|
|
Hôn
nhân nền tảng xã hội
Hôn
nhân là căn bản của đời sống
gia đình. Gia đình là nhân tố xây dựng xã
hội. Bởi vì qua hôn nhân, con người tiến
tới một đời sống cộng thể
và khai triển xã hội tính. Hôn nhân, do đó, không
chỉ là một nhu cầu tình cảm cần
được khỏa lấp, một khế
ước được thừa nhận về
mặt xã hội. Nó chính là một gạch nối
giữa đời sống gia đình và đời
sống xã hội, giữa những yếu tố
gia đình và yếu tố của xã hội.
Quan niệm hôn nhân trong tương quan xã hội
đến từ tư tưởng “không ai là
một hòn đảo”. Đó cũng là tư tưởng
của Patrick Malton, một cựu đảng
viên Cộng Sản trong thời chiến tranh lạnh,
vì cảm nhận được ý nghĩa của
hai chữ yêu thương và hiệp nhất, nên
đã từ bỏ chủ thuyết Cộng Sản,
đi tu và trở thành linh mục khổ tu và là
một nhà tư tưởng.
Con
người, ngay từ khi lọt lòng mẹ đã
mang sẵn trong mình xã hội tính. Ngoài đời
sống thể lý, còn có đời sống tâm
lý và tâm linh nữa. Tinh thần xã hội, tinh thần
hợp quần và liên đới đến từ
đời sống và nhu tâm tâm lý ấy. Đúng
ta con người không chỉ sống riêng cho mình,
mà còn cho những người chung quanh nữa.
Trong ý nghĩa này, và trong tinh thần này, hôn nhân
chính là một hình thức của nếp sống
hợp quần, nếp sống tập thể
tính và xã hội tính. Trong hôn nhân, không phải là
một mà là hai, là ba, là bốn cá nhân trong một
tập thể gia đình chung sống, sinh hoạt
chung với nhau. Trong xã hội nhỏ bé này, mỗi
người được sinh ra, lớn lên và
hoạt động theo chiều hướng và
tâm tư riêng, nhưng lại gắn bó và ràng buộc
với nhau bằng những ràng buộc của
tình yêu, của huyết thống, và của sự
chia sẻ di truyền do cha mẹ để lại.
Có thể nói, gia đình là một xã hội thu
nhỏ, và là một tập thể có sức sống
mạnh mẽ và gắn bó nhất, trong đó
vợ chồng, cha mẹ, và con cái, anh chị
em chia sẻ cùng một cảnh ngộ, cùng một
môi trường, và cùng một sự thăng trầm
của cuộc sống.
Những
tư tưởng trên đưa tới một
cái nhìn và ý tâm lý và tâm linh khi trình bày về hôn nhân
với tương quan xã hội. Thật vậy,
do tình yêu ràng buộc mà hai người yêu nhau đã
đi đến một cuộc sống chung với
nhau. Do tình yêu triển nở, phát sinh hoa trái là
những đứa con. Và từ tình yêu cha mẹ
nẩy sinh tình yêu con cái, và từ tình yêu con cái,
nẩy sinh tình yêu anh chị em trong gia đình.
Tuy nhiên, khi nghĩ tới những khía cạnh
tích cực của hôn nhân trong cuộc sống
xã hội, người ta không thể không đề
cập tới những khía cạnh tiêu cực
và ảnh hưởng tiêu cực của nó trong
đời sống xã hội. Những con số
thống kê mà chúng ta từng trưng dẫn trước
đây về những đổ vỡ trong đời
sống hôn nhân, nhất là ảnh hưởng
của những đổ vỡ ấy đối
với sự băng hoại của xã hội,
khiến người ta không thể không nghĩ
tới trước hết ảnh hưởng
của nó nơi chính cuộc sống hôn nhân và
gia đình của mỗi nạn nhân, mà người
chịu ảnh hưởng nhất không ai khác
là những đứa trẻ vô tội.
Nghiên
cứu của các nhà tâm lý cho thấy rằng,
con cái của những cha mẹ ly thân, ly dị
rồi ra cũng có xác xuất ly thân, ly dị
cao hơn so với những con cái của các cha
mẹ không ly dị. Và đời sống của
những đứa trẻ mồ côi bất đắc
dĩ vì phải sống với cha ghẻ, dì ghẻ,
hoặc những người tình của cha hoặc
mẹ mình thường có những tâm trạng
buồn chán, thất vọng, và rất thiếu
tự tin. Kết quả là những em này rất
khó thành đạt trong môi trường học
đường, và sau này khi đã khôn lớn.
Xã hội sẽ phải trả những gánh nặng
nề của những cuộc tình và hôn nhân bất
đắc dĩ, vội vàng và thiếu trưởng
thành như thế.
Ảnh
hưởng trực tiếp của gia đình,
của hôn nhân lủng củng là tạo cơ
hội cho các trẻ em bỏ nhà đi hoang, và
rơi vào những cảnh sống lầy lội
của những nhơ nhớp xã hội. Những
em nhỏ này vừa là nạn nhân, nhưng cũng
lại vừa là nhân tố gây ra những tệ
trạng xã hội. Hằng năm bộ Anh Sinh
Xã Hội Hoa Kỳ phải chi trả cho những
đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi,
bạc đãi, mà kết quả là do những đổ
bể của hôn nhân của cha mẹ chúng gây ra
thì nhiều vô kể. Trong văn phòng làm việc
đã có lần tôi cảm thấy rất bực
bội và coi đó như là một chuyện bất
công khi thấy một em nhỏ vừa tròn 15 tuổi,
em đã hoang thai, và trớ triêu thay là đứa
con do em sinh ra lại bị trục trặc, và
thế là nhà thương phải nuôi em nhỏ
trong lồng kính. Chính phủ phải chi cho em tiền
xe đưa đón em mỗi ngày sau khi tan học
để em tới thăm con. Và dĩ nhiên, khi
em nhỏ được đưa về, thì
cả em nhỏ lẫn người mẹ trẻ
này lại được trợ cấp của
xã hội. Cứ như thế những dịch
vụ này tiếp đến dịch vụ khác,
xã hội phải chi trả không biết bao nhiêu
là tiền cho một trường hợp như
thế. Nhưng nhất là tương lai của
em bé, của người mẹ trẻ ấy
sẽ mất, tất cả sẽ bị lệ
thuộc vào đứa con nhỏ của mình, bỏ
học hoặc khoan giãn việc học. Xã hội
sẽ phải chịu thiệt thòi không phải
vì những đồng tiền thuế của
mọi người, mà vì mất đi một
bàn tay xây dựng, ngược lại, còn phải
nuôi, hiểu theo một nghĩa nào đó, là nuôi
báo cô cả mẹ lẫn em nhỏ của người
mẹ trẻ ấy bằng tiền thuế của
những người khác. Đây quả là một
hội chứng bệnh hoạn của xã hội
này, do những ý niệm sai lầm về hôn nhân,
và về tình yêu.
Tóm
lại, khi nói hôn nhân là nền tảng xã hội,
chính là đề cập đến những ràng
buộc tinh thần của một căn bản
nền tảng cho xã hội. Vì nếu hôn nhân tốt
lành, gia đình sẽ an vui, hạnh phúc. Mà nếu
gia đình là cái nôi hạnh phúc cho con trẻ lớn
lên, thì khi chúng vào đời, chúng sẽ là những
nhân tố đóng góp nhiều thành quả trong
việc xây dựng một xã hội lành mạnh
và thăng tiến. Hôn nhân là nền tảng của
gia đình, và gia đình là nền tảng của
xã hội. Cũng chính vì vậy mà vấn nạn
được đặt ra ở đây là chúng
ta có nên đùa giỡn với ái tình, đùa giỡn
với hạnh phúc gia đình, và đùa giỡn
với xã hội bằng một ý niệm buông
thả, thiếu thận trọng và thiếu trưởng
thành về hôn nhân không? Tôi tin là không, và nếu
được như thế, tức là chúng ta
đang đóng góp những viên gạch tốt
làm nền móng cho một xã hội ngày mai tốt
đẹp. Biết thế, nhưng có mấy
ai ý thức và bước vào đời sống
hôn nhân với chủ ý xây dựng và tạo dựng
một mái ấm gia đình, một gạch nối
lành mạnh với xã hội.
|
|