dongcong.net
 
   
 
 
 
 

 

 
Năm Thánh Thể
 
 
Lm. Trọng Thưởng, CMC
 
<<<    

Thánh lễ Chúa nhật: Gánh nặng hay Ơn phúc?

Bắc Ái nhĩ lan là miền đất có cuộc tranh chấp nhuộm máu lâu đời giữa người Công giáo và Tin lành. Pat rời xa quê hương, phố Belfast, Ái nhĩ lan, từ thuở nhỏ. Trước khi trở về thăm quê, Pat hỏi người bạn cùng quê:

- Tôi phải nói năng làm saovề vụ đụng chạm giữa Công giáo và Tin lành?

- Nếu anh ở trong xóm Công giáo, anh là người Công giáo. Nếu anh ở trong xóm Tin lành, anh là người Tin lành. Chỉ đơn giản như vậy thôi!

Xe lửa đưa Pat về đến Belfast quãng 9 giờ tối. Anh quá nóng lòng dạo phố xem xét nên đi vòng vòng mấy đường phố gần trạm xe lửa. Thình lình từ trong hẻm tối, một tên cướp nhảy ra dí súng vào đầu Pat. Anh không biết mình đang ở xóm nào. Tên cướp hỏi:

- Công giáo hay Tin lành?

Pat sợ hãi đáp:

- Do thái.

Tên cướp cười nham hiểm tỏ vẻ khoái trá nói:

- Ta thiệt là tên Ả rập may mắn nhất nước Ái nhĩ lan.

Tôn giáo cùng với việc tham dự thánh lễ Chúa nhật của nhiều người Công giáo hiện nay đã trở thành một danh hiệu có thể trút bỏ, thay đổi tùy hứng, tùy tiện. Điều này nói lên đức tin của họ đã trở nên yếu kém nếu chưa mất hẳn, đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta phải cẩn thận duy trì và làm cho vững mạnh đức tin, kẻo cũng rơi vào con đường lầm lạc đó. Đối với nhiều người Công giáo, việc tham dự thánh lễ là một trách nhiệm buộc thành tội hơn là một hành vi thờ phượng chính đáng dâng lên Thiên Chúa. Nhiều người đi lễ Chúa nhật chỉ đứng ở cuối nói chuyện, hút thuốc, hoặc miễn cưỡng vào trễ, ra sớm rồi ra về yên trí mình đã dự lễ. Phải chăng như vậy là bảo đảm được cái vé về thiên đàng? Những người này có hơn gì những người cứ ở nhà cuốn chăn ngủ ngáy ầm ầm? Biết đâu vậy mà hơn vì không quấy rầy người khác dự lễ và không làm gương mù nơi công cộng? Nói đến người này, người kia chẳng qua là để nhắc nhở cho chúng ta, những người còn thiết tha tìm hạnh phúc chân thật ở đời này và đời sau. Chính vì muốn sống hạnh phúc chúng ta mới duy trì và phát triển đức tin. Hãy cùng nhau suy tư về tình trạng tuột dốc đức tin tại Hoa kỳ và có đường lối để thay đổi.

I. Thống kê

Theo kết quả nghiên cứu trong năm 2000 của cơ quan Barna Research Online, tại Hoa kỳ khoảng 49% người Công giáo đi lễ cuối tuần, so với con số 70% hoặc cao hơn vào những thập niên 50 hoặc 60; 38% người Công giáo nói rằng tuyệt đối tin tưởng và sống đức tin Kitô giáo; 25% đọc Thánh kinh ngoài thánh lễ; 27% hoàn toàn không đến nhà thờ. Nhìn vào hoàn cảnh rộng lớn hơn, toàn thể nước Mỹ, 40% những người trưởng thành đến nhà thờ vào cuối tuần. Trong đó chia ra theo lứa tuổi: dưới 40, chỉ có 28% đi nhà thờ; 40-55, 43%; 55-65, 50%; trên 65, 52%. Chia ra theo địa lý: vùng Vòng đai Kinh thánh (Bible Belt), gồm miền trung tây và nam Hoa kỳ, có tỷ lệ đến nhà thờ cao hơn; miền nam có 46%, miền trung tây có 44%; so với miền tây chỉ có 37%, và miền đông bắc chỉ có 32%. Những người có gia đình đến nhà thờ với tỷ lệ cao hơn, tức là 49%, so với người độc thân chỉ có 31%. Những người theo phe bảo thủ trong những vấn đề chính trị, xã hội đi nhà thờ đông hơn, tức là 58%, so với phe cấp tiến chỉ có 28%.

Những dữ kiện trên cho thấy có sự sút kém đức tin theo thời gian. Việc đến thánh đường thờ phượng Thiên Chúa không còn là thói quen của đa số dân chúng Hoa kỳ như thời xa xưa nữa. Xã hội Mỹ đã và đang bị tục hoá, muốn thoát ly mọi hình thức tôn giáo. Điều này ảnh hưởng mạnh mẽ nhất nơi giới trẻ, nhưng phát xuất từ những người lãnh đạo. Mặt khác, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy việc đến nhà thờ không phải là một phong trào đua đòi rầm rộ, nhưng là một sự lựa chọn ý thức của một số người còn nhìn nhận giá trí của tôn giáo, của đức tin; mức độ ý thức có thể khác nhau.

II. Những lý do sa sút

1. Hưởng thụ vật chất

Thế giới tiến rất nhanh trong việc cung cấp cho con người những phương tiện giúp đời sống thoải mái hơn, dần dần đi đến chỗ quá trớn trở thành lười biếng, ham hưởng thụ. Ngày xưa chưa có hệ thống nước dẫn vào tận nhà, phải khệ nệ vác nước từ các vòi hoặc giếng công cộng. Những việc nấu nướng, giặt giũ... chiếm hết cả ngày của các bà mẹ, người chị lớn trong gia đình. Khi điện, nước, khí đốt được dẫn đến từng nhà, thêm vào những phát minh như máy giặt, lò điện, máy xay... việc nội trợ không còn là vấn đề cực nhọc vất vả nữa. Những phát minh tân tiến khác của khoa học giúp cho con người không còn phải vất vả trong việc sản xuất, di chuyển. Cuộc sống con người càng được thoải mái hơn với máy lạnh, máy sưởi trong nhà, xe hơi, rồi TV, tủ lạnh, VCR, DVD, video game... bao nhiêu thứ giúp cho người lớn cũng như trẻ con vui chơi giải trí. Một trẻ em sinh ra tại thôn quê nghèo khổ Việt nam phải trải qua bao nhiêu cơn bệnh tật hiểm nghèo. Nếu có lớn lên được, đến chừng 10 tuổi đã phải vất vả với việc coi em, nấu nướng, nước nôi trong nhà. Thêm mấy tuổi nữa có thể bắt đầu theo cha mẹ lẫn lộn vào đời, buôn bán, hoặc làm việc ngoài đồng. Những vất vả khó khăn này sớm tôi luyện cho các em nên người biết suy nghĩ về cuộc sống, về trách nhiệm, về tha nhân. Một đứa trẻ sinh ra và lớn lên tại Mỹ, trong một gia đình trung bình, lúc nào cũng được che chở bởi lớp nệm của sự chiều chuộng. Lúc còn nhỏ thì Teddy Bear, Barbie Doll, đủ loại đồ chơi vây quanh mình. Lớn lên thì các thứ quần áo, có thể quái dị, nhưng có “brand name” nổi tiếng, không thiếu món nào. Đến tuổi 15, 16 thân xác cao cồng ngồng nhưng không giúp cho bố mẹ được điều gì, suốt ngày chỉ lo đi party, chơi với bạn. Nếu bị giữ ở nhà thì mặt dài thuồn thuột ra kêu “boring”. Nếu chỉ vậy thôi thì chưa đến nỗi tệ, nhiều khi còn bỏ học, đi chơi với gangster, đòi mua xe mà không được thì bỏ nhà đi, hút sách, trộm cắp để rồi đâm đầu vào tù, héo cả cuộc đời. Lối sống hưởng thụ vật chất quá mức dìm con người xuống ngang hàng với con vật, chỉ thích dễ chịu, thoải mái theo ý mình, nếu không được thì lồng lộn phá phách, nổi loạn. Đó là hình ảnh rất rõ ràng nơi trẻ ngày nay tại Hoa kỳ: sản phẩm của một xã hội hưởng thụ vật chất quá trớn.

Khi con người bị chôn vùi trong hưởng thụ vật chất, đức tin chỉ nhẹ như làn gió thoáng qua. Nói đến đức tin là nói đến hy sinh dấn thân để phụng sự Thiên Chúa. “Tôi đang sống thoải mái dễ chịu như vầy, tôi đâu cần có Thiên Chúa để làm chi! Hơn nữa có Chúa vào chỉ làm cho đời tôi thêm rắc rối... nào là phải đi lễ weekend trong khi chỉ có cuối tuần để party... nào là không được đụng đến sex ngoài hôn nhân... rồi bao nhiêu thứ luật lệ khác ràng buộc cái tự do quí hơn vàng ròng của tôi!”

Những hưởng thụ vật chất và việc tôn thờ Thiên Chúa thường có chiều hướng va chạm. Điển hình nhất là việc tham dự thánh lễ Chúa nhật. Chỉ cần có picnic, party trễ, hẹn hò, shopping... nhiều khi cũng đủ là lý do để “cho Chúa nghỉ” một weekend. Xã hội hưởng thụ tối đa nên cũng phải làm tối đa để có tiền chạy đua với đà mua sắm. Vì thế, hãng xưởng làm việc 24/24, chia làm ba ca, làm cả thứ Bảy, Chúa nhật, một hình thức vô thần thực nghiệm, một sự tục hoá che đậy dưới danh nghĩa “kế sinh nhai”. Trong gia đình, cả hai vợ chồng đều đi làm, con cái không được dạy dỗ hướng dẫn về kinh sách, đạo nghĩa. Nơi chồng làm việc có những phụ nữ trẻ đẹp; nơi vợ làm việc cũng gần gũi những đàn ông khác có vẻ hấp dẫn. Chuyện ngoại tình là cơn cám dỗ hàng ngày phải đối đầu, hỏi có mấy người khôn ngoan, tỉnh thức đủ để nhận ra hạnh phúc là cái mình đang nắm trong tay chứ không phải là cái bóng mờ dưới hồ nước? Khuynh hướng hưởng thụ, chiều theo khoái cảm, trong những trường hợp trên, thường đưa con người đến chỗ làm chuyện dại khờ, gây hại đến bản thân, con cái, người thân... Chúa Kitô đã phán trong Phúc âm: “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc nó ghét chủ này và yêu mến chủ kia, hoặc nó chuộng chủ này và khinh chủ nọ. Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được” (Mt 6:24). Một khi đã nếm mùi vui khoái hưởng thụ tiện nghi vật chất, có mấy người can đảm sống cách dứt khoát, minh bạch như Chúa Kitô phán dạy? Sống trong xã hội chìm đắm trong vật chất, hưởng thụ, con người thường nhượng bộ cho những cám dỗ của xác thịt, lòng tham, hận thù vì tranh giành, có mấy người dám đến nhà thờ đối diện với Thiên Chúa và lương tâm?

Tuy nhiên, Chúa Kitô đã phán: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá hằng ngày và theo Thầy. Vì chưng, ai muốn giữ mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ được sống” (Lk 9:24). Ai muốn giữ mạng sống mình thì sẽ mất là định luật sâu sắc chìm ẩn của vũ trụ mà Chúa Kitô muốn chỉ cho chúng ta thấy. Chuyện xảy ra tại một gia đình, cha mẹ ngày đêm sáng tối chúi đầu vào cái tiệm, bỏ mặc đàn con. Một ngày nó bịt mặt kéo băng đảng về nhà trói cổ bố mẹ tra tấn, đánh đập lấy hết tiền của, vàng bạc. Giàu có rồi cũng trở nên trắng tay, cuối cùng còn lại gì? Con đường hưởng thụ, chạy theo khoái cảm đang đưa xã hội này đến chỗ diệt vong. Hãy nhìn vào kết quả của xã hội hưởng thụ: cả một thế hệ trẻ sống trong mối nguy hiểm đến tính mạng vì súng đạn trong trường học, thanh toán băng đảng, tranh chấp buôn bán thuốc phiện, tự tử vì chán nản thất vọng... Ngoài ra còn những mối nguy xã hội khác như mang thai ở tuổi vị thành niên, phá thai, hút sách, bài bạc, ly dị, ngoại tình, bạo động giữa vợ chồng với con cái... Khi loại bỏ Thiên Chúa để tôn thờ khoái cảm vật chất, con người chỉ tìm thấy bất hạnh.

2. Duy khoa học, duy lý

Hơn một trăm năm trước, cuộc cách mạng kỹ nghệ và khoa học đã biến đổi bộ mặt Âu châu, từ thế giới văn hoá Kitô giáo thành thế giới duy khoa học, duy lý. Lúc đó các nhà khoa học rất hãnh diện, tự tin với những khám phá được cho là “vĩ đại” vào thời ấy. Họ “phán” rằng: “trên trời” toàn chứa đầy khí, nguyên tử là phẩn nhỏ nhất trong vũ trụ, và những định lý của Newton giải thích hết mọi chuyện trong trời đất. Chỉ trong thế kỷ qua cũng chính khoa học chứng minh rằng những lời phán trên chỉ là “nói phét”. Không gian chỉ là... không gian, đâu có loại khí nào lởn vởn ngoài đó! Các nhà vật lý hiện nay đã cho xếp hàng một lô các phần nhỏ hơn nguyên tử; những định lý của Einstein cho thấy Newton quả là còn... nhiều chuyện chưa biết. Nhiều khoa học gia ngày nay cũng tỏ ra tự tin, cao ngạo với mớ kiến thức hiện tại không kém những đồng nghiệp sống hơn trăm năm trước. Biết đâu chỉ cần vài chục năm nữa những kẻ hậu bối nghiên cứu khoa học lại cười vào mặt những kẻ đang vỗ ngực tự tin rằng mớ kiến thức của họ đã khiến Thiên Chúa không còn chỗ ẩn nấp. Và rồi cái vòng luẩn quẩn cười vào mặt nhau cứ tiếp tục cho đến tận thế, vì con người và sự hiểu biết của mình nhỏ bé hơn hạt bụi so với vũ trụ bao la tưởng chừng như vô cùng. Như con kiến mò mẫm sống giữa thế giới loài người thế nào, con người cũng đang mò mẫm trong vũ trụ như vậy.

Lẽ ra khoa học, tức là công cuộc nghiên cứu khảo sát thiên nhiên, vũ trụ, công trình tạo dựng của Thiên Chúa, phải đưa người ta đến chỗ nhận biết và tôn vinh Thiên Chúa. Tuy nhiên, chính chỗ mà đức tin được dịp tăng triển vững mạnh, lại cũng là nơi những người vô thần củng cố địa vị. Khi phi hành gia đầu tiên của Hoa kỳ ra ngoài không gian, được chiêm ngắm toàn thể vũ trụ lần đầu tiên, tâm trí ông liền nghĩ đến câu Thánh vịnh: “Trời xanh tường thuật những vinh quang Chúa, không gian kể ra những điều kỳ diệu Ngài làm”. Ngược lại, khi phi hành gia đầu tiên của Nga lên không gian, ông đã “phun” ra một câu rất hỗn: “Tôi đã lên trời và không thấy Thiên Chúa đâu!”

Khoa học có thể nâng đỡ, tăng thêm đức tin, cũng có thể dùng để chối bỏ Thiên Chúa. Với mầm mống kiêu ngạo trong hồn, người ta dễ có khuynh hướng theo đàng trái. Ước muốn bằng Thiên Chúa của nguyên tổ khi xưa vẫn ám ảnh nhiều người tin vào khoa học như một ngẫu tượng. Khoa học giúp cho con người tiến xa trong khả năng và sự hiểu biết, giúp con người sống thoải mái nhờ chế tạo những tiện nghi trong nhà, phương tiện giải trí. Người ta tin tưởng và tôn vinh khoa học vì khoa học là sản phẩm của trí khôn con người. Tóm lại là tôn vinh chính mình, kết quả sau cùng vẫn là sự sa ngã thê thảm vào cái bẫy của con rắn già ma quỉ. Xét cho cùng, khoa học chỉ mò mẫm đi theo qui luật mà Thiên Chúa đã xếp đặt trong trời đất, đâu có làm được cái trò gì khác đâu! Chúa chỉ cần phá luật “gravity” đi một phút, thì chẳng còn ai sống sót mà dám huyênh hoang chối Chúa!

Vào cuối thế kỷ 19, khi khoa học bắt đầu có những thành tích quan trọng, trên một chuyến xe lửa tại Pháp có một cụ già tóc bạc phơ, âm thầm ngồi cầm tràng hạt tng tay, miệng lâm râm đọc kinh Mân côi. Một sinh viên khoa học vô tình ngồi đối diện và để ý việc làm của cụ. Anh sinh viên nói với cụ già:

- Ở thời khoa học văn minh như bây giờ mà cụ còn tin vào những chuyện kinh hạt, dị đoan như vậy sao?

Cụ già gật đầu trả lời:

- Phải, tôi tin.

Người sinh viên nói:

- Tôi có thể giúp cụ mở trí, học hỏi thêm về khoa học, để cụ khỏi phải tin ba cái chuyện tôn giá nhảm nhí. Cụ hãy cho tôi biết địa chỉ để tôi đến nhà nói chuyện với cụ.

Cụ già lẳng lặng rút trong túi ra tấm danh thiếp nhỏ đề tên: “Louis Pasteur, Viện Nghiên Cứu...” Chàng sinh viên giật mình, toát mồ hôi, muốn độn thổ vì đã dám to gan giảng luân lý cho nhà khoa học đại tài của Pháp. Khoa học chân chính bao giờ cũng đưa con người đến chỗ suy phục Thiên Chúa, khi đối diện với những mầu nhiệm diệu kỳ trong vũ trụ.

3. Những lầm lỗi mục vụ

Một lý do không thể chối cãi việc sút giảm đời sống đức tin nơi các tín hữu Công giáo một phần là những lầm lỗi mục vụ của những người làm việc điều hành giáo xứ. Đành rằng giữ đạo, sống đạo vì Chúa, nhưng thực tế đã có những giáo dân vì cách cư xử lầm lỡ của cha hoặc những người điều hành trong xứ mà bỏ đạo, không đi dự lễ, xưng tội nữa. Đây là một thách đố lớn mà những người có trách nhiệm trong giáo xứ cần đối diện.

III. Canh tân

1. Củng cố đức tin

Đức tin là đôi mắt thần Chúa ban cho người tín hữu để nhận biết thực tại siêu hình. Có mắt mà không chịu nhìn thì dần dần sẽ kém đi, và không thấy đường luôn! Vì vậy, chúng ta cần phải dùng mắt đức tin để nhận ra những ơn lành của Chúa ban cho hằng ngày. Mỗi sáng mở mắt ra thức dậy, bắt đầu một ngày mới, đó là một ơn phúc Chúa thương ban. Chúng ta còn đầy đủ mắt mũi, chân tay, không sứt mẻ, què quặt, nhiều khi còn được Chúa ban cho khoẻ mạnh, “bảnh giai”, có nhan sắc, có tài năng khéo léo để ăn nói, làm việc, có nhà lớn, xe hơi, job tốt, vợ đẹp, con khôn... và biết bao ơn phúc khác Chúa ban cho. Có bao giờ chúng ta nhận ra đó là quà tặng Chúa ban, là lòng yêu thương của Chúa và dâng lời cảm tạ không? Nói như vậy không có nghĩa rằng nếu không được những điều trên là Chúa không yêu thương chúng ta. Thật ra điều căn bản là trước hết phải tin vào tình yêu thương của Chúa cho dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào. Được những điều lành mà biết tạ ơn Chúa là chuyện dễ dàng và đương nhiên thôi! Khi gặp phải những khó khăn, đau khổ trong cuộc sống là lúc Chúa ban cho đôi mắt đức tin có khả năng nhìn sâu xa hơn. Đó là lúc đức tin được cơ hội lớn lên, trưởng thành hơn, có khả năng vượt qua những sóng gió, bão táp trong cuộc sống. Đức tin được chứng minh hoàn toàn trưởng thành chính là của các vị tử đạo, những người chết để làm chứng rằng có một Thiên Chúa yêu thương nhân loại.

Con mắt đức tin giúp người tín hữu nhận ra rằng thế giới này, cuộc sống này không chỉ có bề mặt, chỉ gồm những gì động chạm đến được, nhưng còn liên kết với một thực tại vô hình, mầu nhiệm. Con người không chỉ là một thân xác sống động như con vật, nhưng còn có một linh hồn bất tử, được kêu gọi, tiền định hưởng hạnh phúc đời đời với Thiên Chúa. Do đó, ngay ở đời này, người tín hữu có đời sống tâm linh, tinh thần làm hồn sống cho những sinh hoạt hằng ngày. Linh hồn được sống nhờ sự liên kết với Thiên Chúa trong cầu nguyện, lãnh nhận ơn thánh tức là được chia sẻ sự sống thần linh của Thiên Chúa. Qua các bí tích của Giáo hội, Thiên Chúa trao ban ơn thánh cần thiết để giúp các tín hữu sống trọn ý nghĩa cuộc sống Kitô hữu, tìm thấy bình an, hạnh phúc ở đời này và đời sau.

Các bí tích không phải như chuyện bùa phép của bọn phù thủy. Chúng dùng quỷ thuật để xoay chuyển, gây ảnh hưởng đến hoàn cảnh chung quanh. Bí tích là quyền phép của Thiên Chúa, dùng dấu hiệu bên ngoài để làm môi giới thông ban ơn thánh cho các tâm hồn. Do đó, để có khả năng lãnh nhận các bí tích, đòi hỏi phải có nhân đức tin, cậy, mến là ơn Chúa ban khi lãnh nhận bí tích Rửa tội. Để được rửa tội phải tin vào Chúa. Các bí tích tỏ cho các tín hữu Công giáo thấy chiều sâu và sự phong phú của đời sống đạo.

Những đoạn Thánh kinh được xưng tụng là lời Chúa hàm chứa những chân lý hướng dẫn đời sống. Những lời nguyện, cử chỉ trong phụng vụ đều mang những ý nghĩa giúp dân Chúa liên kết với sự hiện diện của Chúa Kitô trong các giờ phụng vụ.

Các giờ phụng vụ, cách riêng là thánh lễ, luôn hướng lòng các tín hữu về thiên đàng là nơi chúng ta được liên kết với Thiên Chúa đời đời, là đích sau cùng của cuộc sống con người. Đức tin Công giáo nhắc nhở rằng cuộc sống trần gian này chỉ là tạm bợ, sẽ đến hồi kết thúc, để bước vào cuộc sống vĩnh cửu. Do đó, đức tin đòi hỏi người tín hữu một thái độ thoát ly với vật chất, của cải, vui thú, danh lợi là những cái sẽ tan biến như mây khói, để lo tìm kiếm, gắn bó với thực tại siêu nhiên bền vững muôn đời.

2. Thánh lễ: hy tế hy sinh

Thái độ thoát ly chính là một sự hy sinh liên tục trong cuộc sống Kitô hữu. Hy sinh là chấp nhận mất đi một điều gì mình ưa thích để đổi lấy một cái khác được coi là quí trọng hơn. Nhiều chiến sĩ chấp nhận thiệt mất mạng sống để đổi lấy sự sống còn cho quê hương. Các vị tử đạo chịu đau đớn, đổ máu đến chết để đổi lấy đức tin cho bao tín hữu. Đó là những hy sinh đáng kính phục, nhưng tất cả đều trở nên vô ích nếu không có lễ tế hy sinh của Chúa Kitô trên thánh giá. Chúa Kitô đã chấp nhận chịu đau khổ, chịu chết để đổi lấy ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại và cả vũ trụ bị hư hỏng vì tội lỗi.

Một bạn trẻ đến với vị linh mục thưa rằng: “Thưa cha, mỗi lần đến nhà thờ con có cảm tưởng như xem vị linh mục lặp đi lặp lại những động tác quen thuộc, thật là boring!” Quả thật, nếu ngồi xem như người ta diễn kịch thì đúng là như vậy. Nhưng thánh lễ không phải là tuồng kịch mà là một buổi dâng lễ tế hy sinh. Ngay từ xa xưa trong thâm tâm của những người thời cổ đã có ý niệm tôn thờ các vị thần bằng tác động dâng lễ vật hy sinh sát tế, giết chết một con vật, có khi là một con người, trên bàn thờ. Đây là một việc mang tính cách trang trọng đến nỗi nhiều di tích cổ còn lại sau mấy ngàn năm, mấy thế kỷ là những đền thờ, bàn thờ được dùng cho việc sát tế. Thổ dân da đỏ thuộc giống dân Aztec từng sống tại Mexico trước khi bị người Âu châu xâm chiếm vào thế kỷ 16. Dân tộc này có một nền văn hoá cao so với các giống thổ dân khác. Họ xây cất đền thờ để hiến dâng của lễ thật công phu, vĩ đại như hình kim tự tháp. Ngày nay vẫn còn dấu tích của đền thờ.

Kinh thánh đã thuật lại thói lệ hiến dâng lên Thiên Chúa của lễ toàn thiêu, như cử chỉ suy tôn vị Chúa Tể muôn loài. Abel đã dâng lên Chúa những sản phẩm do sức lao động của mình: toàn thiêu hoa quả đầu mùa, và Chúa đã vui lòng chấp nhận, không phải vì Chúa thích mùi khét lẹt của hoa quả cháy thành than, nhưng Chúa thưởng thức tấm lòng ngay thẳng, chân thành của Abel tượng trưng qua của lễ. Sau này, Abraham đã dâng của lễ cao cả nhất trong Cựu ước: sẵn sàng sát tế con là Isaac. Maisen đã thiết lập các luật lệ tỉ mỉ trong sách Đệ nhị luật, Lê vi. Tất cả đều được gọi là của lễ hy sinh. Mọi của lễ hy sinh chỉ là hình bóng qui hướng về của lễ hy sinh Chúa Kitô hiến dâng trên thập giá, được tái diễn sống động, hiện thực cách mầu nhiệm trong mỗi thánh lễ.

Nhiều người giải thích cách đơn giản rằng Chúa Kitô phải đổ máu trên thánh giá để bù đắp lại đức công bằng bị tổn thương vì tội lỗi loài người xúc phạm đến Thiên Chúa. Phải chăng Chúa Cha nổi giận bừng bừng, chợt nguôi cơn giận khi nhìn thấy máu con mình đổ ra trên thánh giá? Cắt nghĩa như vậy là quá đơn giản hoá mầu nhiệm cứu chuộc và trình bày một hình ảnh sai lầm về Thiên Chúa. Ơn cứu độ là một mầu nhiệm liên kết mật thiết với hai chữ hy sinh. Khi dâng mình chịu chết trên thánh giá, Chúa Kitô đã biến hai chữ hy sinh nên thần dược cứu chữa sự hư hỏng của nhân loại vì tội lỗi. Tại sao Chúa đã chọn cách này để cứu chuộc nhân loại? Có lẽ vì đó là cách thế thích hợp của tình yêu: tình yêu chân thật có nhu cầu diễn tả bằng hy sinh bản thân. “Không có tình yêu nào lớn lao hơn người chết vì bạn hữu”.

Chúa Kitô đã kêu gọi những ai muốn theo Chúa, muốn hưởng ơn cứu độ cũng phải theo con đường hy sinh. Khi tham dự thánh lễ, cử hành lễ tế hy sinh của Chúa Kitô trên thánh giá, người tín hữu liên kết những khó khăn, đau khổ, vui buồn trong cuộc sống, tức là tất cả cuộc đời với Mình và Máu thánh Chúa trên bàn thờ để làm của lễ tôn thờ Thiên Chúa Cha. Nhờ đó, hàng ngàn, hàng vạn những hy sinh, khó khăn người tín hữu trải qua trong đời sống được mang ý nghĩa cứu độ do lễ hy sinh của Chúa Kitô. Tất cả đều là hình bóng trình bày lễ hy sinh cứu độ của Chúa Kitô. Đây là cách Chúa Kitô thánh hoá và cứu chuộc con người.

Khi tham dự thánh lễ, người tín hữu cần có cái nhìn sâu xa của đức tin. Nghi thức cử hành lễ tế hy sinh luôn có bốn yếu tố: của lễ, tư tế, tác động sát tế, lễ vật bị tiêu hủy hoặc biến đổi. Trên thánh giá, Chúa Kitô vừa là tư tế, vừa là của lễ chịu sát tế, tác động sát tế là chịu đóng đinh, chịu đổ máu mình ra, và cái chết đã tiêu hủy lễ vật. Trong thánh lễ, tất cả những điều trên được tái diện hiện thực cách mầu nhiệm, không đổ máu. Chúa Kitô qua vị linh mục và bánh rượu vẫn giữ vai trò tư tế và của lễ, tác động sát tế và kết quả của hy lễ vẫn y như đã xảy ra trên đồi Canvê, nhưng được diễn tả qua hai hiình bánh rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô.

Thánh lễ, tác động dâng lễ hy sinh, chứa đựng bốn ý nghĩa: thờ phượng, cảm tạ, đền tội, và xin ơn.

a. Thờ phượng: Trong văn hoá Việt nam, hai chữ thờ lạy rất tượng hình khiến người ta nghĩ ngay đến hình người cúi gập lưng, hay phủ phục trên đất trước một đối tượng. Tiếng Mỹ dùng chữ “adore”. Tiếng “adore” chỉ dành cho Thiên Chúa, tác động “adore” hay thờ lạy đi sau sự nhận biết vẻ huy hoàng, cao sang, rực rỡ, quyền lực của Chúa, và bị những điều đó chiếm đoạt nên bái phục. Tác động này xứng hợp cho tạo vật dâng lên Đấng Tạo Hoá, vì tất cả tạo vật đều nói lên quyền năng, tình thương yêu kỳ diệu của Thiên Chúa. Khi dâng thánh lễ, người tín hữu cùng với Chúa Kitô dâng lên Chúa Cha lòng suy phục thẳm sâu, và để cho Chúa chiếm đoạt trái tim vì sự cao cả của Ngài.

b. Cảm tạ: Biết ơn là thái độ đáp ứng thích hợp của người thụ ơn đối với người thi ân. Người Mỹ có thói quen hay cám ơn vì đã được dạy bảo từ nhỏ. Người Việt sống ở Mỹ cũng quen kiểu cách tốt lành đó, nên vì vậy hay bị lộ tẩy là Việt kiều khi về Việt nam. Người ở Việt nam chỉ c ần thấy ai động tí mở miệng cám ơn thì biết ngay là dân ở ngoại quốc về, lịch sự quen rồi! Biết ơn là thái độ thanh cao, xứng hợp với con người có hiểu biết. Muốn làm người cao quí phải sống lòng biết ơn. Đối với con người chỉ ban cho vài ơn huệ thông thường mà người ta còn phải biết ơn, huống c hi đối với Thiên Chúa, Đấng ban sự sống, cho trời đất, khí nước, biển khơi, cha mẹ, anh chị em, bạn bè và biết bao điều tốt lành trong cuộc sống... rồi còn yêu thương kêu gọi con người chia sẻ hạnh phúc đời đời với Ngài nữa! Ơn phúc lớn lao vô cùng như thế Chúa ban cho mỗi người mà không biết cảm tạ Chúa sao? Thánh lễ chính là lúc cùng với Chúa Kitô để cảm tạ Chúa Cha một cách xứng hợp, và đem lại thêm nhiều ơn phúc cho bản thân.

c. Đền tạ: Đầu mỗi thánh lễ, mọi người trong nhà thờ đều đấm ngực rầm rầm, xưng mình là kẻ có tội, xúc phạm đến Chúa, đến anh chị em “trong lời nói, việc làm và những điều thiếu xót... lỗi tại tôi mọi đàng”. Tội luôn luôn mang lại hiệu quả tai hại cho bản thân tội nhân, cho người khác, đảo lộn trật tự gia đình, xã hội, thế giới... Những thiệt hại đó cần được sửa chữa đền bù. Khi hiệp cùng linh mục dâng thánh lễ, người tín hữu dâng lên những hy sinh, đau khổ trong cuộc sống hợp với của lễ hy sinh vô giá của Chúa Kitô để đền bù, xin ơn tha tội. Đây là sự tự nguyện dâng mình của Chúa Kitô, của bản thân mỗi tín hữu. Điều đó diễn tả tình yêu chân thật dành cho Chúa Cha; và theo lời Kinh thánh, “tình yêu che lấp mọi tội lỗi”.

d. Xin ơn: Trong cuộc sống mỗi người đều ôm ấp những khát vọng, ước mơ cho bản thân, cho gia đình, bạn bè, những người chung quanh, những người bất hạnh... Người này cầu mong được khoẻ mạnh như trâu để làm việc; người kia ước ao con cái biết ngoan ngoãn học hành, vâng lời cha mẹ; có người muốn nhìn thấy thế giới được hoà bình, người nghèo có đủ cơm ăn áo mặc... Những khát vọng đó nói lên sự thiếu thốn, nghèo nàn, giới hạn, bất lực của thân phận con người. Đối diện với sự thật đó, chúng ta cần một nơi để cậy dựa, đó là Thiên Chúa. Những hy sinh của con người hợp với lễ hy sinh của Chúa Kitô là lời nguyện xin tha thiết, làm đẹp lòng Chúa Cha vô cùng. Ngài sẵn sàng tuôn đổ muôn hồng ân trên các tín hữu vì những lời nguyện dâng lên với Chúa Kitô trong thánh lễ.

IV. Kết luận

Thánh lễ là gánh nặng hay ơn phúc? Nếu nhìn với đôi mắt thiếu đức tin, thì thánh lễ chỉ là uổng phí thời giờ, keo kiệt lắm đi lễ chặt đầu chặt đuôi cũng mất tiệt gần tiếng đồng hồ. Do đó, thánh lễ quả là gánh nặng! Nhưng nếu có ánh mắt đức tin sáng chói, thánh lễ là những giây phút sống có ý nghĩa nhất đời người. Con người được Thiên Chúa dựng nên là để hưởng hạnh phúc với Chúa trên thiên đàng, tức là được vui sướng sống trong sự hiện diện tuyệt vời của Thiên Chúa và yêu mến Ngài. Thánh lễ là hình bóng hướng tới hạnh phúc thiên đàng. Chúa Kitô hiện diện trong Thánh Thể chính là con chiên tinh tuyền được thánh Gioan miêu tả trong sách Khải huyền. Con chiên là trung tâm buổi lễ diễn ra trong thành thánh Giêrusalem mới. Chúa Kitô hôm qua, hôm nay, và mãi mãi vẫn là một. Việc hiệp thông rước Mình Thánh Chúa, tham dự bàn tiệc Thánh Thể là hình bóng của bàn tiệc Nước Trời.

Hơn nữa, thánh lễ là sát tế cứu độ của Chúa Kitô dâng lên Chúa Cha, trong đó người tín hữu có thể kết hợp với lễ hy sinh của Chúa Kitô, tóm gọn cả đời mình trong hiến lễ đó mà dâng lên Chúa Cha. Cuộc sống con người chất chứa một khát vọng tôn thờ Thiên Chúa vô cùng tốt lành, thánh thiện và Chủ Tể Vạn Vật, là đấng Tạo Hoá, mong được Ngài chiếm đoạt, ngự trị. Đồng thời, con người cũng ấp ủ lòng biết ơn với Đấng Tạo Hoá đã ban cho sự sống, cùng bao ơn lành. Con người cũng luôn bị ám ảnh bởi bao lầm lỗi trong đời sống gây thiệt hại cho bản thân, tha nhân, xúc phạm đến Thiên Chúa, và mong được tha thứ lỗi lầm. Con người nhiều lần phải chấp nhận thực tại thiếu thốn, ôm ấp nhiều mơ ước khát vọng, cầu mong sự nâng đỡ trợ giúp của Thiên Chúa. Tất cả những điều đó được thoả đáng trong thánh lễ. Khi hợp với Chúa Kitô dâng lễ hy sinh, người tín hữu bày tỏ với Chúa Cha lòng tôn thờ, biết ơn, mong được tha thứ, và những lời khẩn nguyện. Nơi lễ hy tế của Chúa Kitô, người tín hữu tìm thấy ý nghĩa, sức mạnh cho những hy sinh đau khổ trong cuộc đời. Thánh lễ là mạch suối ơn phúc trào tràn cho những ai biết đến kín múc, và đem lại hạnh phúc chân chính cho những ai đang khao khát, kiếm tìm.

 

<tiểu mục <trang nhà

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)