|
|
| |
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL |
|
Thánh
Thể là Bảo Chứng Cánh Chung
nơi việc Cử Hành Thánh Lễ
Trong
Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô
II đã xác tín Thánh Thể là một Bảo Chứng Cánh Chung ở khoản số
18 như sau:
•
“Lời tung hô của cộng đồng sau phần truyền phép được chấm dứt
một cách rất thích đáng với câu diễn tả cái trục cánh chung là
yếu tố làm nên đặc tính của việc cử hành Thánh Thể (x 1Cor 11:26),
đó là câu ‘cho đến khi Chúa lại đến’. Thánh Thể là một vươn rộng
kéo dài tới đích điểm, là một tiên hưởng niềm vui trọn vẹn như
Chúa Kitô hứa hẹn (x Jn 15:11); Thánh Thể là tiên vọng được thừa
hưởng nước trời một cách nào đó, là ‘một bảo chứng cho vinh quang
mai hậu’ (Solemnity of the Body and Blood of Christ, Second Vespers,
Antiphon to the Magnificat). Thánh Thể chất chứa tất cả những
gì là tin tưởng đợi trông ‘với một niềm hân hoan hy vọng về việc
tái giáng của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế của chúng ta’ (Missale
Romanum, Embolism following the Lord's Prayer). Những ai được
Chúa Kitô dưỡng nuôi bằng Thánh Thể không cần phải đời chờ cho
đến đời sau mới thừa hưởng sự sống trường sinh, vì họ đã chiếm
hữu được sự sống này ngay trên trần gian, như là những hoa trái
đầu mùa của một tình trạng toàn mãn mai hậu, một tình trạng sẽ
làm cho con người nên thành toàn trọn vẹn. Vì nơi Thánh Thể, chúng
ta cũng có cả bảo chứng về việc phục sinh của thân xác vào ngày
tận thế: ‘Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì có sự sống đời đời,
và Tôi sẽ làm cho họ sống lại trong ngày sau hết’ (Jn 6:54). Lời
bảo chứng cho việc sống lại sau này ấy phát xuất từ sự kiện là
xác thịt của Con Người được ban hiến như lương thực, là thân thể
của Người ở trong tình trạng vinh hiển sau cuộc phục sinh. Lãnh
nhận Thánh Thể là chúng ta thực sự tiêu hóa ‘cái bí mật’ của việc
phục sinh vậy”.
Cũng
trong Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể, ở khoản số 58, Đức
Thánh Cha Gioan Phaolô II còn lập lại chiều kích cánh chung của
Mầu Nhiệm Thánh Thể liên quan đến Mẹ Maria nói chung và Ca Vịnh
Ngợi Khen của Mẹ nói riêng như sau:
•
“Ca Vịnh Ngợi Khen còn phản ảnh cả chiều kích cánh chung của Thánh
Thể nữa. Mọi lần Con Thiên Chúa lại đến với chúng ta nơi ‘cảnh
bần cùng’ của các hình thể bí tích là bánh và rượu thì các hạt
giống của một giòng lịch sử mới lại được đâm rễ vào thế giới này,
một lịch sử mà kẻ quyền năng ‘bị hạ xuống khỏi ngai tòa của mình’
và ‘những ai thấp hèn được nâng lên’ (cf. Lk 1:52). Mẹ Maria hát
lên bài ca vịnh về ‘trời mới’ và ‘đất mới’ là những gì thể hiện
nơi Thánh Thể việc trông ngóng của chúng, và ở một nghĩa nào đó,
cả chương trình và dự án của chúng nữa”.
Chiều
Kích Cánh Chung của Mầu Nhiệm Thánh Thể nơi Thánh Lễ được thể
hiện và báo trước ngay nơi việc truyền phép, ngay khi Thánh Thần
xuống thánh hóa lễ vật bằng lời truyền phép của vị chủ tế. Bởi
vì, ngay lúc ấy, ngay lúc bánh và rượu là hoa mầu ruộng đất và
lao công của con người được biến thể thành Mình Thánh và Máu Thánh
Chúa Kitô Phục Sinh.
Đúng
thế, Chúa Giêsu Thánh Thể thông ban Sự Sống Hiệp Thông cho Kitô
hữu chi thể của Người để họ được “sự sống viên mãn hơn”, một sự
sống trường sinh của thành phần sống cho Vị “Thiên Chúa là Thiên
Chúa của kẻ sống” (Lk 20:38).
Thế
nhưng, Sự Sống Hiệp Thông đây không phải chỉ là sự sống giữa cá
nhân Kitô hữu với Chúa Giêsu Thánh Thể họ Hiệp Lễ, mà là Sự Sống
Hiệp Thông với Chúa Giêsu trong Giáo Hội là Nhiệm Thể của Người,
cả Giáo Hội trần thế, lẫn Giáo Hội hiển vinh trên trời với Giáo
Hội thanh tẩy trong luyện hình. Đó là lý do trong Phần Hiến Lễ,
ở đoạn cuối, Kinh Nguyện Thánh Thể đã bao gồm cả Giáo Hội tam
diện này, thứ tự (theo Kinh Nguyện Thánh Thể III) là Giáo Hội
thiên quốc (qua việc xin Thánh Mẫu và các thánh chuyển cầu), rồi
tới Giáo Hội lữ hành (qua việc cầu cho đích danh Đức Thánh Cha
và vị Giám Mục địa phương cũng như hàng giáo phẩm toàn cầu), và
Giáo Hội thanh luyện (qua việc cầu cho các linh hồn đã ra đi).
Ngoài
ra, Sự Sống Hiệp Thông Kitô hữu nhận lãnh trong Thánh Lễ qua việc
Hiệp Lễ là một sự sống viên mãn, tức sự sống đầy những hoa trái
cứu độ của Chúa Kitô, một sự sống nơi Thân Nho Chúa Kitô cần phải
làm sao để cũng trổ sinh muôn vàn hoa trái nơi từng Cành Nho Kitô
hữu. Bởi thế, Sự Sống Hiệp Thông Thánh Thể đây liên quan đến cả
việc tông đồ truyền giáo nữa, tức liên quan đến việc để làm sao
cho thế gian nhận biết Chúa Kitô, và nhờ đó cũng được thông dự
vào Sự Sống Hiệp Thông này, đúng như ước nguyện của Chúa Giêsu
trong Lời Nguyện Hiến Tế kết Bữa Tiệc Ly: “Con sống trong họ,
Cha sống trong Con, để sự hiệp nhất của họ được trọn vẹn. Nhờ
đó thế gian nhận biết rằng Cha đã sai Con và Cha đã yêu thương
họ như đã thương yêu Con” (Jn 17:23).
Hai
khía cạnh hiệp thông Giáo Hội và tông đồ truyền giáo trên đây
của Mầu Nhiệm Thánh Thể nơi việc Cử Hành Thánh Lêã đã được Đức
Thánh Cha Gioan Phaolô II đề cập đến trong Tông Thư về Năm Thánh
Thể “Xin Chúa Ở Với Chúng Con” ở Chương III (Thánh Thể là Nguồn
Mạch và là Biểu Hiện của Hiệp Thông, đặc biệt ở khoản số 19 và
20) và ở Chương IV (Thánh Thể là Nguyên Lý và là Dự Án ‘Truyền
Giáo’, đặc biệt ở khoản số 24 và 25).
Thánh
Thể là Nguồn Mạch và là Biểu Hiện của Hiệp Thông
•
“Khi các môn đệ đi Emmau xin Chúa Giêsu hãy ở ‘với’ các vị, Người
đã đáp lại bằng việc ban cho họ một tặng ân còn cao trọng hơn
thế nữa, đó là, nhờ Bí Tích Thánh Thể, Người tìm được cách để
ở ‘trong’ các vị. Nhận lãnh Thánh Thể tức là đi vào mối hiệp thông
sâu xa với Chúa Giêsu. ‘Các con hãy ở trong Thày như Thày ở trong
các con’ (Jn 15:4). Mối liên hệ về việc ‘ở’ với nhau một cách
sâu xa này cho chúng ta được nếm hưởng trước thiên đường ngay
trên trần gian này. Đó không phải là điều ước mong lớn lao nhất
của con người hay sao? Đó không phải là những gì Thiên Chúa đã
nghĩ đến khi Ngài thực hiện trong lịch sử dự án cứu độ của Ngài
hay sao? Thiên Chúa đã gieo vào tâm can con người một ‘nỗi đói
khát’ Lời của của Ngài (x Am 8:11), một nỗi đói khát chỉ được
thỏa nguyện chỉ khi nào được hoàn toàn hiệp nhất với Ngài mà thôi.
Chúng ta có thể ‘thỏa mãn’ Thiên Chúa ngay trên trái đất này nơi
mối hiệp thông Thánh Thể được ban cho chúng ta đây, với niềm khát
vọng được hoàn toàn mãn nguyện trên cõi thiên cung”. (khoản số
19)
•
“Sự liên kết đặc biệt này nơi ‘mối hiệp thông’ Thánh Thể không
thể hiểu được một cách đầy đủ hay cảm nghiệm thấy một cách trọn
vẹn ngoài mối hiệp thông Giáo Hội. Tôi đã nhấn mạnh đến điều này
nhiều lần trong Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi Thánh Thể Ecclesia
de Eucharistia. Giáo Hội là Thân Mình của Chúa Kitô: chúng ta
tiến bước ‘với Chúa Kitô’ ở chỗ chúng ta liên kết ‘với thân thể
của Người’. Chúa Kitô đã thiết lập và làm phát triển mối hiệp
nhất này bằng việc tuôn đổ Thánh Linh của Người xuống. Và chính
Người liên lỉ xây dựng mối hiệp nhất ấy bằng sự hiện diện Thánh
Thể của Người. Chính tấm bánh Thánh Thể duy nhất làm cho chúng
ta nên một thân thể duy nhất, vì ‘chúng ta tất cả cùng tham phần
vào một tấm bánh duy nhất’ (1Cor 10:17). Nơi mầu nhiệm Thánh Thể,
Chúa Giêsu muốn xây dựng Giáo Hội như là một mối hiệp thông, theo
khuôn mẫu tối hậu đã được Người nói lên trong lời nguyên tư tế
của Người: ‘Như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha, để họ
cũng được ở trong Chúng Ta, hầu thế gian tin rằng Cha đã sai Con’
(Jn 17:21)”. (khoản số 20)
Thánh
Thể là Nguyên Lý và là Dự Án ‘Truyền Giáo’
•
“Hai môn đệ đi Emmau, khi nhận ra Chúa, ‘liền lập tức lên đường’
(x Lk 24:33), để tường trình những gì các vị đã thấy và đã nghe.
Một khi chúng ta đã thực sự gặp gỡ Đấng Phục Sinh bằng việc tham
phần vào mình máu của Người thì chúng ta không thể giữ lấy cho
mình niềm vui chúng ta cảm nghiệm thấy. Việc gặp gỡ Chúa Kitô,
liên lỉ được tăng phát và vững mạnh qua Thánh Thể, làm phát sinh
trong Giáo Hội cũng như nơi mỗi Kitô hữu lời hiệu triệu thúc bách
thực hiện việc làm chứng từ và truyền bá phúc âm hóa. Tôi đã nhấn
mạnh đến điều này trong bài giảng loan báo Năm Thánh Thể, dựa
theo lời của Thánh Phaolô: ‘Mỗi lần anh em ăn bánh này và uống
chén ấy là anh em loan truyền việc Chúa chịu chết cho tới khi
Người lại đến’ (1Cor 11:26). Vị Tông Đồ này chặt chẽ liên kết
bữa ăn với việc loan báo, vì việc tham dự vào mối hiệp thông với
Chúa Kitô để tưởng niệm Cuộc Vượt Qua của Người cũng có nghĩa
là cảm thức được nhiệm vụ cần phải trở nên một thừa sai truyền
giáo cho biến cố được hiện thực theo lễ nghi này (Cf. Homily for
the Solemnity of the Body and Blood of Christ [10 June 2004]:
L'Osservatore Romano, 11-12 June 2004, p.6). Việc giải tán ở cuối
mỗi Thánh Lễ là việc ủy thác trách nhiệm cho Kitô hữu, kêu gọi
hãy hoạt động để truyền bá Phúc Âm và làm cho xã hội thấm nhiễm
các giá trị Kitô giáo”. (khoản số 24)
•
“Thánh Thể chẳng những cung ứng sức mạnh nội tâm cần thiết cho
sứ vụ truyền giáo này, mà còn, ở một nghĩa nào đó, chính là dự
án của sứ vụ truyền giáo nữa. Vì Thánh Thể là một kiểu cách hiện
hữu được truyền từ Chúa Giêsu đến mỗi Kitô hữu là thành phần nhờ
chứng từ của họ mà việc hiện hữu ấy được tràn lan khắp xã hội
và văn hóa. Để điều này được thực hiện, mỗi một phần tử thuộc
thành phần tín hữu, bằng việc suy niệm chung riêng, cần phải hòa
hợp với những giá trị được Thánh Thể diễn đạt, với những thái
độ được Thánh Thể soi động, với những quyết định được Thánh Thể
tác động”. (khoản số 25)
Thế
nhưng, cũng chính vì Mầu Nhiệm Thánh Thể là Sự Sống Hiệp Thông
liên quan đến Giáo Hội nên cũng liên quan tới cả vấn đề Đại Kết
Kitô Giáo, một vấn đề đang nhắm đến mục tiêu hiệp nhất một cách
trọn vẹn, ở chỗ tất cả Kitô hữu được chung dự cùng một bàn tiệc
Thánh Thể và một cách hữu hình, ở chỗ chỉ có một chủ chiên duy
nhất đại diện Chúa Kitô thừa kế Thánh Phêrô. Về vấn đề Mầu Nhiệm
Thánh Thể với vấn đề Đại Kết Kitô Giáo liên quan tới việc cử hành
phụng vụ nói chung và Thánh Lễ nói riêng, Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II đã xác định những vấn đề cần phải tuân giữ về phụng
vụ, ở khoản số 44, 45 và 46 trong Thông Điệp Giáo Hội Sống Bởi
Thánh Thế thứ tự sau đây:
•
“Chính vì mối hiệp nhất ấy của Giáo Hội, một mối hiệp nhất được
Thánh Thể thể hiện bằng hiến tế của Chúa cũng như bằng việc rước
lấy mình máu Người, mà nhất định cần phải hoàn toàn hiệp thông
nơi những liên hệ về việc tuyên xưng đức tin, về các bí tích cũng
như về việc quản trị giáo hội, chứ không thể cùng nhau cử hành
cùng một phụng vụ Thánh Thể cho đến khi các liên hệ ấy được hoàn
toàn tái thiết lập. Bất cứ việc đồng cử hành nào như thế đều không
phải là phương tiện tác hiệu, mà còn trở thành một ngãng trở,
cho việc đạt đến mối hiệp thông trọn vẹn, vì hành động ấy làm
suy yếu đi cảm quan về khoảng cách chúng ta đang ở trước mục tiêu
này, cũng như vì hành động ấy gây ra hay tăng thêm những mập mờ
liên quan đến một trong những sự thật của đức tin. Con đường tiến
đến mối hiệp nhất trọn vẹn chỉ có thể được thực hiện trong chân
lý mà thôi. Về phương diện này, những vấn đề cấm đoán theo luật
lệ Giáo Hội không hề có gì là mập mờ cả (Cf. Code of Canon Law,
Canon 908; Code of Canons of the Eastern Churches, Canon 702;
Pontifical Council for the Promotion of Christian Unity, Ecumenical
Directory, 25 March 1993, 122-125, 129-131: AAS 85 [1993], 1086-1089;
Congregation for the Doctrine of the Faith, Letter Ad Exsequendam,
18 May 2001: AAS 93 [2001], 786), mà hoàn toàn hợp với qui tắc
về luân lý đã được Công Đồng Chung Vaticanô II phác họa (“Divine
law forbids any common worship which would damage the unity of
the Church, or involve formal acceptance of falsehood or the danger
of deviation in the faith, of scandal, or of indifferentism”:
Decree on the Eastern Catholic Churches Orientalium Ecclesiarum,
26)”.
•
“Tuy không bao giờ được phép đồng cử hành trong tình trạng chưa
hiệp thông trọn vẹn, nhưng vẫn được phép ban Thánh Thể ở các trường
hợp đặc biệt cho những người thuộc về các Giáo Hội hay các Cộng
Đồng Giáo Hội chưa hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo.
Thật vậy, trong trường hợp này, mục đích là để đáp ứng nhu cầu
thiêng liêng hệ trọng liên quan đến phần rỗi đời đời của cá nhân
người tín hữu, chứ không phải là để thể hiện một thứ liên hiệp
thông là những gì vẫn còn bất khả cho đến khi những mối liên hệ
hữu hình thuộc mối hiệp thông giáo hội hoàn toàn được tái thiết.
Đó là phương sách của Công Đồng Chung Vaticanô II, khi công đồng
này nêu lên những hướng dẫn để đáp ứng các Kitô Hữu Đông Phương
vì lòng ngay phân ly với Giáo Hội Công Giáo, thành phần tự ý muốn
xin lãnh nhận Thánh Thể từ một thừa tác viên Công Giáo và đã dọn
mình xứng đáng (Decree on the Eastern Catholic Churches Orientalium
Ecclesiarum, 27). Phương sách này sau đó đã được chuẩn nhận bởi
cả hai bộ Giáo Luật là những bộ luật cũng để ý tới, với những
điều chỉnh cần thiết, trường hợp các Kitô Hữu không phải là Kitô
Hữu Đông Phương chưa hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo
nữa (Cf. Code of Canon Law, Canon 844, 3-4; Code of Canons of
the Eastern Churches, Canon 671, 3-4)”.
•
“Trong Thông Điệp Ut Unum Sint, Tôi đã bày tỏ cảm nhận riêng của
Tôi đối với những qui tắc ấy, những qui tắc đã có thể góp phần
vào việc ban phát ơn cứu độ cho những linh hồn có một nhận thức
xứng hợp: ‘Thật là vui mừng khi nhận thấy rằng các vị thừa tác
viên Công Giáo, trong những trường hợp đặc biệt, có thể ban bí
tích Thánh Thể, Thống Hối và Xức Dầu Bệnh Nhân cho các Kitô hữu
chưa hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo nhưng lại là
những người hết sức muốn lãnh nhận các bí tích ấy, tự động xin
lãnh nhận các bí tích này và bày tỏ đức tin như Giáo Hội Công
Giáo tuyên xưng liên quan đến các bí tích ấy. Ngược lại, trong
các trường hợp đặc biệt và trong các hoàn cảnh riêng biệt, những
người Công Giáo cũng có thể xin lãnh nhận các bí tích ấy từ những
vị thừa tác viên thuộc các Giáo Hội thật sự có những bí tích này’
(No. 46: AAS 87 [1995], 948). Những điều kiện ấy, những điều kiện
bất khả châm chước, cần phải được cẩn thận tôn trọng, cho dù được
áp dụng cho những trường hợp đặc biệt riêng, vì nếu chối bỏ một
hay những sự thật đức tin liên quan đến các bí tích này, trong
đó, có cả sự thật liên quan tới nhu cầu thuộc chức linh mục thừa
tác trong việc ban phát thành hiệu các bí tích này, khiến cho
người xin lãnh nhận các bí tích ấy không hội đủ điều kiện xứng
hợp để được phép lãnh nhận. Ngược lại cũng thế, những người Công
Giáo không được rước lễ nơi những cộng đồng không có bí tích Truyền
Chức Thánh thật sự (Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Decree
on Ecumenism Unitatis Redintegratio, 22)”.
|
|