|
|
Yêu
“Đố ai định
nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hưu hưu”
(Xuân Diệu).
Yêu
là đề tài cũ xưa như trái đất,
nhưng cũng lại là đề tài được
nhiều người đề cập tới
dưới muôn hình thức, thi ca, nhạc, truyện
ngắn, truyện dài, hoặc khảo cứu.
Nhưng như Xuân Diệu đả viết,
thì có ai định nghĩa được tình
yêu bao giờ! Do đó, khi nói về tình yêu cũng
chỉ là một lối diễn tả cảm
xúc của riêng mỗi người về một
rung động hoàn toàn chủ quan, chỉ xẩy
ra riêng cho một người mà người đó
là ta hay không phải là chính ta. Vì vậy, yêu hay
được yêu là một nhu cầu và là một
quà tặng quí giá của Thượng Đế
trao ban cho con người, để con người
trao tặng lại cho nhau.
Yêu
là một nhu cầu, vì nó dính liền, gắn bó,
và tan hòa trong đời sống của con người.
Khi sinh ra cho đến chết, mọi người
đều có khả năng yêu và muốn được
người yêu. Thiếu tình yêu, con người
không thể sống quân bình và hạnh phúc được.
Tình yêu, do đó, vượt trên cả những
nhu cầu thuộc bản năng sinh tồn khác
như ăn, uống, ngủ, nghỉ.
Yêu
là một nhu cầu cao nhất đối với
những nhu cầu khác vì nó không những liên quan
trực tiếp đến đời sống
bình thường, mà còn liên quan cả tới phần
tâm linh và tri thức nữa. Form đã nói về
tình yêu này và cho rằng tình yêu giữa Thượng
Đế và loài thụ tạo là mối tình cao
cả nhất, và đáng kính nhất. Nhận
định về tình yêu như thế, có lẽ
ông đã muốn diễn tả ý nghĩa lời
Thánh Kinh là: “Ngươi phải yêu mến Chúa
là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn,
và hết trí khôn” (Mt 22:37). Nhu cầu yêu và được
yêu cũng thấy xuất hiện ngay giữa
những bệnh nhân trong các nhà thương tâm
thần, qua những cung cách cư xử của
những bệnh nhân ấy đối với
nhau và với những người săn sóc họ.
Nhu cầu này dường như cũng thấy
trong thế giới loài vật. Thật vậy,
tuy không cao hơn con người nhưng bản
năng muốn được săn sóc và chiều
chuộng vẫn thấy có nơi những con
vật mà ta nuôi trong nhà. Thí dụ con mèo, con chó
chẳng hạn, chúng tuy không nói được,
nhưng vẫn linh cảm và dành cho chủ chúng
sự quyến luyến, quí mến hơn những
người xa lạ.
Yêu
không chỉ là một nhu cầu, mà còn là một
quà tặng. Chỉ có con người mới trao
nhau tình yêu và nhận lấy từ người
mình yêu qùa tặng này. Do đó, khi nói “tình cho không,
biếu không”, tức là nói tới một thứ
tình cảm hạ cấp, tầm thường
và thiếu giá trị. Người ta không thể
cho không hay biếu không tình mình, mà chỉ có thể
trao tặng người nào biết trân quí và coi
trọng tình mình. Trong thế giới tình yêu, người
ta còn đề cập tới mãnh lực của
mình yêu và những điều kiện của tình
yêu.
Tình
yêu rất mãnh liệt và bùng nổ kinh khủng.
Sức mạnh nó có thể làm thay đổi cả
một triều đại, như truờng hợp
1 vị vua nước Anh trước đây đã
sẵn sàng nhường ngôi vua để đi
theo tiếng gọi của con tim. Thánh Kinh Kitô
giáo đã gọi “tình yêu mạnh hơn sự
chết”. Khi đã yêu, người ta không còn
phân biệt hơn thua, hoặc tính toán. Trịnh
Công Sơn cũng đã diễn tả về sức
mạnh tình yêu bằng một tư tưởng
rất hay, theo ông thì “tình yêu như trái phá, con
tim mù loà”. Điều này giải thích tại
sao có những kẻ dám chết vì tình.
Vì
không thấy tình yêu, không sờ được
tình yêu, và nhất là không ai định nghĩa
được tình yêu, nên tình yêu đã tự nó
linh thiêng, cao quí lại càng trở thành huyền
hoặc và khó lòng diễn tả. Nói một cách
xác quyết là chưa có ai và cũng chẳng có
bao giờ có người nào định nghĩa
được tình yêu. Tuy vậy tình yêu vẫn
có một mẫu số chung là, không ai có thể
che dấu được tình cảm của mình
khi đang yêu và được yêu. Người
ta không thấy điện, không thấy gió nhưng
vẫn cảm được gió, biết là có
điện. Cũng thế, tuy không định
nghĩa được, không nhìn thấy tình yêu
nhưng vẫn có thể cảm được
và biết được sự có mặt của
tình yêu. Toma d’Aquinas đã đưa ra 5 hiệu
quả tất yếu của tình yêu, theo đó:
-
Khi yêu thì đòi
có mặt của nhau. Việt Nam ta có câu: “Nhất
nhật bất kiến như tam thu hề” – một
ngày không gặp mặt bằng ba năm xa cách.
-
Khi yêu ta muốn
nên giống người mình yêu. Tâm lý học cũng
xác nhận đặc tính này khi diễn tả
về tình yêu.
-
Khi yêu mong hoặc
kiếm tìm sự thiện hảo cho người
mình yêu.
-
Khi yêu người
ta muốn nên một với nhau. Ở đây câu
“hai ta tuy hai mà một, tuy một mà hai” mang ý nghĩa
này. Cũng trong hình thức trở nên một với
người mình yêu mà hành động sinh lý trong
hôn nhân mới có ý nghĩa, và như một phương
tiện chuyên chở tình yêu và trao tặng giữa
hai kẻ yêu nhau.
-
Khi yêu là hy sinh
cho người mình yêu.
Những
hành động trên là cái thước, là chiếc
hàn thử biểu của tình yêu. Tình yêu chỉ
có giá trị khi có người nào đó nhận
ra được, trân trọng, nâng nưu và bảo
vệ nó. Như vậy, cả người trao
và kẻ nhận đều hạnh phúc, đều
vui mừng vì muốn yêu và được yêu.
Nhưng
dường như trào lưu sống hiện
sinh lúc này đang có những quan niệm và lối
nhìn khác về tình yêu. Đối với tâm trạng
chung của thế hệ hiện nay, yêu đồng
nghĩa với hưởng thụ, với lãng
mạn, tình tứ, và khỏa lấp ham muốn
của xác thịt. Theo đó, yêu mà không cuồng
loạn, không hưởng thụ, không thỏa
mãn giác quan chưa phải là yêu, và tình yêu chưa
đạt mức. Quan niệm sống này có thể
coi như một sự xuống giốc thê thảm
và tụt hậu của tình yêu, vì khi con người
coi thường tình mình, coi thường thân xác
mình cũng là lúc con người tự mình đi
vào những vấn nạn không giải thích được
trong lãnh vực yêu thương. Từ đó nẩy
sinh ghen tương, ngờ vực, ngoại tình,
ly thân, và ly dị. Kết quả là không mấy
ai muốn nhìn nhận những gía trị thật
của hôn nhân, của gia đình.
Tóm
lại, ảnh hưởng của trào lưu
hưởng thụ và sự thoái hoá về luân
lý đang làm nhiều người lầm tưởng
và cho rằng tình yêu chỉ là một trò chơi
của ái tình, của hưởng thụ, và của
những mơn trớn tình cảm và giác quan. Họ
đã đánh mất đi những đặc
tính và sự cao cả của tình yêu. Và để
phục hồi giá trị của tình yêu và để
tình yêu được lên ngôi trong đời sống
của con người, chúng ta phải thực
hiện điều mà Đức Kitô đã nói:
“Không có tình yêu nào cao cả hơn kẻ thí
mạng sống mình vì bạn hũu mình”(Gio 15:13).
Thiếu hy sinh và tha thứ, thiếu nhẫn nại
và hòa giải, thiếu thông cảm và lắng nghe,
tình yêu chỉ là một món hàng rẻ tiền rao
bán đối với kẻ bán cũng như người
mua.
|
|