|
|
| |
Ðaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL |
|
Những Nhận Ðịnh của Cuộc Họp
Quốc Tế Lần Thứ Hai
của Những Chính Trị Gia và Các Nhà Lập
Pháp ở Châu Âu
Chúng tôi, từ tất cả mọi quốc
gia ở Âu Châu, đến đây để suy
nghĩ về đề tài nhân quyền và các quyền
lợi của gia đình, và chúng tôi đã trao đổi
về Bản Tuyên
Ngôn Chung về Nhân Quyền đối với
mọi vấn đề liên quan đến gia
đình, một tế bào căn bản của
xã hội, một tế bào rất cần cho xã
hội ở sứ vụ không thể thay thế
của nó, ở việc phát triển của nó,
ở những khó khăn thử thách của nó
cũng như ở những chịu đựng
của nó.
"Chúng tôi đã suy nghĩ về mối liên
hệ giữa Bản
Tuyên Ngôn Chung về Nhân Quyền Năm 1948 và
Bản Hiến Chương
về Quyền Lợi Gia Ðình được
Tòa Thánh ban hành năm 1983. Ðây là một số những
kết luận tổng kết đã được
Hội Nghị chúng tôi nhất trí chuẩn nhận,
chúng xin được chia sẻ đặc biệt
với những vị như chúng tôi làm việc
phục vụ xã hội để mưu cầu
công ích.
1.1 "Bản
Tuyên Ngôn Chung về Nhân Quyền, được
long trọng công bố ngày 10 tháng 12 năm 1948,
đã ban cho Hiệp Chủng Quốc thẩm quyền
về luân lý trong việc thi hành sứ vụ đã
được ủy nhiệm cho nó, đó là sứ
vụ hoạt động cho hòa bình, cho việc
phát triển và bảo vệ quyền lợi của
mọi người. Các Chính Quyền đã được
mời gọi để đưa những quyền
lợi này vào việc lập pháp nghiêm cẩn của
mình. Việc lập pháp này liên quan đến vấn
đề bảo vệ sự sống của
mọi người (khoản 3), vấn đề
tôn trọng quyền tự do của mọi người,
và vấn đề công nhận những quyền
lợi nồng cốt khác nhau, bao gồm cả
'quyền
kết hôn và lập gia đình' (khoản
16.1) là cơ cấu được coi như 'một đơn vị nhóm tự nhiên và căn bản
của xã hội'
và 'được xã hội và Chính Quyền
bảo vệ' (khoản 16.3). Hơn nữa,
tất cả mọi quyền lợi về xã
hội, dân sự, chính trị, kinh tế và văn
hóa được tuyên bố trong Bản
Tuyên Ngôn còn nhắm đến thiện ích của
con người, của những cơ cấu
môi giới, cũng như của toàn thể cộng
đồng nhân loại.
1.2 "Người
ta không phải chỉ được tôn trọng
như là 'những hữu thể cá nhân'
mà là như những con người được
dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, có khả
năng nhận biết sự thật và hòa hợp
việc mình làm cho đúng với sự thật,
cũng như sống thuận hòa với những
người khác trong xã hội (x. ÐTC Gioan Phaolô II, Thông Ðiệp Ðức Tin và Lý Trí, đoạn 3, 24). Bản Tuyên Ngôn Năm 1948 hợp với quan điểm
về con người này và đã cho thấy những
thành quả của mình.
1.3 "Bản
Tuyên Ngôn đã hơn một lần giúp vào việc
ngăn ngừa những xung khắc, vào việc
đối đầu với những hình thức
chuyên chế độc tài mới, vào việc
đề cao lòng trọng kính các quyền lợi
của con người, vào việc cổ võ bãi
bỏ chế độ thuộc địa đế
quốc, cũng như vào việc khích lệ phát
triển và hòa bình. Nó đã cho thấy thành quả
của mình qua những việc thực hiện
như vậy.
1.4 "Tuy
nhiên, chúng tôi, những con người nam nữ
hoạt động trong lãnh vực chính trị
và lập pháp đang tham dự buổi họp
này, muốn đồng thanh nói lên rằng, Bản
Tuyên Ngôn này thường bị bỏ qua trong
thực hành, thậm chí bị khinh thị, hay
bị bóp méo bằng những kiểu cắt nghĩa
lại những thứ quyền lợi đã
được nó công bố. Những méo mó như
vậy đặc biệt là đã làm giảm
mất giá trị của cơ cấu gia đình.
MỘT SỐ QUYỀN LỠI CỦA
GIA ÐÌNH VÀ QUYỀN SỐNG BỊ KHINH THƯỜNG
2.1 "Các quyền lợi
của con người mà tầm quan trọng phổ quát của chúng được nhấn mạnh
năm 1948 không được công nhận một
cách hoàn toàn hay được tôn trọng ở
mọi nơi, bởi chính quyền hay bởi
các cơ cấu tổ chức riêng tư. Ðây là
một số trường hợp liên quan đặc
biệt đến gia đình và sự sống
mà bất hạnh thay cũng xẩy ra ngay cả
ở Âu Châu nữa.
2.2 "Khoản
3: Quyền sống
bị chối bỏ bởi những khoản
luật cho phép - thực ra là khuyến khích - phá
thai, hủy thai, và trợ tử ở nơi một
số xứ sở.
2.3 "Khoản
12: Quyền tôn trọng
tính cách riêng tư và danh thơm tiếng tốt
của con người, qua những vận động về báo chí, những
tố giác xảo quyệt, những 'nhãn hiệu'
có tính cách kỳ thị (như 'những tên
thủ cựu', 'những người hùng
luân ly', 'những kẻ cuồng nhiệt
ủng hộ sự sống'); thái độ
cười nhạo thành phần giới trẻ
tỏ ra chống lại tính cách bi quan về dục
tính v.v.
2.4 "Khoản 16: Quyền
kết hôn và lập gia đình, qua việc hạ
giá cơ cấu hôn nhân; việc các vị chính
quyền không màng chi tới tình trạng lệch
lạc về đạo lý của xã hội (như
tính cách hỗn độn của giới trẻ,
sống chung mà không hề có ý dấn thân hay cảm
quan trách nhiệm, tình trạng phát triển về
bạo lực, ngay cả trong việc chiêu mộ
đồng tính luyến ái mà không tôn trọng kẻ
khác và những tổ chức hiện hữu),
việc thu thuế gia đình và các qui chế ác
cảm với gia đình.
2.5 "Khoản 26: Quyền
lợi của cha mẹ trong việc chọn chương
trình giáo dục được cung cấp cho con
cái họ, qua việc lạm dụng việc
dạy tính dục cho con cái họ ở nhà trường
hay nơi những chương trình chăm sóc
sức khỏe, việc ngừa thai và đôi khi
phá thai cho vị thành niên đã được
tách khỏi quyền bảo vệ của cha mẹ
họ, việc giới hạn tự do của
phụ huynh trong việc chọn chương trình
giáo dục và học đường cho con cái
hợp với những niềm xác tín của họ.
Những Nỗ Lực Làm Lệch Lạc Các Quyền
Lợi Của Con Người
3.1 "Những thứ
lệch lạc này thực sự chỉ là 'việc
cắt nghĩa lại'
Bản Tuyên Ngôn
Năm 1948, một việc cắt nghĩa làm xoay
chuyển tận gốc rễ cái ý nghĩa của
nó. Vượt qua mặt và vượt lên trên
những quyền lợi được Bản Tuyên Ngôn công nhận, tuyên xưng và công bố
là một số 'những quyền lợi nhân
bản mới' đang được đề
ra bởi những khuynh hướng văn hóa,
những điều đình, những áp lực
và những phương sách đồng thuận, theo
hoạch định của các hoạt động
liên quốc gia.
3.2 "Sau Hội Nghị
ở Cairô (1994) và ở Bắc Kinh (1995), nhiều
cơ quan Liên Hiệp Quốc, thường được
hỗ trợ bởi Hiệp Hội Âu Châu, đang
cố gắng để chiếm được
một sự đồng thuận quốc tế
về một số quyền được gọi
là 'các thứ quyền mới' này. Những
quyền mới này đặc biệt bao gồm
'vấn đề sức khỏe sinh sản'
(một phát biểu thực sự cho thấy
bao gồm cả việc phá thai), và quyền của
vị thành niên trong việc thực hiện tác
động tính dục với cả người
khác phái tính hay đồng phái tính với mình, kèm
theo việc họ được sử dụng
những dụng cụ ngừa thai.
3.3 "Những
lệch lạc này hay những lệch lạc
khác, như trợ tử, việc phát triển
đồng tính luyến ái và paedophilia, đều
được bộc phát bởi các thứ triết
lý duy lợi, ngộ thức, kể cả bởi
các thứ triết lý thực tiễn, buông thả
và khoa học (x. ÐTC Gioan Phaolô II, Thông Ðiệp
Ðức Tin và Lý Trí, đoạn 46, 88, 89, 90, 91), cũng như bởi ý hệ về 'giống
tính'. Bởi thế, vấn đề ở
đây không phải chỉ là việc thêm thắt
vào những quyền phổ quát được
công bố năm 1948 'những thứ quyền
lợi mới', mà là việc làm mất đi
ý nghĩa nơi quyền lợi của con người
cũng như việc làm đảo lộn ý nghĩa
chính yếu của chúng. 'Những tác nhân'
của chiều hướng mới này hiểu
ý nghĩa nơi quyền lợi con người
chẳng những theo quan niệm về con người
mà còn theo những chính sách được gọi
là đồng thỏa thuận nữa. Con người,
gia đình và cả Chính Quyền cần phải
được điều chỉnh theo quan niệm
'đồng thỏa thuận' này, một
việc vừa theo chiều hướng tích cực
vừa theo chiều hướng tương đối.
3.4 "Ðối với
một số người thì tình trạng lệch
lạc này cũng còn do bởi ảnh hưởng
về ý hệ của phong trào 'Thời Mới'
ngày nay, qua việc họ 'linh thánh hóa' thiên
nhiên, đặc biệt hơn nữa là 'trái
đất'. Theo quan điểm này thì con người
không được coi như là trung tâm của
lịch sử, là chủ thể của quyền
lợi và nghĩa vụ, mà chỉ là một tùy
thể ngắn hạn của thiên nhiên, cần
phải được điều chỉnh theo
'khả năng nắm giữ' của hành
tinh này.
3.5 "Ngược
lại với những chiều hướng tương
đối và buông thả này,
Bản Tuyên Ngôn Chung Năm 1948 chủ trương
lề luật tự nhiên một cách đặc
biệt, đó là chủ trương khả năng
bẩm sinh của con người là để
tìm kiếm những gì chân thật, ngay lành và thiện
hảo. Chúng tôi chấp nhận quan niệm về
con người này, và thấy nơi quan niệm
ấy có một nền tảng luân lý để
xác nhận phẩm vị cùng với các quyền
lợi của hết mọi người, kể
cả những quyền lợi của cộng
đồng nhân loại căn bản là gia đình.
Hãy Ủng Hộ và Nâng Ðỡ Gia Ðình
4.1 "Là những
chính trị gia và nhà lập pháp trung thành với
Bản Tuyên Ngôn Chung, chúng tôi nhất định dấn
thân cổ võ và bênh vực các quyền lợi của
gia đình là cơ cấu được thành
hình bởi hôn nhân giữa một người
nam và một người nữ. Ðiều này cần
phải thực hiện ở tất cả mọi
cấp độ: địa phương, miền
vùng, quốc gia cũng như quốc tế. Chỉ
có thế chúng ta mới có thể thực sự
là những người tôi tớ phục vụ
cho công ích, cả ở cấp độ quốc
gia cũng như quốc tế. Chúng tôi muốn
chú trọng đến ở đây những điều
chúng tôi tin là thuộc về số những vấn
đề khẩn trương đối với
các chính trị gia và các nhà lập pháp của ngày
hôm nay đây.
4.2 "Theo
Bản Tuyên Ngôn Chung,
luật pháp của Âu Châu đã nhìn nhận hôn
nhân là một cơ cấu tự nhiên được
đi liền với những ràng buộc về
luật pháp. Hôn nhân làm nên gia đình, vì nó thiết
lập một mối hiệp nhất vững
chắc trong việc hiến thân cho nhau giữa
một người nam và một người nữ,
hướng về một tình yêu hỗ tương,
về việc truyền sinh và dưỡng dục
con cái. Ðó là cơ cấu hôn nhân xã hội cần
phải được bênh vực như là một
giá trị chi phối cả tương lai của
xã hội. Việc thừa nhận những kiểu
hiệp nhất khác là 'hôn nhân', như một
số người hiện nay cho rằng như
thế mới không tỏ ra kỳ thị, hay
ban cho những cuộc hiệp nhất này các quyền
lợi hay thuận lợi tương đương
trong xã hội như ban cho những người
thành hôn chính đáng, sẽ làm bại hoại cơ
cấu hôn nhân cùng với đời sống gia
đình.
4.3 "Giáo Hội
nhìn nhận rằng, Giáo Hội đang bênh vực
xã hội và thiện ích thực sự của
con người bằng việc ủng hộ,
cổ võ và bênh vực cơ cấu tự nhiên
của hôn nhân được Chúa Kitô nâng lên phẩm
vị của một bí tích Tân Luật.
4.4 "Gia đình
có 'trước' Chính Quyền và cần thiết
hơn chính quyền, như Arsitote nói (Nicomachean Ethics,
III, 12, 18). Gia đình 'trước
hết... muốn căn tính của mình được
nhìn nhận và muốn vị trí là chủ thể
của nó trong xã hội phải được
chấp nhận',
nó là 'một chủ thể hơn
bất cứ một cơ cấu tổ chức
xã hội nào khác',
như Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhấn mạnh
trong Bức Thư gửi Các Gia Ðình, Gratissimam sane (các đoạn 15 và 17).
Ðiều này có nghĩa là phải tôn trọng quyền
tự quyết và ngay cả 'chủ quyền'
của gia đình.
4.5 "Những
mối liên hệ giữa gia đình và xã hội
phải được dựa vào việc tôn trọng
nguyên tắc phụ thuộc. Thật vậy,
gia đình là nguồn mạch tự nhiên cho việc
giáo dục và phát triển nhân bản. Gia đình
là một cơ cấu có khả năng đào
luyện con người trọn vẹn và làm cho
họ phát triển về nhân tính. Hơn nữa,
gia đình còn cung cấp việc chăm sóc và tình
trạng an toàn cho những phần tử yếu
hèn nhất trong xã hội, như trẻ em, người
già, người tật nguyền và người
yếu bệnh kinh niên. Gia đình bảo vệ
những ai bị tổn thương nhất
vì cuộc sống bơ vơ lạc lõng ngoài
lề xã hội.
4.6 "Pháp luật
và qui chế của xã hội cần phải bảo
vệ vai trò của các người mẹ. Nữ giới
phải được tự do trong phận sự
làm mẹ và không bị áp lực kinh tế hay
xã hội bó buộc phải làm việc ở ngoài
nhà. Làm việc ở nhà cũng phải được
công nhận như là một hoạt động
kinh tế thực sự và thiết yếu góp
phần vào các phúc lợi. Chúng tôi hoan hô những
chính trị gia và các nhà lập pháp Âu Châu đã
tranh đấu để cổ võ quyền lợi
cho vai trò làm mẹ, bằng những luật pháp
chính đáng cũng như bằng qui chế xã
hội tốt lành. Chúng tôi kêu gọi tất cả
đồng nghiệp của chúng tôi hãy cùng nhau
cứu xét những gì có thể thực hiện
để tạo điều kiện cho nữ
giới thi hành công việc đào luyện thế
hệ tương lai không thể châm chước
của họ, mà không ngăn trở việc họ
tham dự một cách bình đẳng vào sinh hoạt
xã hội, trong công xưởng hay trên chính trường.
4.7 "Những
sự kiện cho thấy việc
khủng hoảng về dân số đang tác
dụng trên Âu Châu ngày nay. Mức độ thụ
thai thấp hơn mức độ bù trừ
ở nhiều xứ sở khác nhau, đang làm
giới già tăng lên nhanh chóng, sẽ gây ra những
nạn xã hội và kinh tế trong tương
lai. Nếu trẻ em là kho tàng của các quốc
gia thì Âu Châu ngày nay đang bị nghèo nàn hết
cỡ! Cần phải tăng thêm lòng tin tưởng
vào tương lai và việc đầu tư vào
các thế hệ mai sau phải được
thế chỗ cho việc tìm kiếm vị kỷ,
tìm kiếm những lợi lộc ngắn hạn.
Gia đình là một yếu tố quan trọng
nhất cho việc phát triển sau này, vì nó là một
cộng đồng, nơi sản xuất ra vốn
liếng nhân bản về tất cả mọi
chiều kích của nó. Cần phải tu chính luật
pháp nào không hỗ trợ hôn nhân và việc sinh
sản hữu trách qua việc hỗ trợ nuôi
con tại gia. Cần phải thay đổi luật
thu thuế không thuận lợi cho các đôi vợ
chồng có con cái.
4.8 Chúng tôi hoan hô tất
cả mọi người nam nữ mang trách nhiệm
chính trị và những nhà lập pháp ở Âu Châu,
thành phần dấn thân cho việc loan truyền
và bênh vực sự sống, rất thường
thấy xẩy ra trong những cuộc khủng
hoảng về ý niệm và trong tình trạng bị
mất đi các giá trị. Họ cố gắng
hoạt động để bảo vệ những
quyền bẩm sinh của thành phần hèn kém
nhất trong xã hội, như thai nhi, người
già và người tật nguyền. Cần phải
đặc biệt chú trọng tới vấn
đề bảo vệ bào thai khỏi những
cuộc thử nghiệm và lạm dụng. Chúng
tôi lập lại việc chúng tôi quyết tâm bênh
vực quyền sống
căn bản được
Bản Tuyên Ngôn Chung xác nhận ở khoản
3.
4.9 "Chúng
tôi kêu gọi các chính trị gia và các nhà lập
pháp đồng nghiệp của chúng tôi hãy nhìn
nhận vai trò sư
phạm của luật pháp liên quan đến
việc nó ảnh hưởng đến đời
sống gia đình. Các thứ luật pháp làm suy
yếu gia đình gây nên một ý hệ hoang mang
và lầm lẫn về vai trò của nó. Những
qui chế về xã hội và kinh tế kỳ
thị gia đình làm phát sinh ra tình trạng đâm
ra coi thường quyền lợi và an sinh của
gia đình. Luật pháp thiên về phá thai và ly dị
đưa đến tình trạng càng ngày càng khinh
bỉ sự sống con người và những
mối liên hệ bền vững của gia đình.
4.10 "Chúng
tôi kêu gọi các chính trị gia và các nhà lập
pháp đồng nghiệp của chúng tôi hãy nhìn
nhận và cổ võ
vai trò giáo dục không thể thay thế được
của gia đình trong việc đào luyện
những người công dân mai hậu cho một
xã hội dân chủ thực sự. Thật vậy, chính ở
trong gia đình mà người ta trước hết
biết phục vụ cho công ích. Gia đình có
thể được diễn tả như là
một học đường về văn minh,
tự do, đoàn kết và yêu thương.
4.11 Nhiều
tham dự viên của Hội Nghị của chúng
tôi thi hành công việc của mình trong những
quốc gia ở Ðông Âu, nơi mà người ta
mang một ấn tượng là những xứ
sở này không thể hoàn toàn trở nên những
phần tử của Hiệp Hội Châu Âu, trừ
phi họ chấp nhận một số chương
trình về luân lý mờ ám. Phương tiện
truyền thông xã hội cho thấy rõ ấn tượng
này. Các Kitô hữu và những người thiện
chí khác tỏ ra chống lại những mục
tiêu này đều bị cho là chống lại
việc gia nhập Khối Âu Châu. Nhân danh phẩm
vị, chủ quyền và lòng trung thành với
lý tưởng dân chủ của mình, các quốc
gia này có quyền cùng với trách nhiệm nắm
giữ và bênh vực văn hóa sự sống,
cũng như bảo vệ gia đình cùng với
quyền lợi của gia đình nơi 'ngôi
nhà chung của Âu Châu' sau này.
4.12 "Ðức
Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong dịp mừng 20 năm
giữ vai trò Thừa Kế Thánh Phêrô, đã mãnh
liệt và rõ ràng thúc đẩy hoạt động
cho lợi ích của gia đình và sự sống,
như là một người bênh vực Chân Lý
và là một người mang đến niềm
hy vọng. Buổi triều yết Ngài dành cho
chúng tôi và những lời Ngài ngỏ với chúng
tôi làm cho chúng tôi hết sức phấn khởi.
4.13 "Chúng
tôi kêu gọi tất cả mọi vị đồng
nghiệp của chúng tôi hãy tổ chức những
cuộc họp để suy nghĩ và trao đổi
tương tự như cuộc họp này. Chúng
tôi muốn tham dự vào những khởi xướng
ấy nơi các quốc gia xứ sở khác nhau.
Chúng tôi xác tín rằng, tất cả mọi nỗ
lực kiên trì để bênh vực các quyền
lợi của con người cũng như các
quyền lợi của gia đình sẽ là một
mầm mống hy vọng cho tương lai của
các đất nước chúng ta và của toàn
khối Âu Châu. Bất chấp những thách đố
hiện thời đối với các quyền
lợi của con người và của gia đình,
chúng tôi vẫn hy vọng hướng tới một
Âu Châu, nơi gia đình có thể thăng hoa cũng
là nơi sự sống con người được
đón nhận và yêu thương".
(tuần
san L' O sservatore Romano, ấn bản Anh ngữ,
ngày 20/1/1999)
|
|