85)
•
“’Để cho dấu hiệu Hiệp Lễ được nổi bật tỏ tường hơn nữa như là
một việc tham dự vào Hiến Tế đang được cử hành’ (Missale Romanum,
Institutio Generalis, n. 85), tín hữu tốt nhất lãnh nhận bánh
thánh được truyền phép ngay trong cùng Thánh Lễ được cử hành (Cf.
Second Vatican Ecumenical Council, Constitution on the Sacred
Liturgy, Sacrosanctum Concilium, n. 55; S. Congregation of Rites,
Instruction, Eucharisticum mysterium, n. 31: AAS 59 [1967] p.
558; Missale Romanum, Institutio Generalis, nn. 85, 157, 243)”.
(khoản số 89)
•
“’Tín hữu phải quì hay đứng khi Rước Lễ, tùy theo Hội Đồng Giám
Mục ấn định’, những ấn định như được Tòa Thánh chuẩn nhận. ‘Tuy
nhiên, nếu đứng mà Rước Lễ thì cần phải tỏ ra cung kính trước
khi lãnh nhận Bí Tích này, theo các qui tắc tương tự qui định’
(Cf. Missale Romanum, Institutio Generalis, n. 160)”. (khoản số
90)
•
“Mặc dù mỗi người tín hữu bao giờ cũng có quyền lãnh nhận Thánh
Thể bằng lưỡi tùy ý (Cf. Missale Romanum, Institutio Generalis,
n. 161), song nếu có người nào muốn lãnh nhận Bí Tích này bằng
tay, ở những miền Hội Đồng Giám Mục được phép Tòa Thánh cho thực
hiện cử chỉ ấy, thì họ có thể lãnh nhận bánh thánh như thế. Tuy
nhiên, phải cẩn thận bảo đảm là bánh thánh được người lãnh nhận
rước chịu trước mặt vị thừa tác viên, không để một ai cầm hình
bánh mà đi. Nếu thấy có nguy cơ bị tục hóa thì không được cho
tín hữu Rước Lễ bằng tay (Congregation for Divine Worship and
the Discipline of the Sacraments, Dubium: Notitiae 35 [1999] pp.
160-161)”. (khoản số 92)
•
“Cần phải bảo trì vấn đề cầm đĩa hứng khi cho tín hữu Rước Lễ
hầu tránh tình trạng bánh thánh hay vụn bánh thánh có thể bị rơi
xuống (Cf. Missale Romanum, Institutio Generalis, n. 118)”. (khoản
số 93)
•
“Không được phép cho tín hữu ‘tự mình… cầm…, tệ hơn nữa, trao…
cho nhau’ bánh thánh hay chén thánh (Ibidem, n. 160). Ngoài ra,
về vấn đề này, cần phải loại trừ việc lạm dụng cho nhau Rước Lễ
giữa đôi tân hôn trong Lễ Hôn Phối”. (khoản số 94).
• “Một tín hữu giáo dân ‘đã lãnh nhận Thánh Thể Cực Linh cũng
được phép chịu một lần nữa cùng ngày khi tham dự Cử Hành Thánh
Thể, như được qui định ở khoản Giáo Luật 921.2’ (Cf. Code of Canon
Law, can. 917; Pontifical Commission for the Authentic Interpretation
of the Code of Canon Law, Response to Dubium, 11 July 1984: AAS
76 (1984) p. 746)”. (khoản số 95)
•
“Không thể chấp nhận được việc phân phát những tấm bánh không
được truyền phép hoặc các thứ ăn được cũng như không ăn được trong
khi cử hành Thánh Lễ hay trước đó theo cách thức Hiệp Lễ, trái
với những qui định của các sách phụng vụ. Việc làm này không thích
hợp với truyền thống của Lễ Nghi Rôma và gây ra lộn xộn nơi thành
phần tín hữu Chúa Kitô liên quan tới tín điều về Thánh Thể của
Giáo Hội. Ở một số nơi nào được phép thực hiện việc ban phép lành
cho bánh sau Thánh Lễ để phân phát thì ở đó cần phải cẩn thận
hướng dẫn giáo lý đàng hoàng về việc làm ấy. Thật vậy, không được
tạo ra những việc làm tương tự khác giống như vậy hay không được
sử dụng những bánh bất thánh hiến vào mục đích này”. (khoản số
96)
•
“Để thể hiện trước tín hữu một cách rõ ràng hơn nữa dấu hiệu trọn
vẹn về việc tham dự vào bữa tiệc Thánh Thể, thì kể cả các phần
tử giáo dân thuộc thành phần tín hữu của Chúa Kitô cũng được Rước
Lễ dưới hai hình, ở những trường hợp được qui định trong các sách
phụng vụ, một việc rước lễ hai hình được dẫn tiến và tiếp tục
hỗ trợ bằng việc dạy giáo lý xứng hợp liên quan tới những nguyên
tắc tín lý về vấn đề này là những gì được Công Đồng Chung Triđentinô
phác định (Cf. Ecumenical Council of Trent, Session XXI, 16 July
1562, Decree on Eucharistic Communion, Chapters 1-3: DS 1725-1729;
Second Vatican Ecumenical Council, Constitution on the Sacred
Liturgy, Sacrosanctum Concilium, n. 55; Missale Romanum, Institutio
Generalis, nn. 282-283)”. (khoản số 100)
•
“Người rước lễ không được phép tự mình nhúng bánh thánh vào rượu
thánh, hay không được rước bằng tay bánh thánh được nhúng rượu
thánh. Bánh thánh được dùng để nhúng vào rượu thánh cần phải được
làm bằng chất thể cứng chắc cũng như phải được truyền phép; triệt
để cấm sử dụng bánh bất thánh hiến hay các chất thể khác”. (khoản
số 104)
•
“Căn cứ vào những gì được qui định bởi giáo luật, ‘ai ném bỏ những
hình Thánh Thể hay lấy đi hoặc giữ để phạm thánh thì vạ tuyệt
thông tiền kết latae sententiae chỉ có Tòa Thánh mới giải được;
ngoài ra, nếu là một giáo sĩ thì chịu hình phạt khác nữa, kể cả
việc bị loại khỏi hàng ngũ giáo sĩ’ (Cf. Code of Canon Law, can.
1367). Bất cứ hành động nào tự ý và trầm trọng bất kính phạm đến
các hình Thánh Thể đều được coi là thuộc về trường hợp này. Bởi
thế, bất cứ ai tác hành ngược lại những qui tắc ấy, chẳng hạn
như vứt bỏ những hình Thánh Thể vào cống máng đổ đồ thánh, hay
vào một nơi bất xứng, hoặc trên đất, đều phải bị trừng phạt được
qui định (Cf. Pontifical Council for the Interpretation of Legislative
Texts, Response to dubium, 3 July 1999: AAS 91 [1999] p. 918).
Ngoài ra, tất cả đều phải nhớ rằng một khi đã hoàn tất việc cho
Rước Lễ trong Thánh Lễ, cần phải giữ những qui định của Sách Lễ
Rôma, nhất là những gì thuộc Máu Chúa còn sót lại, theo qui tắc,
phải lập tức được vị Linh Mục hay thừa tác viên khác uống hết,
còn các bánh thánh dư cũng phải được vị Linh Mục rước ở bàn thờ
hay được mang đến chỗ cất giữ Thánh Thể (Cf. Missale Romanum,
Institutio Generalis, nn. 163, 284)”. (khoản số 107)
•
“Thừa tác viên ngoại lệ cho Rước Lễ có thể cho Rước Lễ chỉ khi
nào thiếu Linh Mục và Phó Tế, chỉ khi nào vị Linh Mục bị ngăn
trở vì yếu sức hay tuổi già hoặc một lý do nào chính đáng khác,
hay chỉ khi nào con số tín hữu lên Rước Lễ đông đến nỗi chính
việc cử hành Thánh Lễ sẽ bị kéo dài một cách không nhất thiết
(Cf. S. Congregation for the Discipline of the Sacraments, Instruction,
Immensae caritatis, n. 1: AAS 65 [1973] pp. 264-271, here pp.
265-266; Pontifical Commission for the Authentic Interpretation
of the Code of Canon Law, Responsio ad propositum dubium, 1 June
1988: AAS 80 [1988] p. 1373; Congregation for the Clergy et al.,
Instruction, Ecclesiae de mysterio, Practical Provisions, art.
8 ậ 2: AAS 89 [1997] p. 871). Tuy nhiên, điều này phải được hiểu
là việc kéo dài chút xíu, đối với hoàn cảnh và văn hóa địa phương,
vẫn không phải là trường hợp có đủ lý do”. (khoản số 158)
Thánh Thể là Bảo Chứng Cánh Chung nơi việc Cử Hành Thánh Lễ
Trong
Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô
II đã xác tín Thánh Thể là một Bảo Chứng Cánh Chung ở khoản số
18 như sau:
•
“Lời tung hô của cộng đồng sau phần truyền phép được chấm dứt
một cách rất thích đáng với câu diễn tả cái trục cánh chung là
yếu tố làm nên đặc tính của việc cử hành Thánh Thể (x 1Cor 11:26),
đó là câu ‘cho đến khi Chúa lại đến’. Thánh Thể là một vươn rộng
kéo dài tới đích điểm, là một tiên hưởng niềm vui trọn vẹn như
Chúa Kitô hứa hẹn (x Jn 15:11); Thánh Thể là tiên vọng được thừa
hưởng nước trời một cách nào đó, là ‘một bảo chứng cho vinh quang
mai hậu’ (Solemnity of the Body and Blood of Christ, Second Vespers,
Antiphon to the Magnificat). Thánh Thể chất chứa tất cả những
gì là tin tưởng đợi trông ‘với một niềm hân hoan hy vọng về việc
tái giáng của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế của chúng ta’ (Missale
Romanum, Embolism following the Lord's Prayer). Những ai được
Chúa Kitô dưỡng nuôi bằng Thánh Thể không cần phải đời chờ cho
đến đời sau mới thừa hưởng sự sống trường sinh, vì họ đã chiếm
hữu được sự sống này ngay trên trần gian, như là những hoa trái
đầu mùa của một tình trạng toàn mãn mai hậu, một tình trạng sẽ
làm cho con người nên thành toàn trọn vẹn. Vì nơi Thánh Thể, chúng
ta cũng có cả bảo chứng về việc phục sinh của thân xác vào ngày
tận thế: ‘Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì có sự sống đời đời,
và Tôi sẽ làm cho họ sống lại trong ngày sau hết’ (Jn 6:54). Lời
bảo chứng cho việc sống lại sau này ấy phát xuất từ sự kiện là
xác thịt của Con Người được ban hiến như lương thực, là thân thể
của Người ở trong tình trạng vinh hiển sau cuộc phục sinh. Lãnh
nhận Thánh Thể là chúng ta thực sự tiêu hóa ‘cái bí mật’ của việc
phục sinh vậy”.
Cũng
trong Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể, ở khoản số 58, Đức
Thánh Cha Gioan Phaolô II còn lập lại chiều kích cánh chung của
Mầu Nhiệm Thánh Thể liên quan đến Mẹ Maria nói chung và Ca Vịnh
Ngợi Khen của Mẹ nói riêng như sau:
•
“Ca Vịnh Ngợi Khen còn phản ảnh cả chiều kích cánh chung của Thánh
Thể nữa. Mọi lần Con Thiên Chúa lại đến với chúng ta nơi ‘cảnh
bần cùng’ của các hình thể bí tích là bánh và rượu thì các hạt
giống của một giòng lịch sử mới lại được đâm rễ vào thế giới này,
một lịch sử mà kẻ quyền năng ‘bị hạ xuống khỏi ngai tòa của mình’
và ‘những ai thấp hèn được nâng lên’ (cf. Lk 1:52). Mẹ Maria hát
lên bài ca vịnh về ‘trời mới’ và ‘đất mới’ là những gì thể hiện
nơi Thánh Thể việc trông ngóng của chúng, và ở một nghĩa nào đó,
cả chương trình và dự án của chúng nữa”.
Chiều
Kích Cánh Chung của Mầu Nhiệm Thánh Thể nơi Thánh Lễ được thể
hiện và báo trước ngay nơi việc truyền phép, ngay khi Thánh Thần
xuống thánh hóa lễ vật bằng lời truyền phép của vị chủ tế. Bởi
vì, ngay lúc ấy, ngay lúc bánh và rượu là hoa mầu ruộng đất và
lao công của con người được biến thể thành Mình Thánh và Máu Thánh
Chúa Kitô Phục Sinh.
Đúng
thế, Chúa Giêsu Thánh Thể thông ban Sự Sống Hiệp Thông cho Kitô
hữu chi thể của Người để họ được “sự sống viên mãn hơn”, một sự
sống trường sinh của thành phần sống cho Vị “Thiên Chúa là Thiên
Chúa của kẻ sống” (Lk 20:38).
Thế
nhưng, Sự Sống Hiệp Thông đây không phải chỉ là sự sống giữa cá
nhân Kitô hữu với Chúa Giêsu Thánh Thể họ Hiệp Lễ, mà là Sự Sống
Hiệp Thông với Chúa Giêsu trong Giáo Hội là Nhiệm Thể của Người,
cả Giáo Hội trần thế, lẫn Giáo Hội hiển vinh trên trời với Giáo
Hội thanh tẩy trong luyện hình. Đó là lý do trong Phần Hiến Lễ,
ở đoạn cuối, Kinh Nguyện Thánh Thể đã bao gồm cả Giáo Hội tam
diện này, thứ tự (theo Kinh Nguyện Thánh Thể III) là Giáo Hội
thiên quốc (qua việc xin Thánh Mẫu và các thánh chuyển cầu), rồi
tới Giáo Hội lữ hành (qua việc cầu cho đích danh Đức Thánh Cha
và vị Giám Mục địa phương cũng như hàng giáo phẩm toàn cầu), và
Giáo Hội thanh luyện (qua việc cầu cho các linh hồn đã ra đi).
Ngoài
ra, Sự Sống Hiệp Thông Kitô hữu nhận lãnh trong Thánh Lễ qua việc
Hiệp Lễ là một sự sống viên mãn, tức sự sống đầy những hoa trái
cứu độ của Chúa Kitô, một sự sống nơi Thân Nho Chúa Kitô cần phải
làm sao để cũng trổ sinh muôn vàn hoa trái nơi từng Cành Nho Kitô
hữu. Bởi thế, Sự Sống Hiệp Thông Thánh Thể đây liên quan đến cả
việc tông đồ truyền giáo nữa, tức liên quan đến việc để làm sao
cho thế gian nhận biết Chúa Kitô, và nhờ đó cũng được thông dự
vào Sự Sống Hiệp Thông này, đúng như ước nguyện của Chúa Giêsu
trong Lời Nguyện Hiến Tế kết Bữa Tiệc Ly: “Con sống trong họ,
Cha sống trong Con, để sự hiệp nhất của họ được trọn vẹn. Nhờ
đó thế gian nhận biết rằng Cha đã sai Con và Cha đã yêu thương
họ như đã thương yêu Con” (Jn 17:23).
Hai
khía cạnh hiệp thông Giáo Hội và tông đồ truyền giáo trên đây
của Mầu Nhiệm Thánh Thể nơi việc Cử Hành Thánh Lêã đã được Đức
Thánh Cha Gioan Phaolô II đề cập đến trong Tông Thư về Năm Thánh
Thể “Xin Chúa Ở Với Chúng Con” ở Chương III (Thánh Thể là Nguồn
Mạch và là Biểu Hiện của Hiệp Thông, đặc biệt ở khoản số 19 và
20) và ở Chương IV (Thánh Thể là Nguyên Lý và là Dự Án ‘Truyền
Giáo’, đặc biệt ở khoản số 24 và 25).
Thánh
Thể là Nguồn Mạch và là Biểu Hiện của Hiệp Thông
•
“Khi các môn đệ đi Emmau xin Chúa Giêsu hãy ở ‘với’ các vị, Người
đã đáp lại bằng việc ban cho họ một tặng ân còn cao trọng hơn
thế nữa, đó là, nhờ Bí Tích Thánh Thể, Người tìm được cách để
ở ‘trong’ các vị. Nhận lãnh Thánh Thể tức là đi vào mối hiệp thông
sâu xa với Chúa Giêsu. ‘Các con hãy ở trong Thày như Thày ở trong
các con’ (Jn 15:4). Mối liên hệ về việc ‘ở’ với nhau một cách
sâu xa này cho chúng ta được nếm hưởng trước thiên đường ngay
trên trần gian này. Đó không phải là điều ước mong lớn lao nhất
của con người hay sao? Đó không phải là những gì Thiên Chúa đã
nghĩ đến khi Ngài thực hiện trong lịch sử dự án cứu độ của Ngài
hay sao? Thiên Chúa đã gieo vào tâm can con người một ‘nỗi đói
khát’ Lời của của Ngài (x Am 8:11), một nỗi đói khát chỉ được
thỏa nguyện chỉ khi nào được hoàn toàn hiệp nhất với Ngài mà thôi.
Chúng ta có thể ‘thỏa mãn’ Thiên Chúa ngay trên trái đất này nơi
mối hiệp thông Thánh Thể được ban cho chúng ta đây, với niềm khát
vọng được hoàn toàn mãn nguyện trên cõi thiên cung”. (khoản số
19)
•
“Sự liên kết đặc biệt này nơi ‘mối hiệp thông’ Thánh Thể không
thể hiểu được một cách đầy đủ hay cảm nghiệm thấy một cách trọn
vẹn ngoài mối hiệp thông Giáo Hội. Tôi đã nhấn mạnh đến điều này
nhiều lần trong Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể Ecclesia
de Eucharistia. Giáo Hội là Thân Mình của Chúa Kitô: chúng ta
tiến bước ‘với Chúa Kitô’ ở chỗ chúng ta liên kết ‘với thân thể
của Người’. Chúa Kitô đã thiết lập và làm phát triển mối hiệp
nhất này bằng việc tuôn đổ Thánh Linh của Người xuống. Và chính
Người liên lỉ xây dựng mối hiệp nhất ấy bằng sự hiện diện Thánh
Thể của Người. Chính tấm bánh Thánh Thể duy nhất làm cho chúng
ta nên một thân thể duy nhất, vì ‘chúng ta tất cả cùng tham phần
vào một tấm bánh duy nhất’ (1Cor 10:17). Nơi mầu nhiệm Thánh Thể,
Chúa Giêsu muốn xây dựng Giáo Hội như là một mối hiệp thông, theo
khuôn mẫu tối hậu đã được Người nói lên trong lời nguyên tư tế
của Người: ‘Như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha, để họ
cũng được ở trong Chúng Ta, hầu thế gian tin rằng Cha đã sai Con’
(Jn 17:21)”. (khoản số 20)
Thánh
Thể là Nguyên Lý và là Dự Án ‘Truyền Giáo’
• “Hai môn đệ đi Emmau, khi nhận ra Chúa, ‘liền lập tức lên đường’
(x Lk 24:33), để tường trình những gì các vị đã thấy và đã nghe.
Một khi chúng ta đã thực sự gặp gỡ Đấng Phục Sinh bằng việc tham
phần vào mình máu của Người thì chúng ta không thể giữ lấy cho
mình niềm vui chúng ta cảm nghiệm thấy. Việc gặp gỡ Chúa Kitô,
liên lỉ được tăng phát và vững mạnh qua Thánh Thể, làm phát sinh
trong Giáo Hội cũng như nơi mỗi Kitô hữu lời hiệu triệu thúc bách
thực hiện việc làm chứng từ và truyền bá phúc âm hóa. Tôi đã nhấn
mạnh đến điều này trong bài giảng loan báo Năm Thánh Thể, dựa
theo lời của Thánh Phaolô: ‘Mỗi lần anh em ăn bánh này và uống
chén ấy là anh em loan truyền việc Chúa chịu chết cho tới khi
Người lại đến’ (1Cor 11:26). Vị Tông Đồ này chặt chẽ liên kết
bữa ăn với việc loan báo, vì việc tham dự vào mối hiệp thông với
Chúa Kitô để tưởng niệm Cuộc Vượt Qua của Người cũng có nghĩa
là cảm thức được nhiệm vụ cần phải trở nên một thừa sai truyền
giáo cho biến cố được hiện thực theo lễ nghi này (Cf. Homily for
the Solemnity of the Body and Blood of Christ [10 June 2004]:
L'Osservatore Romano, 11-12 June 2004, p.6). Việc giải tán ở cuối
mỗi Thánh Lễ là việc ủy thác trách nhiệm cho Kitô hữu, kêu gọi
hãy hoạt động để truyền bá Phúc Âm và làm cho xã hội thấm nhiễm
các giá trị Kitô giáo”. (khoản số 24)
• “Thánh Thể chẳng những cung ứng sức mạnh nội tâm cần thiết cho
sứ vụ truyền giáo này, mà còn, ở một nghĩa nào đó, chính là dự
án của sứ vụ truyền giáo nữa. Vì Thánh Thể là một kiểu cách hiện
hữu được truyền từ Chúa Giêsu đến mỗi Kitô hữu là thành phần nhờ
chứng từ của họ mà việc hiện hữu ấy được tràn lan khắp xã hội
và văn hóa. Để điều này được thực hiện, mỗi một phần tử thuộc
thành phần tín hữu, bằng việc suy niệm chung riêng, cần phải hòa
hợp với những giá trị được Thánh Thể diễn đạt, với những thái
độ được Thánh Thể soi động, với những quyết định được Thánh Thể
tác động”. (khoản số 25)
Thế nhưng, cũng chính vì Mầu Nhiệm Thánh Thể là Sự Sống Hiệp Thông
liên quan đến Giáo Hội nên cũng liên quan tới cả vấn đề Đại Kết
Kitô Giáo, một vấn đề đang nhắm đến mục tiêu hiệp nhất một cách
trọn vẹn, ở chỗ tất cả Kitô hữu được chung dự cùng một bàn tiệc
Thánh Thể và một cách hữu hình, ở chỗ chỉ có một chủ chiên duy
nhất đại diện Chúa Kitô thừa kế Thánh Phêrô. Về vấn đề Mầu Nhiệm
Thánh Thể với vấn đề Đại Kết Kitô Giáo liên quan tới việc cử hành
phụng vụ nói chung và Thánh Lễ nói riêng, Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II đã xác định những vấn đề cần phải tuân giữ về phụng
vụ, ở khoản số 44, 45 và 46 trong Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi
Thánh Thế thứ tự sau đây:
• “Chính vì mối hiệp nhất ấy của Giáo Hội, một mối hiệp nhất được
Thánh Thể thể hiện bằng hiến tế của Chúa cũng như bằng việc rước
lấy mình máu Người, mà nhất định cần phải hoàn toàn hiệp thông
nơi những liên hệ về việc tuyên xưng đức tin, về các bí tích cũng
như về việc quản trị giáo hội, chứ không thể cùng nhau cử hành
cùng một phụng vụ Thánh Thể cho đến khi các liên hệ ấy được hoàn
toàn tái thiết lập. Bất cứ việc đồng cử hành nào như thế đều không
phải là phương tiện tác hiệu, mà còn trở thành một ngãng trở,
cho việc đạt đến mối hiệp thông trọn vẹn, vì hành động ấy làm
suy yếu đi cảm quan về khoảng cách chúng ta đang ở trước mục tiêu
này, cũng như vì hành động ấy gây ra hay tăng thêm những mập mờ
liên quan đến một trong những sự thật của đức tin. Con đường tiến
đến mối hiệp nhất trọn vẹn chỉ có thể được thực hiện trong chân
lý mà thôi. Về phương diện này, những vấn đề cấm đoán theo luật
lệ Giáo Hội không hề có gì là mập mờ cả (Cf. Code of Canon Law,
Canon 908; Code of Canons of the Eastern Churches, Canon 702;
Pontifical Council for the Promotion of Christian Unity, Ecumenical
Directory, 25 March 1993, 122-125, 129-131: AAS 85 [1993], 1086-1089;
Congregation for the Doctrine of the Faith, Letter Ad Exsequendam,
18 May 2001: AAS 93 [2001], 786), mà hoàn toàn hợp với qui tắc
về luân lý đã được Công Đồng Chung Vaticanô II phác họa (“Divine
law forbids any common worship which would damage the unity of
the Church, or involve formal acceptance of falsehood or the danger
of deviation in the faith, of scandal, or of indifferentism”:
Decree on the Eastern Catholic Churches Orientalium Ecclesiarum,
26)”.
•
“Tuy không bao giờ được phép đồng cử hành trong tình trạng chưa
hiệp thông trọn vẹn, nhưng vẫn được phép ban Thánh Thể ở các trường
hợp đặc biệt cho những người thuộc về các Giáo Hội hay các Cộng
Đồng Giáo Hội chưa hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo.
Thật vậy, trong trường hợp này, mục đích là để đáp ứng nhu cầu
thiêng liêng hệ trọng liên quan đến phần rỗi đời đời của cá nhân
người tín hữu, chứ không phải là để thể hiện một thứ liên hiệp
thông là những gì vẫn còn bất khả cho đến khi những mối liên hệ
hữu hình thuộc mối hiệp thông giáo hội hoàn toàn được tái thiết.
Đó là phương sách của Công Đồng Chung Vaticanô II, khi công đồng
này nêu lên những hướng dẫn để đáp ứng các Kitô Hữu Đông Phương
vì lòng ngay phân ly với Giáo Hội Công Giáo, thành phần tự ý muốn
xin lãnh nhận Thánh Thể từ một thừa tác viên Công Giáo và đã dọn
mình xứng đáng (Decree on the Eastern Catholic Churches Orientalium
Ecclesiarum, 27). Phương sách này sau đó đã được chuẩn nhận bởi
cả hai bộ Giáo Luật là những bộ luật cũng để ý tới, với những
điều chỉnh cần thiết, trường hợp các Kitô Hữu không phải là Kitô
Hữu Đông Phương chưa hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo
nữa (Cf. Code of Canon Law, Canon 844, 3-4; Code of Canons of
the Eastern Churches, Canon 671, 3-4)”.
•
“Trong Thông Điệp Ut Unum Sint, Tôi đã bày tỏ cảm nhận riêng của
Tôi đối với những qui tắc ấy, những qui tắc đã có thể góp phần
vào việc ban phát ơn cứu độ cho những linh hồn có một nhận thức
xứng hợp: ‘Thật là vui mừng khi nhận thấy rằng các vị thừa tác
viên Công Giáo, trong những trường hợp đặc biệt, có thể ban bí
tích Thánh Thể, Thống Hối và Xức Dầu Bệnh Nhân cho các Kitô hữu
chưa hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo nhưng lại là
những người hết sức muốn lãnh nhận các bí tích ấy, tự động xin
lãnh nhận các bí tích này và bày tỏ đức tin như Giáo Hội Công
Giáo tuyên xưng liên quan đến các bí tích ấy. Ngược lại, trong
các trường hợp đặc biệt và trong các hoàn cảnh riêng biệt, những
người Công Giáo cũng có thể xin lãnh nhận các bí tích ấy từ những
vị thừa tác viên thuộc các Giáo Hội thật sự có những bí tích này’
(No. 46: AAS 87 [1995], 948). Những điều kiện ấy, những điều kiện
bất khả châm chước, cần phải được cẩn thận tôn trọng, cho dù được
áp dụng cho những trường hợp đặc biệt riêng, vì nếu chối bỏ một
hay những sự thật đức tin liên quan đến các bí tích này, trong
đó, có cả sự thật liên quan tới nhu cầu thuộc chức linh mục thừa
tác trong việc ban phát thành hiệu các bí tích này, khiến cho
người xin lãnh nhận các bí tích ấy không hội đủ điều kiện xứng
hợp để được phép lãnh nhận. Ngược lại cũng thế, những người Công
Giáo không được rước lễ nơi những cộng đồng không có bí tích Truyền
Chức Thánh thật sự (Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Decree
on Ecumenism Unitatis Redintegratio, 22)”.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, diễn giải và chuyển dịch
|
|