Hội
Thầy Giảng Truyền giáo tại Việt
Nam
Năm
1615, cha Đắc Lộ thành lập Hội
Thầy Giảng Truyền giáo tại Việt
Nam. Thanh niên đầu tiên gia nhập tổ
chức Thầy Giảng là Augustinô, người
Đà nẵng. Tổ chức Thầy Giảng
là nơi xuất thân các linh mục tiên khởi,
là nơi mở đầu cho Hội Thầy
Giảng, và cũng là nguồn gốc "Nhà
Đức Chúa Trời" ở Miền Bắc
sau này.
Tôi (cha
Đắc Lộ) đã sáng lập và đào
tạo được nhiều thầy giảng
Việt Nam, các thầy cộng tác đắc
lực trong việc truyền giáo. Đứng
đầu là thầy Phaxicô, Anrê (thầy giảng
Phú Yên) và Inhaxiô. Chính các thầy ấy, nhờ
ơn Chúa giúp, đã tạo nên những tiến
triển của Giáo Hội Việt Nam tại
Giáo phận Đàng Ngoài. Sau đó gặp bao nhiêu
khó khăn, do những kẻ ghen ghét và một
số cung phi, thê thiếp, những người
tòng giáo vì không được giữ hai vợ,
gây nên. Năm 1630, chúa Trịnh cấm đạo,
cha Đắc Lộ bị trục xuất.
Biết mình không thể ở lại lâu, nên cha
đã tổ chức Lễ Khấn hứa long
trọng cho các thầy giảng. Các thầy này
vẫn khấn Vâng lời, Khiết tịnh,
và Khó nghèo. Ngài giao nhiệm vụ lại cho các
thầy giảng. Đặc biệt trong dịp
này, cha Đắc Lộ hướng dẫn
làm một bản "kiến nghị". với
tư cách 5,000 giáo dân ở Bắc Việt bày
tỏ lòng trung thành và biết ơn đối
vớiTòa Thánh La Mã. Kiến nghị này viết
bằng chữ Nôm (1630), và được cha
Đắc Lộ dịch ra tiếng Latin. Sau
đó Đức Giáo Hoàng Urbain VIII đã nhận
được bản kiến nghị ấy.
Tháng 5-1630, ngài từ giã Đàng Ngoài, đi vào
giáo phận Đàng Trong. Cha đi rồi, các
thầy giảng đi khắp nơi truyền
giáo, rửa tội được hơn 3,340
người trong năm 1631. Giáo phận Đàng
Ngoài có được 20 thánh đường.
Nhất là có được một vị tử
đạo đầu tiên: đó là một giáo
dân can đảm giúp việc trong nhà người
em chúa Trịnh... Từ đó, việc truyền
giáo vẫn lan rộng, mặc dầu gặp
biết bao nhiêu khó khăn.
Sau đó,
số các thầy giảng tại miền Bắc
tăng lên tới 100 thầy. Năm 1633 hai thầy
Gioan và Toma được cha Amaral cử sang
Lào với nhiệm vụ ngoại giao với
nhà Vua lân quốc và nghiên cứu việc truyền
giáo tại đây. Một thầy được
vua Lào giữ lại, một thầy về lại
VN đưa tin hảo ý của vua Lào. Bốn
năm sau, từ VN, cha Bonelli cùng 2 thầy giảng
xuất sắc là Anrê và Toma mang ánh sáng đức
tin vào xứ Lào. Tiếc thay cha Bonelli và thầy
Anrê bị bệnh chết tại ranh giới,
1638, chỉ còn thầy Toma tiếp tục
sang kinh đô. Nhưng lúc ấy dân Lào chưa
sẵn sàng nghe tiếng Chúa. Nên sau một năm
hoạt động không kết quả, thày trở
về.
Khi vào
giáo phận Đàng Trong, được cha Đắc
Lộ kể tình hình Truyền giáo kết quả
lạ lùng do các Thầy giảng giúp cha Đắc
Lộ, nên Bà Minh Đức xin: "Thưa
cha, vậy kỳ này cha cũng đào tạo
một số Thầy Giảng trong Miền Nam
này đi! Chắc con cũng có mấy thanh niên
đạo đức sẽ xin cha giúp!"
Gần
2 năm, cha Đắc Lộ ở lại, sống
lén lút ở vùng Đà nẵng, Quảng Nam, với
sự chăm chú đào tạo một số
thầy giảng để làm nồng cốt
cho công cuộc truyền giáo trong tương
lai. Ngài đã chọ lựa được 10
Thầy, trong đó gồm có Anrê (Thầy giảng
Phú Yên), Inhaxiô và Vinh Sơn, là những người
ngài tin tưởng hơn cả. Trước
khi ly biệt, ngài cũng đã tổ chức
Lễ khấn long trọng, như đã làm ở
Đàng Ngoài. Sau đó các thầy đã hăng
say hoạt động truyền giáo, và đã
rửa tội được 293 người.
Vào tháng 9-1643, vì tình thế bắt buộc cha
Đắc Lộ phải ra đi về Macao,
giao lại cho các Thầy Giảng công cuộc
truyền giáo.
Theo nhiều
vị thừa sai tường thuật, nhất
là Cha Đắc Lộ, là Chúa đã làm rất
nhiều phép lạ tại Việt Nam, mà "Các
Thầy Giảng đã không thể kể hết
được. Tôi quả quyết, do sự
tận tụy và đức tin của các Thầy
Giảng, mà có nhiều phép lạ xẩy ra nơi
các tín hữu tại Việt Nam. Nhiều khi
họ chỉ dùng Dấu Thánh giá và Nước
phép mà nhiều lần đã xua đuổi quỉ
ám ảnh, đã chữa lành mọi thứ bệnh,
đã làm cho nhiều người mù được
sáng, thậm chí đã làm cho 2 ngưòi chết
sống lại...
"Môt
ông chủ cai trị một xóm. Xóm này một
hôm bị bệnh dịch tả, ông chủ đến
cầu cứu với cha Đắc Lộ, cha
liền sai 6 Thầy Giảng đến tận
nơi. Các Thầy đem thánh giá, nước
phép, ngành lá đã làm phép, nến thánh và ảnh
Đức Mẹ Maria. Các thầy dựng Thánh
giá ở giữa làng và 2 cổng đầu làng;
rồi các thầy đi thăm từng nhà, cho
bệnh nhân hôn ảnh Đức Mẹ và uống
ít giọt Nước Thánh.. Chỉ trong 8 ngày
sau, các Thầy đã dùng Danh Chúa Giêsu chữa
lành 262 bệnh nhân. Sau cuộc chữa lành này,
mọi người đều dùng Nước
Thánh. Nên mỗi Chúa Nhật, cha Đắc Lộ
phải làm phép 500 lu nước Thánh"
(Rhodes, Hi store du Royaume du Tonkin, ch.xli; xlv).
Tháng giêng
1644 cha Đắc Lộ trở lại Huế
lần cuối, tuy tình hình không ổn, cũng
rửa tội được 200 người;
trở vào Đà Nẵng tổ chức lễ
Phục sinh; ra Bắc lại ở Đồng
Hới. Lại trở lại Huế, lén lút
gặp các Thầy giảng, để an ủi
và thu xếp các công việc cho các Thầy Giảng.
Tại Quảng Nam, ngài mục kích cuộc tử
đạo của Thầy giảng Anrê Phú Yên.
Chính cha đứng sát bên Thầy Anrê, và khi lính
chém đầu Thầy, cha Đắc Lộ
đã đỡ lấy và sau này, cha đem về
Roma, và cho tới nay, thủ cấp của Vị
tử đạo đầu tiên vẫn còn lưu
giữ tại Roma. Sau lễ Giáng Sinh 1644, cha
bị bắt giam, sau tù 2 tháng, được
phóng thích. Mùa hè năm ấy, ngày 3 tháng 7 năm
1645, cha Đắc Lộ vĩnh viễn từ
biệt Việt Nam, quê hương thứ hai
của cha.
Năm
1645, hai Thầy giảng Inhaxiô và Vinh Sơn được
phúc tử đạo. Thầy Inhaxiô sinh năm
1610 tại làng Liêm công, miền Cửa Tùng, học
thức rộng, tinh thông kinh sử, được
bổ nhiệm một chức vụ tại
phủ Tổng trấn, tức dinh ông Hoàng Khê.
Ông lập gia đình, nhưng vợ chết
sớm, trở lại công giáo năm 30 tuổi
(1640) do cha Đắc Lộ rửa tội. Chính
chúa Thượng thẩm vấn các thầy.
Trước câu trả lời đại diện
cho cả nhóm 9 người bị bắt: "Muôn
tâu thánh thượng, tất cả chúng tôi đều
theo đạo Thiên Chúa, chúng tôi quyết giữ
đạo. dầu phải chết cũng không
bỏ", chúa Thượng đã vô cùng tức
giận: "Để coi chúng bay có sức
chịu nổi hình phạt của ta chăng!"
Trong 9 người cũng có thầy giảng
Vinh Sơn lên tiếng đồng ý với Inhaxiô.
Chúa Thượng lên án trảm quyết 2 thầy
giảng , còn 7 giáo dân còn lại ai cũng bị
chặt một ngón tay, hôm ấy là ngày 15-7-1645.
Thầy Vinh sơn can đảm chết vì Chúa.
Bà mẹ của Thầy Inhaxiô theo con tới
nơi trảm quyết, bà khóc, con cũng khóc
xót thương mẹ. Năm ấy Inhaxiô 37
tuổi. Sau này em ruột của Inhaxiô cũng
được phúc tử đạo. Giáo dân
xông vào thấm lấy máu 2 Thầy Giảng tử
đạo, đem về kỷ niệm tôn kính.
Bà Minh Đức cũng được những
di tích máu của hai vị tử đạo và
tôn kính. Các cha Đắc Lộ và Saccano trong các
bản ký sự, đều khen ngượi
nhân đức của thầy Inhaxiô, vị thủ
lãnh các Thầy Giảng Việt Nam, đã đổ
máu làm chứng cho Chúa Giêsu (x.L.Cadière, Un Prince
sse Chrétienne... Bul. Amis Vieux Hué, 1939).
Còn lại
các Thầy giảng khác, dầu không có các linh
mục trong suốt 7 tháng sau đó, vẫn tiếp
tục và càng hăng say trong công cuộc Truyền
giáo. Các Thầy đã rửa tội thêm được
200 người, và đang dạy thêm 200 người
khác. Nguyên một năm 1647, các thầy đã
rửa tội được 400 người.
Tính đến cuối năm 1648 đầu
năm 1649, lúc Bà Minh Đức từ trần,
giáo hội Đàng Trong đã có được
60,000 tín hữu!
Từ
năm 1639-1663, hoạt động truyền
giáo Miền Bắc đang thời phát triển.
Trong thời gian giáo sĩ được tăng
cường, giáo dân và thánh đường tăng
số. Năm 1639, giáo Hội Đàng Ngoài đã
có 82,000 tín hữu, hơn 100 thánh đường,
và 128 nhà nguyện nhỏ. Đến năm 1640,
con số tín hữu tăng lên 100,000 người.
Năm 1641, tăng lên 108,000 người. Trước
những viễn tượng tốt đẹp
ấy, vào năm 1643, có người tố cáo
các giáo sĩ phá tượng Bụt, nên Trịnh
Tráng ra chỉ dụ cấm đạo và đuổi
các giáo sĩ ra khỏi nước. Chỉ dụ
này được treo trên khung cửa các nhà giáo
sĩ. Nhưng cha Majorica đã khép léo trình bày
sự thật với chúa Trịnh. Được
chúa Trịnh thông cảm và chấp thuận cho
giáo sĩ ở lại hoạt động. Chỉ
dụ cấm đạo được thu hồi
sau 3 tháng công bố. Mãi tới 1663, Trịnh Tạc
kế vị ngôi cha, ông này đã hạ lệnh
cấm đạo, các giáo sĩ bị trục
xuất, việc truyền giáo gặp nhiểu
khó khăn. Theo kiểm kê 1640, miền Bắc
có 107 thánh đường và 129 nhà nguyện.
Riêng 3 tinh Nghệ Tĩnh Bình có 70 làng Công giáo,
giáo dân được 108,000 ngưòi. Qua năm
1646 lại tăng lên 200,000 người. Đến
năm 1655 số giáo dân miền Bắc là 350,000
người. Cũng trong năm này, tổng số
thánh đường lên 414 ngôi. Nguyên Thanh Nghệ
Tĩnh đã có 160 thánh đường.
Những
con số trên đây, cộng thêm với giáo dân
Miền Nam, cha Đắc Lộ, ngày 27-6-1649,
đã có thể tường trình với các Hồng
Y thánh bộ Truyền giáo, tại Tòa Thánh La Mã,
con số ước lượng giáo hữu
VN lên tới 300,000 người, và mỗi năm
tăng lên chừng 15,000 tín hữu, nên cần
phải có 300 linh mục để dìu dắt.
Nên xin thánh bộ Truyền giáo vận động
những giáo sĩ truyền giáo Âu châu sang. Điều
này không thể, nên bộ đã đồng ý
lựa chon những Thầy nhiệt tình ngay
trong Hội Thầy Giảng, để huấn
luyện thành các Linh mục bản xứ.
Sau khi
các cha bị trục xuất, tại Đàng
Trong, chỉ còn lại hai linh mục VN: cha Giuse
Trang và Luca Bền cùng với các Thầy giảng
truyền giáo. Và ở Đàng Ngoài, cũng chỉ
còn lại 2 cha VN: Cha Benedictô Hiền và Gioan Huệ
cùng với các Thầy Giảng cùng toàn thể
giáo đang đương đầu với
các cuộc cấm đạo của Trịnh
Tạc (1657-1682) vào những năm 1660, 1661 và
1663... Nhưng trong hoàn cảnh bi đát ấy,
tin mừng Đức Thánh Cha Alexandre VII công bố
Sắc Lệnh, 1659, ngày 29-7-1658, thành lập
hai giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài và bổ
nhiệm hai Linh mục Francois Paullu và Lambert de
la Motte làm Giám Mục.
Nhưng
mãi 2 năm sau, các đức cha vẫn chưa
sang được tới giáo phận. Đức
cha Paullu, ngày 17-1-1665, trao quyền Đàng Ngoài
cho Đức Cha Lambert de la Motte kiêm nhiệm.
ĐC Lambert sai cha Deydier làm cha chính Đàng Ngoài.
Cha đã họp các Thầy Giảng lại,
ngày 15-10-1666, tuyển chọn những thầy
có khả năng lên chức Linh mục. Hai thầy
Bênêđictô Hiền, 54 tuổi, Gioan Huệ 46
tuổi. Hai thầy sang Xiêm học ngày 24-2-1668.
Chỉ trong 2, 3 tháng các thầy được
thụ phong và trở về Đàng Ngoài truyền
giáo. Tháng 7-1669, ĐC Lambert ra Đàng Ngoài, trong
6 tháng ĐC truyền chức 7 Thầy Giảng
lên chức Linh mục và 48 thầy chịu chức
Nhỏ. ĐC cải thiện tổ chức
Truyền giáo, cắt cử các cha, tuyển mộ
chủng sinh. Nhất là tôn nhận Thánh Giuse làm
Quan thầy Giáo Hội VN.
Sau
đó 2 tuần, ĐC Lambert đã ban Sắc
thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá, 26-2-1670,
nhằm Lễ Tro. Trao cho họ Hiến Pháp Dòng,
chủ tọa Lễ tuyên khấn của hai
nữ tu, Agnê và Paula. Lễ Khấn cử hành
tại Kiên Lao (Gần Bùi chu ngày nay). Sau đó
ĐC vội trở về Xiêm (A. Launay: Op.cit.
tr.100-110; x. Tam Bách Chu Niến DMTG 670-1970, Saigon
1970}
.