Các
nhà TG tại Trung Hoa và Việt Nam hiểu lầm
về việc Hiếu nghĩa tôn kính Tổ
Tiên
Các vị
TG tại Trung Hoa và Viêt Nam, trong những thế
ky XVI và XVII, đã hiểu lầm, và cho việc
hiếu kính Tổ tiên theo văn hóa Dân tộc
là Tôn giáo, nên đã báo cáo sai về Tòa Thánh. Lỗi
lầm này đã gây nên không biết bao tai hại,
ngăn cản hàng triệu người không
theo Đạo Công giáo! Thật vậy, các vị
hiểu lầm nên báo cáo sai, nên mới có hai (2)
Tông huấn: Đức GH Clementê XI, ngày 20-11-1704,
với Tông Huấn "Ex Illa Die", cấm
Kitô hữu không được phép tổ chức
hay tham dự Lễ nghi đối với người
quá cố, không được dâng lễ vật
trong Miếu đường hay trong gia thất,
vì những lễ nghi này liên hệ tới mê
tín. Và ngày 11-1-1742, Đức Benedictô XIV lại
ban hành Tông huấn "Ex Quo Singulari" cấm
ngặt lễ nghi đối với Tổ Tiên.
Điều đáng tiếc là các Thừa sai đã
thi hành Tông huấn đúng như các ngài đã
tâu trình, nên các ngài đã đánh mất hàng triệu
người không chấp nhận tin theo Công giáo.
Thực
ra, ngày 10-11-1659, Thánh Bộ Truyền giáo đã
trao Huấn Dụ về việc tôn trọng
những tập tục, phong hóa và nghi thức
của các dân tộc cho hai vị Giám Mục
tiên khởi các Giáo phận Đàng Trong và Đàng
Ngoài (Bắc Việt và Nam Việt), Đức
cha Francois Pallu và Lambert de la Motte. Trong Huấn
dụ đó, Bộ Truyền giáo đã nhắn
nhủ hai Ngài: "Các vị đừng có tìm
cách, tìm lý lẽ để thuyết phục
các dân tộc thay đổi Nghi thức, Tập
tục và Phong hóa của họ, trừ khi tất
cả các điều đó rõ ràng là trái ngược
với tôn giáo và luân lý" (bài giảng của
ĐTGM Huế, khai mạc cuộc Tọa Đàm
về việc Tôn kính Tổ Tiên - Huấn
dụ Plane Compertum Est ).
Cảm
tạ Chúa, vì sau hơn 400 năm Giáo Hội VN
bị bách đạo, ngày 8-12-1939, Thánh Bộ
Truyền giáo, đời Đức Piô XII, mới
tuyên bố : "Các Kitô hữu và các nhà Truyền
giáo ở Việt Nam và Trung Hoa không những được
phép, mà còn phải được khuyến khích
thi hành Lễ Nghi tôn kính Tổ tiên như Lễ
Gia Tiên" (Huấn Thi Plane Compertum Est)
Và ngày
20-10-1964, Tòa Thánh Vatican đã chấp nhận
bản đệ trình của Hội Đồng
Giám Mục Việt Nam về Lễ nghi Tôn kính
Tổ Tiên theo tinh thần Huấn Dụ "Plane
Compertum Est". Sau đó, ngày 14-6-1965, Hội
Đồng GMVN đã ban hành Thông Cáo xác định
những cử chỉ, thái độ và Lễ
nghi có tính cách thế tục, lịch sự xã
giao, để tỏ lòng hiếu kính, tôn kính
và tưởng niệm các Tổ tiên và anh hùng
liệt sĩ, được thi hành và tham dự
cách chủ động.
Để
thực tế hơn, ngày 14-11-1974, Ủy Ban
Giám Mục về Truyền bá Phúc Âm, gồm 6
vị Giám Mục, họp tại Nha Trang, đã
ban hành Thông cáo gồm 6 điểm:
1. Bàn thờ
Gia Tiên để kính nhớ Ông Bà Tổ Tiên được
đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia
đình, miễn là trên bàn thờ không bày biện
điều gì mê tín dị đoan như Hồn
bạch, …
2. Việc
đốt nhang hương, đèn nến trên
bàn thờ Gia Tiên, và bái lạy trước bàn
thờ, gương thờ Tổ Tiên, là những
cử chỉ, thái độ hiếu thảo,
tôn kính được phép làm.
3. Ngày
Cúng giỗ và ngày Kỵ nhật được
cúng giỗ trong gia đình, theo phong tục địa
phương, miễn là loại bỏ những
gì di đoan mê tín, như đốt vàng mã, giảm
thiểu, canh cải những lễ vật biểu
dương ý nghĩa thành kính biết ơn Ông
Bà, như dâng hoa trái, hương đèn.
4. Trong
Hôn lễ, dâu rể được làm Lễ
Tổ, Lễ Gia tiên trước bàn thờ,
gương thờ Tổ tiên, vì đó là nghi
lễ tỏ lòng biết ơn, hiếu kính trình
diện với Ông Bà.
5. Trong
Tang Lễ, được vái lạy trước
thi hài người quá cố, thường vái
theo phong tục địa phương, để
tỏ lòng cung kính người đã khuất,
cũng như ?Giáo Hội cho đốt nến,
sông hương, nghiêng mình trước thi hài
người quá cố.
6. Được
tham dự nghi lễ tôn kính Vị Thành Hoàng, quen
gọi là Phúc thần tại Đình làng, để
tỏ lòng cung kính những vị, mà theo lịch
sử, đã có công với Dân tộc, hoặc
là những ân nhân của dân làng, chứ không phải
vì mê tín như đối với các yêu thần,
tà thần.
Như
vậy, quyết định của Thánh bộ
Truyền giáo năm 1939, và của Hội Đồng
GMVN năm 1965 và 1974 đều rất phù
hợp với tinh thần Hội nhập Văn
hóa của Công Đồng Vaticanô II: "Phải
làm quen với những truyền thống dân
tộc và tôn giáo… Phải kính cẩn khám phá ra
những hạt giống Lời Chúa tiềm
ẩn của họ… Phải có kiến thức
về các Dân tộc, các nền văn hóa, các
tôn giáo… Phải hết sức mến chuộng
di sản phong tục của các dân tộc đó"
(SLTG 11, 26).