dongcong.net
 
   
 
 
 
 

 

 
Năm Thánh Thể
 
 
Lm. Đức Anh, OP
 
<<<    

Thánh Thể: Trung tâm đời sống Kitô giáo

I. Hai mẫu tin

1. Ngày 6 tháng 3 năm 1998, Đức cha Thomas Tobin, Giám mục giáo phận Youngtown, bang Ohio, Hoa kỳ, đã công bố một thư mục vụ với tựa đề “Yêu mến và sống Thánh Thể - Eucharist: to be loved, to be lived” để kêu gọi toàn giáo phận của ngài thường xuyên học hỏi về bí tích Thánh Thể. Đồng thời, ngài cũng mời gọi các giáo xứ hãy nghiêm chỉnh cứu xét việc tái lập những việc đạo đức truyền thống để cổ võ lòng sùng kính đối với sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Thánh Thể.

Đức cha Tobin cho biết ngài công bố thư mục vụ trên đây, sau khi thấy các cuộc thăm dò dư luận chứng tỏ có nhiều tín hữu Công giáo không tin nơi sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Thánh Thể, và điều này là một sự kiện rất đáng lo âu. Vì thế, sau khi tham khảo ý kiến Hội đồng Mục vụ của giáo phận, Hội đồng Linh mục và Giáo dân, các giáo sĩ và tu sĩ trong giáo phận, ngài quyết định công bố thư mục vụ để mời gọi tín hữu trong giáo phận duy trì và phát huy truyền thống sùng kính đối với Thánh Thể. Bức thư tái khẳng định xác tín sâu xa của giáo phận Youngtown về chỗ đứng trung tâm của Thánh Thể trong đời sống Kitô giáo. Đồng thời, kêu gọi các linh mục hãy dùng những thời điểm đặc biệt trong năm phụng vụ để đề cập tới phép Thánh Thể trong các bài giảng, hầu giáo huấn rõ ràng cho các tầng lớp giáo hữu về bí tích trọng yếu này.

Đức cha Tobin viết: “Việc cử hành thánh lễ là trung tâm đời sống Công giáo, nhưng thánh lễ không phải là hình thức duy nhất nói lên lòng sùng kính của chúng ta đối với phép Thánh Thể. Còn có nhiều việc sùng kính khác đối với bí tích này cần được bảo tồn và khích lệ. Có lẽ trong những năm gần đây, chúng ta có xu hướng coi nhẹ những hình thức sùng mộ ấy.” Đức cha Tobin đặc biệt ca ngợi những giáo xứ còn duy trì thói quen chầu Mình Thánh 40 giờ đồng hồ, hoặc cử hành những Ngày Thánh Thể. Đồng thời, ngài cũng đề cao những giáo xứ đã thiết lập thói quen chầu Mình Thánh Chúa liên tục (CNS 10.3.98).

2. Chiều ngày 3.1.2001, Đức cha Theodore McCarrick, nguyên là Tổng giám mục giáo phận Newark, bang New Jersey, đã làm lễ nhận chức TGM giáo phận thủ đô Washington, Hoa kỳ, trong buổi hát kinh chiều trọng thể tại nhà thờ chính toà thánh Matthêu, trước sự hiện diện của hàng giáo sĩ, tu sĩ, thân nhân và đại diện giáo dân.

Đức TGM McCarrick, năm nay 75 tuổi (7.7.1930), đã từng thăm viếng Việt Namba lần trong phái đoàn HĐGM Hoa kỳ, trong tư cách là Chủ tịch ủy ban GM về di dân và tị nạn, và Chủ tịch Ủy ban Chính sách Quốc tế thuộc Hội đồng Công giáo Hoa kỳ.

Trong bài giảng tại lễ nhậm chức, Đức TGM McCarrick kể lại sự tích ngài một mình đến thăm trại tị nạn Việt Nam ở Kampuchia, sau thời kinh hoàng của khmer Đỏ. Đức cha nói bằng tiếng Pháp với người tị nạn rằng ngài hy vọng Giáo hội có thể làm được một cái gì cho họ. Những người tị nạn có mặt gật đầu, rồi họ hỏi ngài rất nhiều câu hỏi, như thể họ vấn đáp ngài về giáo lý. Sau một lát, họ nói: “Xin Đức cha đi với chúng con”. Rồi họ dẫn ngài vào rừng rậm, đi suốt nửa tiếng đồng hồ, tới một túp lề. Đức cha bước vào túp lều. Những người tị nạn Việt Nam lôi ra một chiếc hộp, giống như một hộp đựng xì-gà. Trong hộp có một Mình Thánh Chúa. Người tị nạn kể lại với Đức cha rằng cách đó sáu tháng, một linh mục đã ghé lại trại tị nạn và cử hành thánh lễ. Các tín hữu tị nạn ấy vẫn giữ lại một Mình Thánh Chúa để thờ lạy. Họ nói với Đức cha: “Chúng con không hề nói với ban giám đốc trại và cũng chẳng nói với ai về điều này. Mỗi khi có thể, chúng con đến đây để cầu nguyện. Đy là sự hiện diện duy nhất của Chúa giữa Bankok và Sàigòn”.

Sau khi kể lại sự tích trên đây, Đức TGM McCarrick nói với đông đảo giáo sĩ tại nhà thờ chính toà rằng: “Anh em thân mến, tôi tin thực rằng chỉ trong bí tích Thánh Thể, anh em và tôi mới có thể tìm được sức mạnh để phục vụ các tín hữu và chỉ trong Thánh Thể, các tín hữu của giáo phận Washington này mới tìm được sức mạnh để sống cuộc sống của họ trong Chúa Kitô” (CNS 4.1.2001).

Hai mẩu tin vắn trên đây do hãng tin Công giáo Hoa kỳ truyền đi cho thấy một đàng có sự sa sút tại một số nơi trong Giáo hội đối với bí tích Thánh Thể, cụ thể là số người tham dự thánh lễ Chúa nhật giảm sút và các hình thức sùng kính Thánh Thể cũng bị giảm theo, nhưng đàng khác là sự tái khẳng định tầm quan trọng của Thánh Thể như trung tâm của đời sống Kitô của bí tích này.

II. Thánh Thể: Nguồn mạch và tột đỉnh đời sống Kitô

Thực vậy, sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, trong các đoạn từ 1324-1327, nhắc lại những xác tín của Giáo hội qua dòng thời gian, và được Công đồng chung Vatican 2 tái khẳng định.

“Bí tích Thánh Thể là ‘nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Kitô’ (LG 11). Những bí tích khác cũng như các thừa tác vụ v à hoạt động tông đồ đều gắn liền với bí tích Thánh Thể và qui hướng về đó. Thực vậy, phép Thánh Thể Chí Thánh chứa đựng tất cả của cải thiêng liêng của Hội thánh, đó chính là Chúa Kitô, Người là mầu nhiệm Phục sinh của chúng ta” (PO 5).

“Bí tsch Thánh Thể biểu thị và thể hiện chính thực chất của Hội thánh là hiệp thông đời sống với Thiên Chúa và hiệp nhất Dân Thiên Chúa. Việc Thiên Chúa thánh hoá trần gian trong Chúa Kitô cũng như việc con người trong Chúa Thánh Thần, tôn thờ Chúa Kitô và nhờ Người tôn thờ chính Chúa Cha, cùng đạt tới tột đỉnh trong Thánh Thể” (Huấn thị Mầu nhiệm Thánh Thể, 6).

“Nhờ cử hành bí tích Thánh Thể, ngay từ bây giờ chúng ta được kết hiệp với phụng vụ trên trời và tiền dự vào đời sống vĩnh cửu, khi Thiên Chúa có toàn quyền trên mọi sự” (1 Cor 15:28).

“Bí tích Thánh Thể vừa đúc kết vừa tổng hợp đức tin Công giáo: Cách suy nghĩ của chúng ta phù hợp với bí tích Thánh Thể, và ngược lại bí tích Thánh Thể xác nhận cách suy nghĩ của chúng ta” (Thánh Irênê, Chống lạc giáo, 4,18,5).

Những dòng trên đây của sách Giáo lý nói lên chỗ đứng trung tâm của bí tích Thánh Thể trong đời sống Kitô hữu và cả mối quan hệ rất chặt chẽ với Giáo hội nói chung, đến độ người ta có thể quả quyết rằng nếu không có bí tích Thánh Thể, thì Giáo hội sẽ không còn bản chất và sự hiện hữu.

III. Giao ước mới

Thực vậy, Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh Thể trong bữa Tiệc ly mừng lễ Vượt qua với các tông đồ. Ngài báo trước và ủy thác cho các vị - như một di chúc – ý nghĩa và thành quả cứu độ xuất phát từ cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Ngài (cf. Mc 14:22-25; 1 Cor 11:23-25). Bí tích Thánh Thể là hy tế và là bữa tiệc của Tân ước, đã được báo trước và tượng trưng bằng giao ước Thiên Chúa đã ký kết với dân Israel dưới chân núi Sinai, và được các ngôn sứ loan báo qua các thế kỷ trước Chúa Kitô. Và như giao ước Sinai ấy đã đánh dấu sự khai sinh của dân Israel như một dân được Thiên Chúa tuyển chọn và thánh hoá, thì từ hy tế thập giá, giao ước mới, cũng nảy sinh Giáo hội là dân của Tân ước. Dân mới này, tức là Giáo hội, phát sinh và luôn kín múc sức sống từ việc cử hành thánh lễ, hy tế của Tân ước. Hy tế này có chức năng hình thành cuộc sống của các thành phần dân mới của Thiên Chúa, tương quan của họ với nhau và sứ mạng của họ trong trần thế, nghĩa là làm sao để các Kitô hữu ngày càng sống phù hợp với mầu nhiệm cứu độ được Thiên Chúa thông ban cho con người, qua Chúa Kitô.

Bí tích Thánh Thể là sự tưởng niệm cuộc Tử nạn của Chúa Kitô trên thánh giá và sự Phục sinh vinh hiển của Ngài, như thánh Phaolô đã dạy: “Điều tôi truyền lại cho anh em nguyên là điều tôi đã lãnh nhận nơi Chúa: Chúa Giêsu trong đêm bị phản bội, Ngài cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra rồi phán: Các con hãy cầm lấy mà ăn. Này là Mình Ta sẽ bị nộp vì các con. Hãy làm việc này để nhớ đến Ta. Cũng thế, sau bữa ăn, Ngài cầm lấy chén rượu và phán: Chén này là giao ưjsc mới bằng máu Ta; mỗi khi các con uống, hãy uống để nhớ đến Ta. Vậy hễ lần nào anh em ăn bánh và uống chén này hãy rao truyền sự chết củêa Chúa cho tới khi Ngài lại đến” (1 Cor 11:23-26).

Thành ngữ “Giao ước mới bằng Máu Ta” trong đoạn thư trên đây của thánh Phaolô gợi lại tất cả lịch sử mối liên hệ giữa Thiên Chúa đối với dân riêng của Ngài xưa kia và mở màn cho mối liên hệ mới của Thiên Chúa đối với dân Ngài. Nói một cách cụ thể hơn: ngày xưa qua Abraham, Môisê và các ngôn sứ, Thiên Chúa đã ký kết giao ước với dân Ngài là Chúa sẽ bảo vệ dân nếu họ tuân theo lề luật của Chúa. Chúng ta thấy rõ điều này nhất là khi Chúa gọi Môisê lên núi Sinai bày tỏ ý Ngài cho dân qua lề luật gồm tóm trong 10 giới răn (Xh 10-20). Đó là giao ước mà ta vẫn gọi là Cựu ước. Chúa cũng dạy Môisê dựng một bàn thờ, giết bê, lấy máu rảy trên bàn thờ, còn một nửa rảy trên dân chúng và nói: “Đây là máu giao ước mà Chúa đã ký kết với các ngươi dựa trên tất cả các lề luật đó” (Xh 24:8).

Chúa Giêsu, vâng lệnh Chúa Cha, xuống ký với loài người một giao ước mớibằng chính máu của Ngài. Trong giao ước mới này, loài người dâng lên Thiên Chúa một lễ hy sinh không phải bằng chiên bò nữa, nhưng là chính Chúa Giêsu tự hiến làm lễ vật và Ngài dâng thay cho nhân loại. Vì thế, mỗi khi cử hành bí tích Thánh Thể, Giáo hội nhắc lại và hiện tại hoá hy tế của Chúa Giêsu đã tự hiến dâng trên đồi Canvê chiều ngày thứ Sáu Tuần Thánh, nhờ đó công nghiệp cứu chuộc của Chúa Giêsu được tiếp tục đổ tràn trên nhân loại. Công đồng chung Vatican 2 cũng nhắc lại điều này trong Hiến chế Ánh sáng Muôn dân về Giáo hội: “Khi cử hành nhân danh Chúa Kitô và đóng vai trò của Chúa Kitô, và khi công bố mầu nhiệm của Ngài, các linh mục liên kết những lời cầu x in của các tín hữu với lễ hy sinh của thủ lãnh họ, hiện tại hoá lễ tế duy nhất của Tân ước, tức là lễ tế của Chúa Kitô tự hiến như một lễ vật tinh tuyền, một lần thay cho tất cả, dâng lên Cha Người, và áp dụng lễ tế đó trong thánh lễ cho tới khi Chúa đến” (LG 28).

IV. Thông ban hồng ân cứu độ qua Giáo hội cử hành thánh lễ

Như thế, mỗi khi thánh lễ được cử hành không có nghĩa là Chúa Giêsu chịu chết và sống lại một lần nữa, nhưng là cuộc tưởng niệm sống động và làm cho hiến tế của Chúa Giêsu trở thành hiện tại và nhờ đó các tín hữu được thông hưởng hồng ân cứu chuộc của Chúa Kitô. Nói khác đi, thánh lễ là một hiến tế không đổ máu mà Chúa Giêsu dùng vị linh mục dâng trên bàn thờ cùng với Ngài.

Cũng như Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa làm người để, qua cuộc sống trần thế của Ngài, biểu lộ và làm cho chúng ta được tham dự vào sự sống đời đời Ngài đã tiếp nhận từ Chúa Cha. Cũng vậy, nhờ bí tích Thánh Thể, Giáo hội không phải là một cơ chế phàm nhân, nhưng trong Chúa Giêsu Kitô, Giáo hội trở thành “như một bí tích, nghĩa là trở thành dấu chỉ và là dụng cụ, của sự kết hiệp thâm sâu với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại” (LG 1).

Giáo hội kéo dài và làm cho mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa qua Đức Kitô được hiện diện hữu hiệu trong lịch sử, như lời quả quyết của Công đồng chung Vatican 2 trong Sắc lệnh về đời sống linh mục vừa trưng dẫn trên đây: “Phép Thánh Thể chí thánh chứa đựng tất cả của cải thiêng liêng của Hội thánh, đó chính là Chúa Kitô, Người là mầu nhiệm Phục sinh của chúng ta, nhờ thịt Ngài được Thánh Linh làm cho sinh động, Ngài ban sự sống cho loài người” (PO 5).

Theo các thánh Giáo phụ, máu và nước từ cạnh sườn của Chúa Kitô chịu đóng đanh (cf Ga 19:34) biểu tượng bí tích Thánh Thể và rửa tội, hai bí tích này là dấu chỉ mầu nhiệm Giáo hội, là Evà mới, phát sinh từ cạnh sườn của Adong mới.

Nói tóm lại, Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh và sống lại tiếp tục hiến mình và hiện diện thực sự nơi chúng ta qua bí tích Thánh Thể, để làm cho chúng ta trở thành Giáo hội, thành dân thánh của Ngài. Qua bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu làm cho chúng ta trở nên giống Ngài, phù hợp với Ngài, bằng cách giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và làm cho chúng ta được tham dự vào chính sự sống của Ngài, cuộc sống của con thảo đối với Chúa Cha. Vì thế, thánh Lêô Cả đã viết: “Sự tham dự vào Mình và Máu Chúa Kitô làm cho chúng ta trở thành điều chúng ta lãnh nhận và chúng ta mang trọn vẹn, trong tinh thần và thể xác, Đấng mà chúng ta cùng được chết, mai táng và sống lại trong Người và với Người” (Bài giảng 63,7; PL 54,357).

Vì thế, khi đồng hoá chúng ta với Ngài, đồng thời Chúa Giêsu cũng biến chúngta thành Thân Thể của Ngài: “Vì chỉ có một bánh, nên chúng ta tuy nhiều, cũng chỉ là một thân mình duy nhất: thực vậy, tất cả chúng ta đều tham dự vào một bánh duy nhất” (1 Cor 10:1g). Thánh Albertô Cả giải thích rằng: “Do chính sự kiện Chúa Kitô liên kết tất cả với Người, nên Người cũng liên kết họ với nhau; bởi vì nếu có nhiều sự được liên kết với một sự thứ ba, thì chúng cũng được liên kết với nhau” (IV Sentl, d.8,a.11).

Trở nên Thân Mình duy nhất của Chúa Kitô nhờ phép Thánh Thể, một đàng có nghĩa là được dẫn vào trong quan hệ thương yêu nhau giữa Chúa Cha với Chúa Con trong Chúa Thánh Thần; và đàng khác, có nghĩa là trở thành “chi thể của nhau” (Rm 12:5). Cũng vì thế, Công đồng chung Vatican 2 khẳng định rằng: “Các tín hữu hiệp nhất với Giám mục, được đến cùng Thiên Chúa Cha nhờ Chúa Con, Ngôi Lời Nhập Thể, đã chết và được vinh hiển, trong Chúa Thánh Thần, và họ hiệp thông với Ba Ngôi Chí Thánh, được tham dự bản tính Thiên Chúa” (2 Pt 1:4) (UR 15).

Do đó, nhờ bí tích Thánh Thể, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu với Chúa Cha trong bữa Tiệc ly được thể hiện. Lời nguyện ấy bao hàm ý nghĩa chân thực và sâu xa nhất của mầu nhiệm cứu độ mà Ngài đến để thực thi: “Lạy Cha, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, ước gì chúng cũng được nên một, để thế gian tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17:21).

V. Gương sống

Những chân lý thần học trên đây có vẻ lý thuyết trừu tượng, nhưng trong thực tế, đó là những chân lý hướng dẫn cuộc sống của toàn Giáo hội và từng tín hữu.

- Tại thành Benares của Ấn giáo bên Ấn độ, từ hơn 20 năm nay có một linh mục thừa sai người Ý, cha giorgio Bonazzoli, thuộc Hội Giáo hoàng Truyền giáo Hải ngoại Milano (PIME). Cha sống một mình trong căn hộ và hằng ngày đi dạy tiếng Phạn tại Đại học Ấn giáo (Hindu University), dịch các văn bản cổ của Ấn giáo ra Anh ngữ. Cha làm bạn với nhiều nhà hiền triết và học giả Ấn giáo, cũng như với những đạo sĩ chuyên sống đời chiêm niệm và cầu nguyện. Cha Bonazzoli là Kitô hữu duy nhất trong một môi trường hoàn toàn xa lạ với Kitô giáo. Benarès cũng là nơi mỗi ngày có hàng ngàn tín hữu Ấn giáo từ các nơi ở Ấn độ đến hành hương và tắm trong sông Hằng.

Một người anh em cùng dòng là cha Piero Gheddo đến thăm cha Bonazzoli và rất cảm phục vì thấy rằng mặc dù sống xa môi trường và các cộng đồng Kitô, cha Giorgio Bonazzoli vẫn luôn trung thành với lý tưởng linh mục. Trả lời câu hỏi về vấn đề này, cha Bonazzoli đáp: “Sau hơn 20 năm sống và làm việc tại đây, đức tin của tôi nơi Chúa Giêsu càng được trưởng thành và củng cố hơn nữa”. Ngạc nhiên, cha Gheddo hỏi bí quyết, cha Bonazzoli dẫn cha Gheddo vào một phòng nhỏ trong căn hộ, rồi lấy tay chỉ Nhà Tạm Mình Thánh Chúa và nói: “Chúa đang ở đây”. Quả thực, mỗi ngày, cha Bonazzoli cầu nguyện và chầu nhiều giờ trước Nhà Tạm của Chúa Giêsu Thánh Thể và đã kín múc nơi Chúa sức mạnh đức tin và niềm vui sống. (Piero Gheddo, Otto minuti di Vangelo in TV, Piemme, 1993, pp. 136-137).

- Mẹ Têrêxa Calcutta và các nữ tu thừa sai bác ái mỗi ngày dành hai giờ để thờ lạy Mình Thánh Chúa: ban sáng với thánh lễ, và ban chiều với kinh Mân Côi và đọc sách nguyện. Nếu có ai nói rằng làm như vậy là phí phạm thời giờ lẽ ra nên dành cho việc phục vụ người nghèo, thì Mẹ Têrêxa đáp lại rằng: “Nếu chúng tôi không tìm cách bồi bổ bằng sức mạnh của Chúa Giêsu, thì chúng tôi không thể phục vụ Thiên Chúa nơi các anh chị em nghèo khổ và bị bỏ rơi nhất”.

Cha Bonazzoli, Mẹ Têrêxa Calcutta, các nữ tu thừa sai bác ái cũng như bao nhiêu thế hệ các Kitô hữu, qua dòng lịch sử Giáo hội, đã sống trọn xác tín Thánh Thể chính là trung tâm và là tột đỉnh của đời sống Kitô giáo. Họ cảm nghiệm và sống thực điều Chúa Giêsu đã hứa trong Phúc âm Gioan: “Ai ăn thịt và uống máu Ta thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Đấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta” (Ga 6:56).

Chúa Giêsu vì yêu thương Giáo hội, không những Ngài muốn tiếp tục ở giữa các tín hữu cho đến tận thế, nhưng Chúa còn muốn trở nên lương thực mang sức sống thần thiêng cho các Kitô hữu. Chính vì thế, Thánh Thể vừa là tột đỉnh và là trung tâm điểm của đời sống Giáo hội.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2, trong thư Dominicae Coenae, ngày 18.3.1998, gửi hàng Giám mục trên thế giới về lòng sùng kính Thánh Thể, đã ghi nhận rằng: “Việc tôn sùng Thánh Thể là linh hồn của đời sống Kitô giáo, vì đó là dấu chỉ tình thương của Thiên Chúa vàđồng thời cũng thực hiện nơi chúng ta khả năng yêu thương. Vì thế, việc tôn sùng Thánh Thể chính là biểu hiệu của tình yêu thương vốn là đặc tính chân thực và sâu xa nhất của ơn gọi Kitô giáo. Việc tôn sùng ấy xuất phát từ tình yêu và phục vụ cho tình yêu và tất cả chúng ta đều được mời gọi thi hành trong Chúa Giêsu Kitô... Nếu việc tôn sùng của chúng ta đối với Thsanh Thể Chúa là chân thực, thì phải làm cho chúng ta ngày càng ý thức về phẩm giá của mỗi người. Chúng ta phải tỏ ra nhạy cảm đối với mỗi tình trạng lầm than và đau khổ, mỗi hiện tượng lầm lạc và bất công, đồng thời tìm cách sửa chữa chúng một cách hữu hiệu nhất”.

VI. Lời khuyên của một linh mục cao niên

Giáo dân có sống trọn vẹn hay không chân lý “Thánh Thể là trung tâm của đời sống Kitô giáo”, phần lớn cũng tùy thuộc nơi xác tín và thái độ của linh mục: chính ngài có sống trọn chân lý ấy hay không. Trong ý hướng đó, những lời khuyên sau đây của một linh mục cao niên dành cho “đàn em” thật là quan trọng và hữu ích:

- Thánh lễ phải là mặt trời cho mỗi ngày của con, hãy cố gắng hiểu rõ, thưởng thức và sống thánh lễ. Hãy cử hành thánh lễ như thể đó là lần đầu, lần cuối và là lần duy nhất trong đời con.

- Hãy nhớ rằng càng chuẩn bị kỹ lưỡng thì thánh lễ càng được cử hành sốt sắng. Con đừng làm như những người cử hành thánh lễ liền sau những câu chuyện tầm phào trần tục, mà không cầu nguyện, suy tư và mặc niệm trước đó.

- Đừng để cho thánh lễ con cử hành trở thành thói quen máy móc. Nọc độc giết chết thánh lễ của con chính là tập quán. Việc lập đi lập lại đưa tới tập quán. Vì thế, con đừng bao giờ sử dụng một kinh nguyện Thánh Thể mà thôi. Con phải dần dần thay đổi các kinh nguyện ấy. Kinh nguyện thứ nhất là kinh duy nhất mà các đại thánh đã cầu nguyện hơn 10 thế kỷ. Kinh nguyện thứ ba cũng có từ lâu đời. Kinh nguyện thứ tư là bản tóm đẹp nhất lịch sử cứu độ.

- Mỗi lời trong thánh lễ con đọc phải là một lời loan báo, mỗi cử chỉ con làm phải là một dấu hiệu thánh. Hãy biến thánh lễ con cử hành thành một kinh nghiệm sống. Giáo hữu rất hài lòng khi thấy và nghe một linh mục cử hành sốt sắng, đọc chậm rãi những lời thánh lễ như thể một người đang nói với một người khác hiện diện nơi đó, người mà linh mục yêu mến và kính trọng vô vàn.

- Sau phần truyền phép, người ta có nguy cơ chạy. Hãy nhớ những lời Đức Hồng y thánh thiện Mercier, những lời cuối cùng ngài nói với các linh mục trước khi chết: “Hãy dành thêm vài phút cho thánh lễ của anh em”. Vì con đã thuộc lòng những lời kinh nguyện Thánh Thể, nên con có nguy cơ đọc vội vã, và dân chúng sẽ thấy cách cử hành thiếu chú ý của con. Đừng sợ đọc thật đúng đắn từng lời của kinh nguyện.

- Đừng bao giờ ứng khẩu thánh lễ con cử hành. Ước gì đừng bao giờ con tới bàn thờ, dù là một lần, mà không biết các bài đọc hoặc hôm đó là lễ gì. Thật là một sự thiếu kính trọng nhất trong ngày.

- Không bao giờ chính nghĩa Thiên Chúa ở trong tay con như lúc con giảng. Ngày phán xét, có ít sự nào con bị xét xử nghiêm khắc cho bằng con dọn bài giảng. Có lẽ đối với nhiều người, những bài giáo lý duy nhất mà họ nhận lãnh chính là bài giảng của con. Đối với nhiều người dân, thật khó nhận được Lời Chúa ngoài thánh lễ. Trong tinh thần trách nhiệm, con hãy nghĩ tới câu: “Những ai dẫn đưa nhiều người đến sự công chính sẽ được chiếu sáng như sao trời mãi mãi” (Dn 12:3).

- Hãy ghi sâu điều này trong ký ức của con: điều quan trọng nhất trong ngày của con chính là thánh lễ. Điều làm con có giá trị trong tư cách là linh mục, chính là thánh lễ. Khi con cử hành thánh lễ, con ở trong phần cao nhất của toàn thể kim tự tháp nhân loại, và trong lúc đó chỉ có một người ở trên con, đó là Thiên Chúa. Vì vậy, sự kiện con vội vã, hoặc không chuẩn bị hay chia trí dễ dàng như thế, không phải là một tội sao?

- Hãy luôn thực hành phụng vụ trong đời sống, có nghĩa là dâng hiến bản thân cho Thiên Chúa và công việc hằng ngày như lễ vật sống động v à đẹp lòng Chúa (Rm 12:1). Con hãy nhớ rằng, sau khi gấp sách lễ, thánh lễ của con phải tiếp tục trong cuộc sống. Hãy thực hành lời khuyên của Đức Piô 12: “Đừng bỏ qua ngày nào mà không viếng Thánh Thể, thói quen này cũng là một gương rất tốt cho các giáo hữu”. Và với ý hướng mà Đức Phaolô 6 mong ước: cố gắng thực hành “như một lời cảm tạ vì hồng ân Thánh Thể cao cả và như một lời cảm ơn, đồng thời chuẩn bị cho thánh lễ của con” (Dario Betancourt, I Sacramenti, Fonti di guarigione, Ed. Dehoniane, Rome, 1985, pp. 161-164).

 

<tiểu mục <trang nhà

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)