|
|
| |
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh |
|
Phụng
Vụ Thánh Thể - Phần Hiệp Lễ
Kinh
Lạy Cha là giao điểm giữa hai phần Hiến Tế và Hiệp Lễ, và việc
đọc Kinh Lạy Cha là tác động chuyển tiếp giữa việc chúc nguyện
Thiên Chúa là Cha (ở phần Hiến Tế) và việc hướng về Chúa Kitô
là Đầu của Nhiệm Thể Giáo Hội (ở phần Hiệp Lễ).
Thật
vậy, Kinh Lạy Cha có hai phần, phần đầu liên quan đến tác động
Hiến Tế, ở chỗ, cộng đoàn tham dự “nhờ Người, với Người và trong
Người” là Chúa Kitô chúc nguyện Thiên Chúa là “Cha chúng con ở
trên trời”: “Nguyện Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha
thể hiện dưới đất cũng như trên trời”; và phần sau liên quan đến
tác động Hiệp Lễ, ở chỗ, cộng đoàn tham dự chẳng những xin “cho
chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” là chính Mình Máu Thánh
Chúa Kitô, “Bánh hằng sống bởi trời xuống… cho thế gian sự sống”
(Jn 6:51), mà còn xin cho được sống đẹp lòng Chúa, sống hợp với
ý Chúa muốn giao hòa mọi sự trong Chúa Kitô, để xứng đáng làm
nơi cho Ngài “là Vua uy quyền và vinh hiển muôn đời” (câu này
theo bản dịch Sách Lễ Việt Nam năm 1971) ngự trị nữa: “Xin cứu
chúng con khỏi mọi sự dữ, xin đoái thương cho những ngày chúng
con đang sống được bình an”, tức là được “luôn luôn thoát khỏi
tội lỗi và được yên ổn khỏi mọi biến loạn”, trong thời gian cùng
với Giáo Hội lữ hành trần thế “chúng con mong đợi niềm hy vọng
hồng phúc và ngày trở lại của Chúa Giêsu Kitô, Đấng cứu chuộc
chúng con”.
Lời
cộng đoàn tham dự tung hô Thiên Chúa Cha rằng “vì vương quốc,
quyền năng và vinh quang đều thuộc về Chúa, bây giờ và muôn đời”
(câu này dịch theo theo Sách Lễ tiếng Anh “for the kingdom, the
power, and the glory are yours, now and for ever”, cũng là câu
được Sách Lễ Việt Ngữ năm 1971, như trên vừa trích dẫn, dịch là
“vì Chúa là vua uy quyền và vinh hiển muôn đời”), một lời thực
sự vang vọng những gì đã được đại cộng đoàn thiên quốc dâng lên
Thiên Chúa sau khi Thiên Chúa ra tay hoàn toàn triệt hạ thế gian
được hiện thân nơi con đại điếm đô Babylon (xem Khải Huyền toàn
đoạn 17 và 18), một tác nhân gây ra “sự dữ” và “mọi biến loạn”:
“Alleluia! Ơn cứu độ, vinh quang và quyền năng thuộc về Thiên
Chúa của chúng tôi…” (Rev 19:1).
Tuy
nhiên, ngay sau khi kết thúc việc tuyên tụng Chúa Cha, kéo dài
từ phần Dâng Lễ và Hiến Lễ sang đầu phần Hiệp Lễ như thế, cộng
đồng cùng với chủ tế hướng về Chúa Kitô cho tới khi kết lễ (được
kết thúc bằng phép lành nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi), với lời
nguyện cầu xin Người ban bình an và hiệp nhất cho Giáo Hội của
Người: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã nói với các tông đồ rằng…”.
Bởi vì, Giáo Hội cần phải đạt đến tầm vóc viên trọn của mình là
trở thành một tân thánh đô Gia Liêm từ trời xuống nghênh đón phu
quân của mình là Chúa Kitô để xứng đáng làm nơi cho Thiên Chúa
ở giữa loài người (x Rev 21:2-3), đúng như ý nghĩa sâu xa của
thực tại biến thể ở phần Hiến Thể.
Thế
nhưng, vì Giáo Hội là “Gia Đình Thiên Chúa” (x 1Tim 3:15) được
làm nên bởi các phần tử trở nên con cái Cha trên trời qua Bí Tích
Thánh Tẩy bởi Chúa Thánh Thần và trong Chúa Kitô, và là “Nhiệm
Thể” Chúa Kitô (“Mystici Corporis” Thông Điệp của Đức Piô XII
ban hành năm 1943) được cấu tạo bởi các chi thể Kitô hữu tùy theo
ơn gọi và phần vụ của mình, mà hết mọi phần tử thuộc Gia Đình
Thiên Chúa này, thuộc Nhiệm Thể Chúa Kitô ấy, cần phải sống hiệp
nhất với nhau bằng cuộc sống chung bằng an như cộng đoàn tiên
khởi ở Giêrusalem “đồng tâm nhất trí” (Acts 4:32). Đó là lý do
cộng đoàn và vị chủ tế cần phải tỏ ra tác động phụng vụ chúc bình
an cho nhau trước khi họ được hiệp lễ hay muốn lãnh nhận lấy Thánh
Thể Chúa Kitô là nguồn mạch và là tột đỉnh của Sự Sống Hiệp Thông.
Về
tác động chúc bình an cho nhau này, Bản Hướng Dẫn “‘Redemptionis
Sacramentum’ Về Một Số Vấn Đề Cần Phải Tuân Giữ Hay Tránh Lánh
Liên Quan Đến Thánh Thể Cực Linh” đã dặn dò ở khoản số 71 và 72
thứ tự như sau:
•
“Cần phải bào trì việc thực hành Lễ Nghi Rôma bao gồm cả tác động
chúc bình an trước phần Hiệp Lễ một chút. Vì theo truyền thống
Lễ Nghi Rôma thì việc thực hành này không bao gồm việc hòa giải
hay việc xá tội, mà chỉ tiêu biểu cho sự bình an, mối hiệp thông
và tình bác ái trước khi lãnh nhận Thánh Thể Cực Linh (Cf. Missale
Romanum, Institutio Generalis, n. 154). Chính Việc Thống Hối ở
đầu Lễ (nhất là nơi hình thức đầu tiên của nó) mới có tính chất
hòa giải giữa anh chị em với nhau”.
•
“Thích hợp nhất đó là ‘mỗi người chúc bình an một cách nghiêm
chỉnh chỉ cho những ai gần mình nhất mà thôi’. ‘Vị Linh Mục có
thể chúc bình an cho các thừa tác viên nhưng luôn ở trên cung
thánh, nhờ đó mới không gây trở ngại cho việc cử hành thánh lễ.
Nếu có lý do chính đáng ngài cũng được tùy nghi chúc bình an cho
một số ít tín hữu’. ‘Đối với vấn đề dấu hiệu trao chúc bình an,
cách thức của nó cần phải được Hội Đồng Giám Mục ấn định theo
những cung cách và thói tục của dân chúng’, và những tác động
được các vị ấn định phải được Tòa Thánh châu phê (Cf. Missale
Romanum, Institutio Generalis, nn. 82, 154)”.
Để
thực hiện việc hiệp nhất với Giáo Hội và với nhau giữa thành phần
Kitô hữu là chi thể của Nhiệm Thể Chúa Kitô và là phần tử của
Gia Đình Thiên Chúa, cá nhân Kitô hữu chẳng những thực hiện cử
chỉ chúc bằng an cho nhau, mà còn cần phải hiệp lễ nữa. Bởi vì,
Chúa Kitô chẳng những là Đấng thiết lập Giáo Hội và muốn cho Giáo
Hội được hiệp nhất như Người hiệp nhất với Chúa Cha (x Jn 17:21,23),
mà còn chính là “Đầu của thân mình Người là Giáo Hội” nữa (Eph
5:23). Tất cả chi thể của Người cần phải hiệp nhất với nhau trong
Chúa Kitô, chẳng những bằng việc nhận biết Người bằng đức tin
khi lãnh nhận bí tích rửa tội (x Mk 16:16), mà còn bằng việc chấp
nhận Người bằng lòng mến khi lãnh nhận Mình Máu Thánh của Người
trong Bí Tích Thánh Thể nữa, vì nhờ đó họ được “sự sống dồi dào
hơn” (Jn 10:10), một Sự Sống Hiệp Thông như Người với Cha của
Người (x Jn 6:56-57).
Cử
chỉ bẻ bánh của chủ tế khi cộng đoàn tham dự nguyện kinh “Lạy
Chiên Thiên Chúa” là biểu hiệu hiệp nhất này, ở chỗ, như Thánh
Phaolô Tông Đồ nhận định và xác tín trong Thư Thứ Hai gửi Giáo
Đoàn Côrintô (10:16-17): “Tấm bánh chúng ta bẻ ra không phải là
việc chia sẻ vào thân mình của Chúa Kitô hay sao? Chúng ta tuy
nhiều nhưng vì chỉ có một tấm bánh duy nhất mà chúng ta tất cả
chỉ là một thân thể duy nhất, vì tất cả chúng ta cùng tham phần
cùng một tấm bánh duy nhất”.
Về
tác động bẻ bánh này, Bản Hướng Dẫn “‘Redemptionis Sacramentum’
Về Một Số Vấn Đề Cần Phải Tuân Giữ Hay Tránh Lánh Liên Quan Đến
Thánh Thể Cực Linh” đã dặn dò ở khoản số 73 như sau:
•
“Trong việc cử hành Thánh Lễ, việc bẻ Bánh Thánh Thể, một việc
chỉ được thực hiện bởi vị Linh Mục chủ tế, nếu cần cũng được làm
thay bởi vị Phó Tế hay một vị đồng tế, được bắt đầu sau khi trao
chúc bình an, trong khi đọc Kinh Lạy Chiên Thiên Chúa. Vì cử chỉ
bẻ bánh ‘được Chúa Kitô thực hiện trong Bữa Tiệc Ly, tức trong
thời các thánh tông đồ, đã cống hiến cho toàn thể tác động thánh
thể một danh xưng nói lên cho thấy rằng mặc dù họ tuy nhiều song
cũng được làm nên một Thân Thể duy nhất trong mối hiệp thông với
Tấm Bánh Sự Sống duy nhất là Chúa Kitô, Đấng đã chết và sống lại
vì phần rỗi của thế giới (x. 1Cor 10:17)” (Cf. Missale Romanum,
Institutio Generalis, n. 83). Đó là lý do nghi thức này cần phải
được thực thi một cách cung kính (Cf. S. Congregation for Divine
Worship, Instruction, Liturgicae instaurationes, n. 5: AAS 62
[1970] p. 699). Dầu sao nó cũng ngắn gọn. Cần phải sửa lại ngay
lập tức vấn đề lạm dụng xẩy ra ở một số nơi trong việc thi hành
nghi thức này một cách dài dòng không cần thiết và nhấn mạnh một
cách quá đáng, có cả việc nhúng tay của thành phần giáo dân trái
với qui định (Cf. Missale Romanum, Institutio Generalis, nn. 83,
240, 321)”.
Sau
khi bẻ bánh, chủ tế còn bỏ chút Bánh Thánh vào trong Rượu Thánh
nữa, cũng cùng lúc cộng đoàn đọc Kinh Chiên Thiên Chúa. Bởi vì,
cử chỉ bẻ bánh được kèm theo cử chỉ bỏ bánh vào trong Rượu Thánh
còn là biểu hiệu cho việc Chúa Kitô, “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa
tội trần gian”, đúng như Tiền Hô Gioan Tẩy Giả nhận biết và loan
báo (x Jn 1:29), “nộp mình vì các con”, tức việc Người “tự thánh
hiến để họ được thánh hóa trong chân lý” (Jn 17:19) và được “hiệp
nhất nên một như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha” (Jn 17:21).
Bởi
thế, khi lên rước lễ, là Kitô hữu rước lấy Đấng được vị chủ tế
nâng Mình Máu Thánh lên tuyên xưng và kêu gọi: “Đây Chiên Thiên
Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian. Phúc cho ai được mời đến dự
tiệc Chiên Chúa”.
Lời
họ thưa “amen” trước khi lãnh nhận Mình Thánh và Máu Thánh Chúa
chẳng những là việc họ tuyên xưng những gì họ lãnh nhận bấy giờ
thực sự là Mình Thánh và Máu Thánh Chúa, mà còn là việc họ nhìn
nhận rằng Mình Thánh và Máu Thánh ấy là phương tiện Chúa Kitô
đã sử dụng, bằng việc “nộp mình” và “đổ ra”, để cứu chuộc họ,
và cũng Mình Máu Thánh ấy đã phục sinh vinh hiển tràn đầy Thánh
Linh ban sự sống cho họ.
Lời
thưa “amen” của Kitô hữu khi lãnh nhận Mình Thánh và Máu Thánh
Chúa Kitô bởi thế, chẳng những là việc lập lại lời tuyên xưng
của Thánh Tông Đồ Phêrô: “Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng
sống” (Mt 16:16), một Chúa Kitô Tử Giá Vượt Qua (x Mt 16:21-23),
mà còn lập lại lời tuyên xưng của Thánh Tông Đồ Tôma sau khi Chúa
Kitô Phục Sinh: “Lạy Chúa tôi. Lạy Thiên Chúa tôi” (Jn 20:28).
Lời
Kitô hữu thưa “amen”, với một ý thức như thế, khi há miệng thè
lưỡi ra như một đứa bé trên tay mẹ rước lấy Thánh Thể Chúa Kitô,
hay nâng hai bàn tây lên như một người lớn cung kính lãnh nhận
Thánh Thể Chúa Kitô, còn có nghĩa là “tạ ơn” (thank-you/thanksgiving)
Thiên Chúa là Cha trên trời đã ban Con Một Ngài cho chúng ta là
tạo vật vô cùng thấp hèn và đầy tội lỗi bất xứng của Ngài (x Jn
3:16), “tạ ơn” Lời Nhập Thể đã chẳng những là Emmanuel ở giữa
loài người mà còn đến ở trong mỗi một con người vô danh tiểu tốt
lạc loài chúng ta, đến ở ngay trong thân xác tro bụi hèn hạ của
chúng ta, và “tạ ơn” Thánh Thần đã biến đổi bánh rượu thành Thần
Lương nuôi sống chúng ta, để làm bảo chứng cho việc Ngài liên
tục (“cho đến khi Chúa Kitô lại đến”) biến đổi thân xác của chúng
ta nên giống thân xác hiển vinh của Chúa Kitô (x Rm 8:11; Phil
3:21).
Thánh
Thể của Chúa Kitô, một Hiện Diện Thần Linh, chỉ ở với chúng ta,
tại trong thân xác của chúng ta, một thân xác chắc chắn sẽ “được
sống lại trong ngày sau hết” (Jn 6:40), vì đã là phương tiện bày
tỏ niềm tin tưởng của linh hồn Kitô hữu trong việc há miệng rước
lấy hoặc ngửa tay lãnh nhận, cho đến khi chất thể Bánh Thánh và
chất thể Rượu Thánh hoàn toàn tiêu tan đi trong thân xác của chúng
ta. Khi có Chúa Kitô Thực Sự Hiện Diện trong mình, thân xác của
chúng ta chẳng những trở nên một Nhà Tạm cho Người ngự ngay lúc
bấy giờ, mà còn được thấm nhập Người, hay được Người tràn ngập
trong mình nữa. Bởi thế, cho dù sau đó Thánh Thể của Chúa Kitô
không còn trong thân xác của chúng ta nữa, Thánh Thần của Người
được ban cho chúng ta qua Thánh Thể của Người vẫn còn đó, và càng
ngày càng tràn đầy trong chúng ta, cho tới khi chúng ta đạt đến
tầm vóc viên trọn của Chúa Kitô là Đầu (x Eph 4:13,15).
Thế
nhưng, để có thể đạt được hiệu quả thần linh trong việc Hiệp Lễ,
trong việc rước lấy Thánh Thể Chúa Kitô tràn đầy Thánh Thần như
thế, Kitô hữu cần phải hội đủ điều kiện, cả trước lẫn sau tác
động Hiệp Lễ của họ, một tác động liên quan mật thiết đến cuộc
sống tu đức thường nhật của họ. Đó là, trước khi Hiệp Lễ, họ phải
làm sao để tâm hồn của họ cảm thấy hết sức Khao Khát Thần Linh,
bằng không, một khi lòng họ đầy những thứ tạo vật tầm thường hèn
hạ mau qua, chắc chắn họ sẽ không thể cảm thấy đói khát thiêng
liêng, và từ đó sẽ không cảm thấy ngon lành khi ăn Bánh Hằng Sống.
Chưa hết, sau khi Hiệp Lễ, họ còn phải làm sao, để tâm hồn họ
có thể Cảm Nghiệm Thần Linh, nhờ đó, họ mới có thể làm chứng cho
Đấng họ đã tỏ ra thật lòng nhận biết và tạ ơn qua lời thưa “amen”
trước khi rước lấy Người vào thân xác của họ.
Việc
“Khao Khát Thần Linh” để dọn mình Rước Lễ đây và việc “Cảm Nghiệm
Thần Linh” sau khi Hiệp Lễ đây là gì, nếu không phải là bản chất
của việc cầu nguyện (khao khát thần linh) và là mức độ của việc
chiêm niệm (cảm nghiệm thần linh). Nghĩa là, giây phút chúng ta
Hiệp Lễ là giây phút tuyệt đỉnh của đời sống cầu nguyện cũng là
đời sống nội tâm của chúng ta. Thánh Thể thực sự là nguồn mạch
và là tột đỉnh của đời sống chung Giáo Hội cũng như Kitô hữu là
thế.
Đến
đây, chúng ta mới thấy được rằng, đời sống tu đức của chúng ta
được phản ảnh qua việc cử hành Thánh Lễ. Ở chỗ, ba bậc nhân đức
trọn lành được thể hiện rõ ràng nơi các phần của việc cử hành
Thánh Lễ. Đúng thế, theo tu đức Kitô Giáo, có ba bậc nhân đức
trọn lành Kitô hữu cần phải nỗ lực theo đuổi để đáp ứng ơn gọi
nên thánh của mình là con cái Thiên Chúa, là chi thể Chúa Kitô
và là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần. Ba bậc đó là khởi sinh, tiến
sinh và hiệp sinh.
Bậc
khởi sinh trong đời sống tu đức, mức độ con người mới bước vào
đường nhân đức cần phải thanh tẩy và xa lánh tội lỗi, được thể
hiện nơi phần Thống Hối Đầu Lễ.
Bậc
tiến sinh của đời sống tu đức là mức độ linh hồn sống đạo dễ qui
hướng về Chúa và tìm kiếm Chúa, được thể hiện bằng những việc
hy sinh khổ chế hãm mình, bởi vì, chính trong giai đoạn này, chính
Thiên Chúa từ từ tỏ mình ra cho họ, thu hút họ bằng những soi
động âm thầm, khi họ đọc sách thiêng liêng, đọc kinh hay bàn hỏi
chuyện tâm hồn, một giai đoạn được thể hiện nơi phần Phụng Vụ
Lời Chúa.
Bậc
tu đức hiệp sinh là mức độ linh hồn, sau khi được Lời Chúa thanh
tẩy (x Jn 15:3) trong giai đoạn tu đức tiến sinh, hiểu biết Chúa
hơn và bắt đầu tỏ ra tin tưởng phó thác bản thân cùng mọi sự của
mình cho Ngài, để Ngài muốn làm gì thì làm theo Thánh Ý Tối Thượng
và Toàn Thiện của Ngài; phần Thiên Chúa, Ngài chấp nhận của lễ
thiện chí của linh hồn, bằng việc cho lửa trời (biểu hiệu cho
Thánh Thần) xuống thiêu đốt (biểu hiệu cho Thánh Giá) của lễ của
linh hồn, như Ngài sai Thánh Thần xuống trên lễ vật trên bàn thờ
trong phần Hiến Tế vậy; để rồi, sau khi linh hồn được "thánh
hóa trong chân lý" (Jn 17:19), tức trong Thánh Ý Thiên Chúa
và bởi Thánh Thần bằng Thánh Giá như thế, linh hồn tiến tới chỗ
thần hiệp, tức được hiệp nhất nên một với Chúa Kitô, sống một
cuộc sống như Người, đến độ, không phải là họ sống nữa mà là Chúa
Kitô sống trong họ (x Gal 2:20), một mức độ tu đức thần hiệp được
thể hiện nơi phần Hiệp Lễ.
Lời
chúc kết lễ (đúng hơn cuối lễ) của vị chủ tế: “Lễ xong, chúc anh
chị em về bằng an”, đúng hơn, “chúc anh chị em ra đi bằng an (go
in peace)”. Vì chữ “về” đây cùng với chữ “lễ xong” ở đây (riêng
chữ “lễ xong” đây không có trong Sách Lễ tiếng Anh) có một nghĩa
tiêu cực, chấm dứt việc cử hành Thánh Lễ, chấm dứt một việc Thánh,
để sang việc làm những gì thường nhật ở nhà, những việc làm trần
gian, nếu không sống tinh thần cầu nguyện liên lỉ, dường như không
có dính dáng gì đến việc sống Thánh Lễ cả. Chữ “ra đi” đây, trái
lại, có nghĩa mở ra, hướng về tương lai, có nghĩa tiếp tục, chứ
không đóng lại như chữ “về” 9cùng với chữ “lễ xong”, có tính cách
hồi cố, hạn chế và khép kín. Lời chào chúc cuối cùng rõ ràng và
có tính cách “trọn vẹn ý thức và chủ động” trong việc cử hành
Thánh Lễ cũng như tiếp tục Sống Thánh Lễ đó là lời: “Chúc anh
chị em ra đi bằng an trong việc mến yêu Chúa và phụng sự Chúa
(Go in peace to love and serve the Lord)”.
Như
thế, khi thưa “tạ ơn Chúa”, đáp lại lời chào chúc cuối lễ của
vị chủ tế hay phó tế, mỗi người Kitô hữu đồng thời cũng mặc nhiên
hứa quyết với lòng mình trước nhan Thiên Chúa rằng họ sẽ tiếp
tục Sống Phụng Vụ Thánh Thể, với tất cả nỗ lực Sống Thánh Chứng
Nhân, bằng chính “sự sống viên mãn hơn” (Jn 10:10) họ đã được
lãnh nhận ở phần Hiệp Lễ, qua đời sống tu đức vừa phản ảnh vừa
tràn đầy Cảm Nghiệm Phụng Vụ Thánh Thể của họ vậy!
|
|