|
|
Phụng
vụ Thánh Lễ: Cửa Thiên Cung
Chuyện
xảy ra tại một giáo xứ, trong thánh lễ Chúa nhật, một bà chuyên
môn nổi hứng đứng lên quơ hai tay như trong cơn xuất thần. Những
người trong ban xếp chỗ đến xin bà ngồi xuống, nhưng không có
hiệu quả, và bà còn tỏ vẻ giận dữ. Cái cảnh quái lạ này diễn ra
suốt mấy tuần liền. Cuối cùng, cha xứ đợi một lần thánh lễ xong
mà bà vẫn còn đang đứng quờ quạng hai tay trong nhà thờ, cha đến
bên bà và nói nhỏ vào tai điều chi đó. Bà lập tức xuôi tay xuống.
Sau ngày đó, người ta không thấy bà đứng lên quờ quạng đôi tay
trong thánh lễ nữa. Mấy tuần sau, một người trong ban xếp chỗ
đến chúc mừng cha xứ đã “dẹp loạn” thành công, và hỏi cha đã dùng
chiêu độc đáo gì để cho bà kia không quấy rối nữa. Cha xứ trả
lời với đôi mắt chiếu sáng: “Dễ thôi! Tôi nói với bà rằng đứng
lên và quơ hai tay là việc đền tội tôi ra cho những người phạm
tội dâm dục”.
Khi cử hành thánh lễ hoặc các nghi thức phụng vụ khác, người tham
dự cần có những cử chỉ thái độ xứng hợp với ý nghĩa hành vi thờ
phượng. Ý nghĩa chính của phụng vụ thánh lễ là gì? Đó là tác động
dâng của lễ hy tế tôn thờ Thiên Chúa. Do đó, thánh lễ là điểm
gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người, giữa trần gian và thiên quốc.
Phụng
vụ
1. Định nghĩa
Phụng vụ, theo tiếng Hy lạp, là “Leitourgia”, mang ý nghĩa nguyên
thủy: nghĩa vụ của một công dân đối với quốc gia; ghép lại bởi
hai chữ gốc “leitos”: công cộng, và “ergo”: thi hành. Từ đó, có
những danh từ như “leitourgos”: người thi hành nghĩa vụ công,
“leitourgia”: một nghĩa vụ công cộng. Tại Nhã điển (Athen) thời
cổ, “leitourgia” là một dịch vụ công do những người giàu có bỏ
tiền đài thọ để cung cấp cho dân chúng; chức vụ “gymnasiarch”
dành cho người moi “ruột tượng” thuê ca đoàn đến hát tại rạp...
Danh từ này được dùng trong Kinh thánh bằng tiếng Hy lạp bản dịch
Bảy Mươi để chỉ nghĩa vụ công nơi đền thờ. Từ đó, “leitourgia”
(phụng vụ) mang ý nghĩa tôn giáo: nghĩa vụ của tư tế, nghi thức
cử hành trong đền thờ. Đến thời Tân ước, ý nghĩa tôn giáo cho
danh từ phụng vụ được thiết lập bền vững: ông Giacaria trở về
nhà sau khi hoàn tất những ngày “phụng vụ” của ông (Lk 1:28).
Thư gửi tín hữu Do thái đề cập đến Chúa Kitô, vị Thượng Tế của
Tân ước, “được một phụng vụ (leitourgia) cao trọng hơn” (Dt 8:6).
Theo truyền thống Kitô giáo, phụng vụ có nghĩa là nghi lễ cử hành
trong đền thờ được Giáo hội qui định. Tuy nhiên, theo thời gian,
danh từ phụng vụ đã chia thành hai ý nghĩa vẫn thông dụng hiện
nay. Điều này thường gây ra hiểu lầm. Thứ nhất, phụng vụ gồm tất
cả nghi thức dành cho việc cử hành công cộng trong Giáo hội, được
soạn sẵn trong sách vở: các bí tích, giờ nguyện kinh thần vụ...
Các nghi thức này có thể khác biệt theo địa phương; dó đó, có
nghi thức phụng vụ theo Giáo hội Rôma, Giáo hội Antioch, Giáo
hội Byzantine... Cũng từ ý nghĩa này, chúng ta phân biệt hình
thức đạo đức như giờ nguyện kinh thần vụ là phụng vụ, nhưng buổi
đọc kinh Mân côi không phải là phụng vụ... Thứ hai, theo các Kitô
hữu thuộc các giáo hội Đông phương, phụng vụ chỉ hiểu là thánh
lễ mà thôi. Do đó, trong tiếng Hy lạp ngày nay, thánh lễ được
gọi là “leitourgia”. Ngoài ra, các nghi thức khác không phải là
phụng vụ theo các giáo hội Đông phương.
2.
Dấu chỉ trong phụng vụ
Theo bản chất được dựng nên, con người là một dấu chỉ cho sự hiện
hữu và vẻ tốt lành vô cùng của Thiên Chúa. Thánh kinh thuật rằng:
Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Ngài; Chúa thổi hơi, tức
là sinh khí, vào hình người bằng đất để làm nó sống động. Khi
diễn tả về Thiên Chúa, về công cuộc tạo dựng, Thánh kinh dùng
toàn hình ảnh tượng trưng, những dấu chỉ. Khi mạc khải bản thân
cho Maisen và dân Do thái, Chúa cũng dùng những dấu chỉ như lửa
cháy trong bụi gai, cột mây, cột lửa, sấm chớp, gió bão, mây mù...
vì Chúa là thần linh tinh tuyền mà con người là linh vật trong
xác thể. Do đó, hai bên không thể đối thoại trực tiếp nhưng phải
qua dấu chỉ, hình ảnh tượng trưng. Những dấu chỉ này gắn liền
với thực tại thiêng liêng.
Phụng vụ là cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và nhân loại. Con người
đến trước tôn nhan Thiên Chúa để tỏ bày lòng tôn thờ, sùng bái,
vì quyền năng, sự tốt lành, thánh thiện của Ngài đáng được như
thế. Đáp lại, Thiên Chúa mạc khải bản thân cho con người, tỏ cho
họ biết ý muốn, chương trình của Ngài. Abel là người đầu tiên
đã dâng lễ toàn thiêu lên Thiên chúa và được Ngài chấp nhận, chúc
phúc. Tiếp đến là Nôe đã dâng lễ toàn thiêu lên Thiên Chúa sau
trận lụt Đại hồng thủy. Thánh kinh thuật lại rằng: khi Thiên Chúa
ngửi mùi hương thơm của lễ toàn thiêu, Ngài thiết lập giao ước
với Nôe, và thề không bao giờ hủy diệt con người bằng nước lụt
nữa (St 8:21-22). Hương trầm đã trở nên một dấu chỉ quan trọng
trong phụng vụ; dấu chỉ làm đẹp lòng Thiên Chúa. Ý nghĩa này phù
hợp với lời Thánh vịnh: “Xin cho lời con nguyện như hương trầm
bay lên nhan Chúa; đôi tay con dâng được như của lễ ban chiều.”
Lễ vật dâng lên Thiên Chúa là dấu chỉ không thể thiếu ngay từ
ban đầu. Abel đã chọn những sinh vật đầu đàn béo tốt để làm lễ
toàn thiêu dâng lên Chúa. Điều đó đã trở thành một truyền thống
kéo dài suốt thời gian thời Cựu ước. Của lễ tượng trưng tấm lòng
thành khẩn, tình yêu, sựtùng phục của người dâng. Trong Tân ước,
Chúa Kitô đã dâng hiến chính thân mình làm của lễ tôn thờ Chúa
Cha, đền tạ, xoá bỏ tội lỗi của nhân loại. Chúa Kitô đã truyền
dùng bánh và rượu làm dấu chỉ cho Mình và Máu thánh Ngài. Do đó,
các bài đọc, bánh rượu, lời cầu nguyện, cử chỉ dang tay, trầm
hương... là những dấu chỉ chính trong phụng vụ thánh lễ gắn liền
với thực tại thiêng liêng mà chúng ta cần để ý nhận ra với niềm
tin tưởng.
Kinh
Thánh
1. Bữa Tiệc ly
Chúa Kitô đã lập bí tích Thánh Thể trong bữa tiệc ly. Ngài đã
truyền cho các tông đồ cùng những người kế vị phải cử hành như
Chúa đã làm. Do đó, Tiệc ly là thánh lễ đầu tiên mà Chúa Kitô
đã dâng. Giáo hội đã nhìn vào gương của Chúa để cử hành phụng
vụ thánh lễ. Phúc âm thánh Gioan không thuật lại việc Chúa lập
phép Thánh Thể, nhưng ghi lại nhiều lời tâm sự của Chúa trong
bữa Tiệc ly. Thánh lễ đầu tiên Chúa Giêsu cử hành cũng có phần
giống như phụng vụ Lời Chúa; những lời nhắn nhủ của chính Chúa
Giêsu. Trong bữa tiệc này, Chúa cũng hướng lòng các môn đệ về
bàn tiệc Thiên quốc: “Thầy bảo thật với các con: Thầy sẽ chẳng
còn uống rượu nho này nữa cho đến ngày Thầy sẽ uống rượu mới trong
nước Thiên Chúa” (Mk 14:25). Phụng vụ thánh lễ luôn mang chiều
kích siêu hình hiệp thông với phụng vụ diễn ra trên Thiên quốc.
2.
Sách Khải huyền
Thánh Gioan đã ghi lại thị kiến thành thánh Giêrusalem mới, là
hình ảnh hoàn hảo của Giáo hội, nơi diễn ra phụng vụ vĩnh cửu:
Một thiên thần đến bảo tôi: “Lại đây, tôi sẽ chỉ cho ông thấy
Tân Nương, Hiền Thê của Con Chiên.” Rồi đang khi tôi xuất thần,
người đem tôi lên một ngọn núi cao hùng vĩ, và chỉ cho tôi thấy
thành thánh, là Giêrusalem từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống,
chói lọi vinh quang Thiên Chúa. Thành rực sáng tựa đá quí tuyệt
vời, như ngọc thạch trong suốt tựa pha lê. Thành có tường rộng
và cao, có mười hai cửa do mười hai thiên thần canh giữ, và trên
các cửa có ghi tên mười hai chi tộc con cái Israel. Phía đông
có ba cửa, phía bắc có ba cửa, phía nam có ba cửa, và phía tây
có ba cửa. Tường thành xây trên mười hai nền móng, trên đó có
tên mười hai tông đồ của Con Chiên (Kh 21:9-14).
Sau đó, thánh Gioan tiếp tục mô tả chi tiết kích thước đền thờ,
vẻ vĩ đại, lộng lẫy huy hoàng, tường đá ngọc thạch cùng nhiều
thứ đá quí, thành bằng vàng y chói sáng, còn có những trang hoàng
bằng ngọc trai”.
Trong thành tôi không thấy có Đền Thờ, vì Đức Chúa, Thiên Chúa
toàn năng, và Con Chiên là Đền Thờ của thành. Thành chẳng cần
mặt trời mặt trăng chiếu sáng, vì đã có vinh quang Thiên Chúa
toả rạng, và Con Chiên là ngọn đèn chiếu soi. Dân ngoại sẽ tiến
bước theo ánh sáng của thành, và vua chúa trần gian sẽ đem kho
tàng vinh quang tới đó. Ngày nọ qua ngày kia, cửa thành không
bao giờ đóng, vì ở đấy sẽ chẳng có đêm. Thiên hạ sẽ đem tới đó
kho tàng vinh quang và sự giàu sang của các dân ngoại. Tất cả
những gì ô uế cũng như bất cứ ai làm điều ghê tởm và ăn gian nói
dối, đều không được vào thành, mà chỉ có những người có tên ghi
trong sổ trường sinh của Con Chiên mới được vào.
Rồi thiên thần chỉ cho tôi thấy một con sông có nước trường sinh,
sáng chói như pha lê, chảy ra từ ngai của Thiên Chúa và của Con
Chiên. Ở giữa quảng trường của thành, giữa hai nhánh sông, có
cây Sự Sống sinh trái mười hai lần, mỗi tháng một lần; lá cây
dùng làm thuốc chữa lành các dân ngoại.
Sẽ không còn lời nguyền rủa nào nữa. Ngai của Thiên Chúa và của
Con Chiên sẽ đặt trong thành, và các tôi tớ Ngài sẽ thờ phượng
Ngài. Họ sẽ được nhìn thấy tôn nhan Ngài, và thánh danh Ngài ghi
trên trán họ. Sẽ không còn đêm tối nữa, họ sẽ không cần ánh sáng
của đèn, cũng chẳng cần ánh sáng mặt trời, vì Đức Chúa là Thiên
Chúa sẽ chiếu sáng trên họ, và họ sẽ hiển trị đến muôn thuở muôn
đời (Kh 21:22-22:5).
Giêrusalem mới từ trời xuống là hình ảnh hoàn hảo của Giáo hội
trong tương lai. Toàn thể tín hữu liên kết trong Giáo hội sẽ trở
nên thành thsanh tôn thờ Thiên Chúa, nơi Ngài ngự trị. Khi hiệp
thông với nhau cử hành thánh lễ, chúng ta hướng lòng về hình ảnh
hoàn hảo đó, đồng thời thông dự vào phụng vụ tuyệt hảo của Chúa
Kitô dâng lên Chúa Cha torng cung thánh Thiên quốc.
Giáo
Hội sơ khai
Chắc chắn rằng từ ban đầu trong Giáo hội đã không có một nghi
thức phụng vụ qui định đồng nhất như ngày nay. Chắc hẳn có thời
gian phụng vụ Thánh Thể được cử hành linh động, nhiều chi tiết
thay đổi, không c ó sẵn những công thức qui định viết sẵn, nhưng
có nhiều phần đươc “sáng tác” tại chỗ do vị giám mục chủ tế. Những
động tác lễ nghi được thành hình dần dần do nhu cầu thực tế. Bánh
và rượu được đem lên khi cần thiết; bài học giáo lý được đọc từ
nơi cao; chủ tế c ần rửa tay vì bụi bặm có thể do những của lễ
được dâng lên là hoa trái... Vì thế, ngay từ ban đầu, không có
sự đồng nhất trong nghi thức phụng vụ Thánh Thể giữa các giáo
hội địa phương.
Tuy nhiên, người ta có thể tìm ra những yếu tố cốt lõi trong buổi
cử hành Thánh Thể tại các địa phương khác nhau, vì tất cả đều
dựa vào biến cố bữa Tiệc ly. Không thể nào gọi là lễ cử hành Thánh
Thể nếu vị chủ tế không thực hiện điều Chúa đã làm vào đêm trước
khi lìa đời và truyền lại cho các môn đệ. Do đó, tuy có nhiều
điểm khác biệt trong việc cử hành thánh lễ tại các địa phương,
nhưng cũng có những điểm đồng nhất: bánh rượu được đựng trong
đĩa, chén và đưa lên cho vị chủ tế; ngài đặt lễ vật trên bàn thờ;
những lời truyền phép; chủ tế đứng với thái độ cầu nguyện, cầm
bánh hoặc chén rượu trong tay, tạ ơn, đọc lời truyền phép; bẻ
bánh; trao Mình và Máu Chúa cho tín hữu.
Ngay từ thế kỷ thứ nhất, phụng vụ Thánh Thể đã được cử hành sau
những bài học giáo lý, đọc Thánh vịnh, lời cầu nguyện và giảng
dạy. Những yếu tố này có nguồn gốc từ nghi lễ trong hội đường
Dot hái giáo vào những ngày Sabbat. Các Kitô hữu Do thái đầu tiên
đã tiếp tục giữ nghi thức trong hội đường Do thái giáo, và thêm
phần phụng vụ Thánh Thể như đã nói ở trên.
Ban đầu, những lời nguyện được chủ tế sáng tác tại chỗ dựa trên
một vài qui luật. Tuy vậy, nếu một người phải nói nhiều về một
vấn đề tự nhiên sẽ đưa đến chỗ làm thành bản văn xác định để đọc
đi đọc lại. Lời cầu nguyện v ì thế dần dần được trở thành công
thức. Những câu đối đáp giữa chủ tế và dân chúng cũng vậy. Muốn
cho cộng đồng thưa lại cũng phải có công thức quen thuộc lặp đi
lặp lại nhiều lần. Từ đó, hình thức thánh lễ được qui định dần
dần theo thời gian.
Tâm
tình tham dự thánh lễ
1. Đức tin
Thánh Tôma đã nêu lên một vấn nạn: giả sử vì sơ sót cách nào,
có con chuột ăn Mình thánh Chúa, nó có được rước Chúa thật sự
không? Ngài trả lời rằng loài chuột không có linh hồn nên không
có khả năng để chạm tới thực tại thiêng liêng là Mình thánh Chúa.
Nó chỉ có thể tiêu hoá hình bánh bên ngoài mà thôi. Có thể nói
một cách tương tự, nếu một người không có đức tin cũng thiếu đi
khả năng để chạm tới thực tại thiêng liêng trong thánh lễ, trong
các giờ phụng vụ.
Đa số những yếu tố trong phụng vụ mang tính chất mầu nhiệm: dấu
chỉ bên ngoài gắn liền với thực tại thiêng liêng bên trong, nên
người tham dự phải dùng đức tin mới có thể liên kết với thực tại
ấy. Những lời ca khen chúc tụng, lời cầu nguyện, bài đọc Thánh
kinh, vị linh mục, bánh rượu đều chỉ có ý nghĩa nhờ đức tin. Chúng
ta tin rằng: Chúa nghe lời chúng ta ca tụng, cầu xin, và thấu
biết tâm tình trong trái tim; những lời trong sách thánh là Lời
Chúa; vị linh mục là hiện thân của Chúa Kitô có quyền năng biến
đổi bánh rượu nên Mình và Máu Chúa Giêsu. Đức tin cho thấy rằng
khi tưởng nhớ việc Chúa làm trong bữa Tiệc ly, và chịu chết trên
thánh giá, chúng ta làm hiệnthực trong giây phút này, ngay trên
bàn thờ việc Chúa hiến tế bản thân dâng lên Chúa Cha trên đồi
Canvê; đồng thời khi đón nhận Mình Máu Chúa, chúng ta hướng lòng
về bàn tiệc thánh trên Thiên quốc.
2.
Đức cậy
Hướng lòng về Thiên quốc đòi chúng ta dùng đức cậy trông nơi Thiên
Chúa, Đấng quyền năng vô cùng sẽ ban cho chúng ta hạnh phúc vĩnh
cửu. Lễ hiến tế của Chúa Kitô trên thánh giá và trên bàn thờ khắp
thế giới là lý do để chúng ta cậy trông: vì giá máu cứu chuộc
của Chúa Kitô, tội lỗi chúng ta được tẩy xoá, lời nguyện xin được
chấp nhận.
3.
Đức ái
Tại một ngôi làng trên hòn đảo xa xam phía nam Thái bình dương,
một vị linh mục thừa sai đến thăm một lần mỗi tháng để làm lễ,
rửa tội trẻ sơ sinh và người dự tòng, cử hành bí tích hôn phối,
xức dầu cho bệnh nhân, và cầu cho người mới qua đời. Làng này
có một tục lệ rất độc đáo: mỗi khi vị thừa sai đến làng trên chiếc
thủy phi cơ, viên tù trưởng ra đón ngài, và trao cho ngài một
bó cỏ chung với đất. Vị thừa sai trao bó cỏ lại cho vị tù trưởng.
Ông này trao bó cỏ cho người đứng xếp hàng kế tiếp. Mọi người
trong làng đều xếp hàng nhận bó cỏ. Bó cỏ trộn đất là dấu chỉ
linh thiêng nhắc nhở sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân làng,
những người sống giữa biển khơi mênh mông. Dân chúng coi đó là
dấu chỉ mầu nhiệm cho sự bình an và hoà thuận.
Bó cỏ thiêng được lần lượt trao cho từng người dân làng, rồi sau
cùng trao lại cho vị tù trưởng để dâng lên vị linh mục.l Sau đó
thánh lễ mới được cử hành. Một ngày kia, khi vị thừa sai đến như
thường lệ. Đến giờ chuẩn bị cho tục lệ linh thiêng trước thánh
lễ, một người cho vị linh mục biết rằng có sự chậm trễ. Lý do
là có sự bất hoà giữa cha và con trong một gia đình; bó cỏ đã
không được chuyền tay khi đến với họ. Tháng đó đã không có thánh
lễ. Sau đó ba tháng, thánh lễ mới được cử hành như thường vì bình
an và hoà thuận đã được tái lập trong gia đình đó. Giả như tục
lệ trao bó cỏ được thi hành tại giáo xứ của chúng ta, chuyện gì
sẽ xảy ra? Người ta phải đợi bao lâu mới có sự bình an, hoà thuận
hoàn toàn để cử hành thánh lễ?
Đức bác ái yêu thương là tâm tình quan trọng khi dâng thánh lễ.
Trong Kinh nguyện Thánh Thể III, sau khi truyền phép, linh mục
đọc lời nguyện: “...Khi chúng con được Mình và Máu Con Cha bổ
dưỡng, được đầy tràn Thánh Thần của Người, xin cho chúng con trở
nên một thân thể và một tinh thần trong Đức Kitô”.
Đồng thời tình yêu mến Thiên Chúa cũng cần được biểu lộ. Chúa
Kitô vì yêu thương nhân loại đã chịu chết trên thánh giá để đem
lại cho chúngta ơn cứu chuộc. Lễ hy tế của Chúa Kitô trên thập
giá cũng như trên bàn thờ là dấu chỉ tình yêu thương vô cùng củaThiên
Chúa Cha: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban chính
Con Một” (Ga 3:16). Chúa Cha cũng sai Chúa Thánh Thần đến để thánh
hoá lễ vật, biến đổi bánh rượu nên Mình Máu thánh Chúa Kitô. Thánh
lễ là bằng chứng tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh, chiếu
tỏ vinh quang thần linh cho chúng ta được chiêm ngắm. Được bao
trùm trong tình yêu siêu vượt của Thiên Chúa làm sao con tim nhân
loại không tan chảy ra được! Tình yêu chỉ có thể đền đáp bằng
tình yêu. Đứng trước mầu nhiệm tuyệt vời này của tình yêu, chúng
ta chỉ có thể thổn thức cho contim đập những nhịp yêu.
4.
Hiệp thông cộng đoàn
Phụng vụ thánh lễ là tột đỉnh của mọi sinh hoạt trong Giáo hội,
giáo xứ. Mức sinh động của giáo xứ bày tỏ rõ ràng nhất trong cách
thế cử hành thánh lễ. Một thánh lễ Chúa nhật mà chỉ leo teo có
vài người; đó là dấu hiệu của một giáo xứ đang hấp hối. Nhiều
xứ đạo tại Âu châu ngày nay đang đi vào con đường ngáp chết đó.
Thánh lễ cử hành c ách tẻ lạnh, ai cũng thấp thỏm chuồn lẹ, vào
trễ ra sớm; đó là dấu hiệu của một cộng đoàn Kitô hữu bất đắc
dĩ, cố đến nhà thờ cho có lệ, để yên chí rằng mình đã giữ luật
Chúa, có quyền đòi Chúa cho mình một chỗ hạng bét trong Thiên
đàng.
Thánh lễ là giờ phút linh thiêng nhất cho toàn thể tín hữu trong
giáo xứ. Mọi người tụ họp như một đại gia đình của Thiên Chúa,
quây quần bên người Cha, dâng lên Ngài của lễ quí trọng nhất là
Chúa Kitô, Con Chiên tinh tuyền; dâng lên Ngài lời chúc tụng,
cảm tạ, yêu mến của người con ngoan thảo. Cộng đoàn tụ họp lại
như đoàn dân thánh của Chúa, chúc tụng Ngài là Đấng Cực Thánh.
Nhờ hiệp thông trong lời cầu nguyện, trong của lễ bánh rượu, và
nhất là trong Mình và Máu Chúa Kitô, mọi người liên kết nên một
trong Nhiệm thể Chúa Kitô.
Tâm tình hiệp thông chỉ có dưới trần gian, nhưng với lên tận Thiên
đàng. Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh hiện diện trong thánh lễ, có
lẽ nào triều thần Thiên quốc lại vắng mặt? Khi xưa Mẹ Maria đã
đứng bên thập giá để chứng kiến lễ hy tế của Chúa Kitô trên đồi
Canvê; có lẽ nào Mẹ không đến bên bàn thờ với Giêsu Thánh Thể
trong mầu nhiệm hiến tế? Nếu hiểu được thực tại uy linh cực trọng
của thánh lễ, mọi người Công giáo sẽ quí chuộng và tham dự thánh
lễ cách sốt sắng biết dường nào!
Tâm tình hiệp thông bày tỏ ra bên ngoài bằng những dấu chỉ đón
tiếp nhau: những người trong ban tiếp tân của giáo xứ chào đón
người đến dự lễ; mỗi người chào đón người ngồi bên cạnh, phía
trước, phía sau. Các linh mục Mỹ có thói quen đứng ở cuối nhà
thờ để bắt tay, chào hỏi dân chúng. Nhiều giáo dân đến với cha
bày tỏ cảm tưởng về bài giảng, về t hánh lễ. Đó là những dấu chỉ
bên ngoài nói lên tâm tình hiệp thông bên trong của cộng đoàn
dân Chúa.
5.
Vui tươi, cởi mở
Vào ngày Chúa nhật, bé Linh đi lễ và nghe câu Kinh thánh: “Hãy
vào trước thiên nhan Chúa với niềm hân hoan khoái trá”. Bé cảm
thấy rất vui nên trong thánh lễ bé hát và đọc kinh rất sốt sắng,
đầu lắc lư theo điệu nhạc nữa. Một ông già khó tính đứng bên cạnh
trừng mắt nhìn bé và nạt: “Con khỉ này, dự lễ nghiêm trang cái
coi!” Sau lễ, về nhà bé Linh buồn lắm, đi ra sau nhà ngồi. Con
chó già mắt lờ đờ, hai tai cụp xuống, đến nằm bên bé Linh rên
khe khẽ như khóc lóc. Bé Linh nói với con chó: “Lu Lu ơi, mi đừng
khóc nữa. Chắc mi cũng giữ đạo theo kiểu ông già lúc này. Thôi
đổi kiểu đi”.
Phụng vụ thánh lễ là việc tôn thờ phát xuất từ tâm linh, nên phải
nhẹ nhàng, thanh thoát, tươi vui. Nhiều lời Thánh kinh nhắc nhở
người ta phụng sự Chúa trong niềm vui tươi hớn hở. Vua Đavít đã
cởi bỏ long bào, nhảy múa hân hoan đi trước hòm bia Thiên Chúa.
Ngày nay, thánh lễ của người Công giáo da đen có ca đoàn hát thánh
ca giật gân, vỗ tay, nhún nhảy theo điệu nhạc. Vị chủ tế và cả
cộng đoàn cũng vui vẻ đề huề như vậy. Vấn đề ở đây không phải
là cái nào đúng, cái nào sai. Phụng vụ thánh lễ là việc biểu lộ
tâm tình thờ phượng, cảm giác tâm linh của con người. Cảm giác
tâm linh và cách biểu lộ có khác nhau tùy theo văn hoá, lứa tuổi.
Ngày nay thánh lễ tại nhiều giáo xứ Mỹ chỉ thấy những khuôn mặt
già nua. Điều này có thể một phần do phụng vụ thánh lễ tại đó
quá khô khẳng, buồn tẻ, không khơi dậy được cảm giác tâm linh
nơi người trẻ.
Công đồng Vatican II đã hiểu được rằng nhu cầu cảm giác tâm linh
cần được biểu lộ theo văn hoá, nên đã cải tổ việc cử hành thánh
lễ: dùng tiếng địa phương, hội nhập những nét cá biệt văn hóa
dân tộc vào việc cử hành. Việc vỗ tay nhún nhảy trong thánh lễ
của những người Công giáo da đen bộc lộ được tâm tình con trẻ,
vui mừng đến với Thiên Chúa là Cha với niềm ước mong, hân hoan;
không phải vì bất đắc dĩ nên khuôn mặt thộn ra một đống. Đó là
cách biểu lộ tâm linh phù hợp với văn hoá của những người da đen,
và có thể của nhiều người không phải da đen. Điểm chính yếu không
phải là nhảy hay không nhảy, vỗ tay hay không vỗ tay; nhưng là
tham dự phụng vụ thánh lễ với tất cả con người, với niềm hứng
thú, với hiểu biết, và ước mong vì nhận thật rằng đó là điều quí
trọng nhất trong đời sống Kitô hữu.
|
|