|
|
Con
người thụ nhân
“Nhân chi sơ,
tính bản thiện”. Tư tưởng này đã
một thời được dùng như kim chỉ
nam trong lãnh vực tâm lý và giáo dục, đặc
biệt đối với nền văn hóa chịu
ảnh hưởng của Nho học. Theo đó,
con người khi sinh vào đời là ở trong
trạng thái hoàn thiện và trinh trắng. Cũng
theo ý nghĩa này, thì tất cả những gì con
người lãnh hội để thành một
cá thể riêng biệt đều bị ảnh
hưởng bởi thế giới bên ngoài, bởi
vì tự nguyên thủy con người đã là
hoàn thiện.
Nhưng
nhận xét trên nếu đem phân tích dưới
cái nhìn tâm lý, nhất là tâm lý trẻ thơ, tâm
lý giáo dục, và tâm lý xã hội thì “nhân chi sơ”
không hẳn đã là “tính bản thiện”. Có lẽ
vì nhận thức được điều
này, nên khi cần phải đổ lỗi cho
sự khuyết điểm và thiếu sót trong
lãnh vực giáo dục con cái, người Việt
Nam đã khéo léo che đậy bằng câu: “Cha mẹ
sinh con, trời sinh tính”.
Xét về
mặt tâm lý trẻ thơ, thì cha đẻ của
ngành tâm lý trẻ em là Piaget đã nhận xét rằng
cá tính con người hay con người đúng
nhất của mình lệ thuộc vào hai yếu
tố, yếu tố di truyền và yếu tố
môi trường. Từ yếu tố di truyền,
chúng ta đón nhận những gì của cha và của
mẹ ban cho, trong đó có cả những cái xấu
và cái tốt. Từ trong môi trường, con người
quan sát và học hỏi để làm nên cá tính
dị biệt của mỗi người. Như
vậy, khi nói tới vấn đề giáo dục
ở tuổi trẻ, ta cần phải lưu
ý tới những ảnh hưởng di truyền
và môi trường của một em bé đã lớn
lên và sinh hoạt như thế nào. Không phải
tự nhiên mà em bé nóng nẩy, hay giận dỗi
và cộc cằn. Thái độ này đến
từ những quan niệm và lối sống của
cha hay mẹ, và từ những hình ảnh quen
thuộc mà em đã lãnh hội từ cha hay mẹ
ngay trong môi trường sống của gia đình.
Tâm lý giáo
dục cũng cho hay, một em bé tự nhiên không
phải luôn hướng thiện. Hướng
thiện là một điều khó hơn những
bản năng và hành động theo tự nhiên.
Do đó, để em hướng thiện và biết
sống trưởng thành, đòi hỏi em phải
được hướng dẫn và giáo dụ.
Đó cũng là ý nghĩa của hai chữ giáo
dục, tức sửa sai và hướng dẫn.
Sửa sai những khuyết điểm và hướng
dẫn những ưu điểm. Vừa sửa
nhưng cũng vừa khích lệ. Điều
này ta cũng tìm thấy từ những quan niệm
sơ khởi của ngành phân tâm học khi Freud
cho rằng con người được cấu
tạo bởi ba yếu tố: Id (bản năng),
Ego (bản ngã), và Superego (Siêu Ngã). Như vậy,
khi sinh ra làm người, ai cũng mang trong mình
đầy đủ những yếu tố thuộc
về hạ giới lẫn tiên giới, thuộc
về thế giới hữu hình và thế giới
siêu hình, thuộc về những điều trần
tục và siêu thoát.
Khi yếu
tố bản năng được phát triển,
tức là con người chỉ biết sống
với những gì nhằm thỏa mãn những
nhu cầu và đòi hỏi tự nhiên, như ăn,
uống, ngủ, nghỉ, hoặc những nhu
cầu về sinh lý. Và khi những nhu cầu này
trở thành những thôi thúc và ước muốn
mãnh liệt chi phối đời sống của
một người, thì con người sẽ
nghiêng về trần tục, về tự nhiên.
Lúc ấy, bản ngã (Ego) cần phải khơi
dậy để tìm được sự hài
hoà giữa bản năng (Id) và siêu ngã (Superego).
Tức là con người phải biết hỏi
mình, tại sao tôi ăn món này, tại sao tôi mặc
áo này. Và tôi phải ăn như thế nào, phải
mặc như thế nào để nói lên được
tôi là ai, và hành xử như thế nào. Đây là
một thách đố lớn lao cho chính con người
và cho các nhà giáo dục. Bởi vì khi con người
càng hướng về bản năng, thì tầm
nhìn và suy tư về những giá trị tinh thần
càng bị lu mờ. Một hình thức nhận
định mà các nhà đạo đức học
cho là lương tâm bị lấn át hay tiếng
nói lương tri bị yếu ớt. Đây
cũng là một hình thức giải thích tại
sao có những người mà nhu cầu ăn uống,
sinh lý trở thành một đòi hỏi không thể
thiếu vắng, và ngược laị, cũng
có những người tuy vẫn ăn uống,
ngủ, nghỉ, và vẫn có hành động sinh
lý nhưng không bị lệ thuộc và bị
cuốn hút bởi những nhu cầu ấy. Điểm
khác nhau chính là ở chỗ giáo dục và tự
giáo dục.
Sau cùng, theo
các nhà tâm lý xã hội, thì môi trường cũng
là một động lực thôi thúc và ảnh
hưởng rất lớn đối với
sự phát triển và hình thành cá tính của mỗi
người. Môi trường xã hội đầu
tiên là gia đình. Người con sẽ học
được qua việc quan sát, nghe ngóng, và nhìn
thấy cách thức cha mẹ, anh chị đối
xử với mình và với nhau như thế nào.
Hình ảnh và cách thức của người cha,
hình ảnh và tư cách của người mẹ,
hình ảnh và lối sống của người
anh, người chị sẽ là những hình ảnh
đầu đời và được ghi khắc
rất thâm sâu vào lòng của đứa trẻ.
Nó dần dà đi vào đời sống của
đứa trẻ đến nỗ biến thành
một tập quán và hầu như là một bản
năng. Chính vì thế, chúng ta vẫn thường
nghe câu nói, đại khái, “đứa trẻ này
giống bố, giống mẹ nó như đúc
từ thân hình đến tính nết”. Thân
hình thì cha mẹ có thể cho con được
qua những yếu tố di truyền. Nhưng
tính nết thì cha mẹ không trực tiếp cho
con, mà là cho nó một cách gián tiếp.
Điều
này theo các nhà tâm lý xã hội vẫn rất quan
trọng, nhất là khi nghiên cứu về ảnh
hưởng của môi trường đến
tâm lý sống của mỗi người. Trong
lịch sử giáo dục Trung Hoa, chúng ta đã
nghe câu chuyện của mẹ thầy Mạnh
Tử. Bà đã dọn nhà đi mấy nơi
cũng vì để tránh những ảnh hưởng
xấu cho con. Đầu tiên bà dọn khỏi
khu chợ búa, buôn bán, vì con bà bắt đầu
bị ảnh hưởng bởi những lối
gian dối, lừa lọc trong giới thương
trường. Bà lại phải rời nhà xa nghĩa
trang vì con bà bắt đầu ảnh hưởng
do những khuôn mặt âu sầu, rầu rĩ
của những người thân nhân khi đi đưa
đám. Và bà chỉ thấy an tâm khi con bà được
bắt chước các học sinh cắp sách đến
trường, học hỏi và cư xử lễ
giáo gần trường học. Câu truyện giáo
dục ấy ngày nay vẫn đúng và rất ảnh
hưởng khi nghiên cứu về môi trường
và xã hội chung quanh. Người Việt Nam ta
cũng có câu: “Gần mực thì đen, gần
đèn thì rạng” cũng là nói lên ảnh hưởng
của môi trường giáo dục đối
với tuổi trẻ.
Những
nhận xét trên về người thụ huấn,
tức là thành phần trẻ đang ở vào
lứa tuổi cần được giáo dục
và hướng dẫn rất cần được
cha mẹ và những người có trách nhiệm
đối với tuổi trẻ quan tâm.
Nhiều
phụ huynh không thể ngờ rằng ở vào
thời gian khi một em bé lên 7, em có thể nói
dối và xí gạt cha mẹ những chuyện
rất lớn lao. Em có thể bày tạo ra một
câu truyện, hoặc một vấn đề
để cha mẹ phải tin em. Và khi một
em lên 15, em có khả năng lý luận như một
người đã lớn. Đó là chưa kể
sự phát triển về tâm sinh lý của các em
khi bước vào tuổi 12 hoặc 13. Từng
ấy những yếu tố cộng thêm những
thôi thúc tự nội tâm và trong sức sống
của một em bé khi còn nhỏ cũng như
khi em bước vào tuổi vị thành niên, đã
là những điều mà cha mẹ phải hết
sức lưu ý khi bàn về việc giáo dục
con cái.
Từ những
nhận định trên, một số nhà tâm lý
đã cho rằng, một đứa trẻ sau
này sẽ như thế nào, thì trách nhiệm lớn
nhất và quan trọng nhất vẫn là nơi
cha mẹ. Thực tế, nhiều người
đã tới văn phòng và đã phàn nàn với
tôi rằng, không biết làm sao đứa con gái,
thằng con trai của tôi khi còn nhỏ rất
ngoan, nhưng bây giời vào tuổi dậy thì,
chúng ngang bướng và khó dậy quá. Hoặc
cũng có những phụ huynh phàn nàn là đứa
con 23 hoặc 27 tuổi của mình không còn dậy
dỗ được nữa. Thật ra, những
phụ huynh này đã quên mất nguyên tắc giáo
dục rất căn bản là giáo dục từ
còn nhỏ. Ngoài ra, chính những cha mẹ ấy
cũng quên mất mình đã nói gì, làm gì, và hành
động như thế nào khi con mình còn nhỏ.
Do đó, những hành động, ngôn ngữ,
và lề lối suy tư phải chăng chỉ
là phản ảnh chính con người người
thật của cha mẹ. Dĩ nhiên, chúng ta không
loại bỏ yếu tố môi trường mà
đứa trẻ bị ảnh hưởng.
Tóm lại,
khi nghĩ về vấn đề giáo dục,
và khi đề cập đến những lý do
khiến cho việc giáo dục đạt thành
quả hay thất bại, là chúng ta phải nghĩ
ngay đến những yếu tố về tâm
lý, về môi trường, và về cả những
ảnh hưởng di truyền mà cha mẹ có
thể đã để lại nơi con cái. Những
yếu tố ấy khi được phân tích
kỹ lưỡng sẽ giúp cho việc giáo dục
và hướng dẫn con cái trở thành dễ
dàng và đạt được những thành
quả tốt. Một câu nói mà Đức Kitô
đã nói với các môn đệ Ngài mà theo tôi cho
rằng rất thích hợp để kết thúc
những suy tư trên là: “Thầy đã làm gương
để các con noi theo mà bắt chước”
(Gio 13:15).
|
|