|
|
Tỏ
lòng cảm ơn
Tình-yêu-kim-tự-tháp ngút
ngàn yêu,
Là biết ngỏ lòng cảm ơn sớm chiều.
Cảm ơn cho Tình Sao Băng mãi mãi,
Bằng Lời Nói, Việc Làm cảm ơn nhiều.
- Anh
Chung à, sao tay em cứ sần sùi thêm hoài; sáng nay
em lại thấy lấm tấm đỏ cả
trên bắp chân nữa! Ở Việt Nam thì đói
khổ sợ sệt, trốn được
sang đến Thái Lan này thì ghẻ lở như…
cùi ấy. Anh còn thương em nữa không, nếu
chẳng may…
Chung bịt
miệng Thủy lại, không cho vợ nói hết
lời, vì chàng biết Thủy còn căng thẳng
thần kinh. Những ghê sợ của cuộc
vượt biên còn ám ảnh nàng, chẳng khác nào
những tên hải tặc ma quái còn đang vung
lưỡi dao sáng quắc, đòi phanh thây em bé,
nếu bà mẹ không moi “cây” cuối cùng bà giấu
ở nơi bí hiểm ra để trao cho chúng.
Tuy Chung trấn an Thủy, nhưng càng sống
lâu trong trại tị nạn, chàng càng tăng
thêm hoài nghi. Sau mấy tháng, chính chàng cũng bị
sần sùi! Tuy nhiều người bị như
vậy, nhưng Chung và Thủy bị khác lạ
hơn. Cái đau khổ ngấm ngầm cứ
tăng lên khi họ nghĩ tại ngày còn bé họ
chung sống ở Nha Trang, gần Tuy Hoà, và nhiều
lần vào chơi trong trại cùi ở đó,
cũng đạ chạy chơi quanh mộ nhà
thơ Hàn Mặc Tử, chết vì bệnh cùi.
Có lẽ Chung đã mắc… cùi, rồi truyền
cái nọc độc đó sang Thủy, và nay vì
cực khổ tại trại tị nạn, nên
bệnh mới phát ra?
Giữa
lúc hoang mang đó, Chung và Thủy gặp bác sĩ
Ven đến trại. Tên thật của ông là
gì, ít người tị nạn đọc đúng.
Sau này, dầu biết rõ ràng, Chung và Thủy vốn
gọi ông là Ven, vì tên này gợi trong lòng đôi
vợ chồng những kỷ niệm cảm
động. Ông Ven nói bập bẹ được
mấy tiếng Việt. Lần nào hai người
tới phòng y tế, ông cũng niềm nở:
- Chao
ông bà Chung; ông bà có mạnh khoẻ không?
Khi Thủy
nức nở khóc, thì ông Ven ôm chặt đầu
nàng vào ngực mình và xiết tay Chung thật mạnh,
mắt nhìn thẳng hết vào chồng rồi
lại vợ. Ông Ven chữa bệnh không nguyên
bằng thuốc mà còn bằng hy sinh thời giờ,
tận tâm săn sóc, và bằng tình thương
thông cảm nồng nhiệt nữa.
Sau nửa
năm chữa bệnh cho người di cư,
trong số hàng ngàn bệnh nhân đến với
ông, ông thấy có mười trường hợp
khẩn cấp, và can thiệp với Hoa Thịnh
Đốn, nên những bệnh nhân này và gia đình
được nhập Hoa Kỳ sớm. Vì cùng
cảnh ngộ, nên mười gia đình trở
thành gần gũi nhau, và đồng lòng với
nhau rằng, khi nào đến Hoa Kỳ, sẽ
mãi mãi nhớ ơn ông Ven. Trong năm đầu,
được gia đình Chung và Thủy nhắc
nhở, thì còn biên thiệp CÁM ƠN. Sang năm
thứ hai, còn vài gia đình tiếp tục. Nay
chỉ còn gia đình anh chị CHUNG THỦY nhớ
tới và thật tình cảm ơn ông. Chung, Thủy
lại chưa phải là người Công Giáo.
Lòng CẢM ƠN sáng ngời
Chung Thủy,
Nêu cao mãi liêm xỉ Rồng Tiên.
Quên ơn: xã hội đảo điên,
Nhớ ơn Kiên nhẫn: nên duyên lâu bền.
Khi được
người lạ mặt nhặt giúp cái bút rơi
ở bãi đậu xe thì Hoàng cảm ơn rối
rít. Nhưng sáng nào Hoàng cũng được
Lan pha cà phê, và chiều nào nàng cũng nấu cơm
sẵn đợi chàng, thì chàng lại chỉ
chê bai. Cái hạnh phúc của Lan là mong Hoàng đừng
bĩu môi chê canh mặn, cơm nhão, chứ còn
mơ gì chàng ngỏ lời cảm ơn. Chẳng
bù cho lúc trước, khi Hoàng còn lẽo đẽo
tán Lan trước cửa trường Gia Long,
mỗi chiều tan học!
Anh chị
Tâm và Thanh có bốn cháu. Cháu lớn 10 tuổi tên
Tân và em tên Thành. Mỗi lần chị Thanh trao
cho con quả chuối hay cái quần, cái áo, Tân
và Thành thường “giật” lấy từ tay
mẹ, mặt nhăn nhăn nhở nhở, làm
chị Thanh giận con đến toát mồ hôi:
- Con cái nhà ai hư vậy? Không biết mở
miệng CẢM ƠN à?
Thành cười
toe toét, miệng đầy chuối:
- Thánh khìu,
Moom.
Chừng
nửa tiếng sau, chị Thanh cần thái thịt,
nhưng con dao lại bỏ ở nhà xe, nên chị
gọi:
- Có đứa
nào dưới đó không? Cầm cho mẹ con
dao lên đây.
Bốn
anh em Tân nhanh nhẹn cầm dao lên cho mẹ. Thành
trao cho chị, mắt nhìn chăm chăm. Chị
thản nhiên:
- Cút xuống
dưới đó mà chơi, cho khỏi quẩn
chân!
Thành thắc
mắc với Tâm:
- Moom bắt
tụi mình “thánh khìu” moom, mà moom chẳng “thánh khìu”
lại tụi mình!
Những
mẩu chuyện tương tự như trên
xảy ra luôn trong đời sống hàng ngày, chứng
tỏ ai cũng quí mến người biết
ơn và tỏ lòng cảm ơn bằng lời
nói hay việc làm. Nhưng thực tế, nhiều
lần chúng ta muốn chối bỏ việc chịu
ơn; hay có nhận, thì lại ngại ngùng không
muốn tỏ bày. Tại sao vậy? Và không tỏ
bày lòng biết ơn ra, thì ai là người thiệt
thòi hơn?
Ngại
tỏ bày cảm ơn có nguyên nhân ở tính kiêu
ngạo, ích kỷ, và lười biếng.
Vì Lười
Biếng, nên tôi ngại nhấc điện thoại,
hay ngại biên thư cảm ơn người
bạn gửi cho tôi lọ nước hoa nhân
ngày sinh nhật của tôi. Nhưng tôi “chúa ghét”
những đôi tân hôn được tôi đến
tặng quà không gửi cho tôi “Thank you card”! Hậu
quả của việc lười biếng này,
là sinh nhật năm sau, tôi mất một người
bạn vì người này thấy có gửi cho
tôi cũng vô ích. Từ lười biếng đưa
đến vô tâm. Chính cái Vô Tâm này làm chúng ta không
để ý đến người khác. Thiếu
tế nhị và thiếu tinh thần giáo dục,
nhất là trong gia đình, thường phát sinh
từ sự vô tâm. Chị Thanh muốn các
con CÁM ƠN chị, nhưng chị lại lười
biếng và vô tâm, không làm gương cho anh em Tân,
Thành, thì làm sao chúng biết cảm ơn chị
được? Nhiều lần anh chị Tâm
Thanh mắc cở “muốn chết” được
vì có ai vào nhà chơi, cho cái gì, bố mẹ chưa
kịp cám ơn thì đàn con đã vồ lấy,
rồi trố mắt nhìn khách, như nhìn con vượn
dài đuôi trong sở thú vậy!
Nguyên nhân
tiếp liền làm ngại tỏ bày Cảm Ơn,
hay không Cảm Ơn, là tính Ích Kỷ. Vì ích kỷ
nên tôi chỉ nghĩ đến tôi, đến
điều tôi đang muốn. Các cảnh vật
hay các người khác không phải là mục tiêu
cho tôi chú tâm đến. Tất cả chỉ là
phương tiện tôi dùng để đạt
điều tôi theo đuổi. Hễ đạt
được rồi, là tôi liệng những
phương tiện đã dùng đi, chẳng
khác nào tôi liệng lại sau lưng chiếc ghe
đã giúp tôi vượt biên. Mục đích tôi
gần bà Nhân, là vì tôi muốn nhờ bà gửi
vàng về Việt Nam cho chồng con tôi. Khi xưa
tôi cần bà, nên tôi đi lại gần bà, CÁM
ƠN bà rối rít. Nay chồng con tôi đã đoàn
tụ, bà biến thành “dụng cụ” lỗi
thời, cần liệng đằng sau lưng
như liệng chiếc ghe đã chở chồng
con tôi vậy.
Lòng ích kỷ
còn sợ cảm ơn, vì cảm ơn thường
kèm theo chút khó nhọc và chút tiền bạc để
mua tặng vật tượng trưng. Nó đưa
đến nhẫn tâm cắt đứt, hay đạp
đổ những liên lạc mật thiết
trong quá khứ. Khi còn ở bên đảo, chị
Sáu một tuần viết hai lá thư cho ông Ba
ở bên Mỹ, vì chị Sáu cần ông Ba gửi
cho ít đô la và cần ông liên lạc về Việt
Nam. Mười mấy tháng ở trại tị
nạn, chị gửi cho ông trên dưới 90
lá thư. Thư nào chị cũng hứa “Xin
chú Ba hết lòng thương con. Khi sang đến
Mỹ, con sẽ ở bên chú Ba suốt đời
để nấu cơm rót nước cho chú Ba.
Ơn của chú Ba, dầu con có trả đến
mãn đời cũng chưa xứng.” Ông Ba
giữ tất cả những thư đó trong
cái hộp “bích quy” lớn. Khi chị Sáu nhập
cảnh được gần một năm thì
ông Ba đưa cho chị Sáu coi gần trăm
lá thư đó. Nhưng ít lâu sau, lựa lúc ông
đi vắng, chị xé các thư, vứt vào thùng
rác. Chưa thỏa dạ, chị bới hết
các mảnh thư ra ngoài, rồi châm lửa đốt.
Vì đốt trong “garage”, nên lửa bén vào thùng
xăng. Xăng nổ bung, tưới ướt
đẩm chị Sáu, và chị biến thành cột
lửa cháy bùng bùng chạy ra ngoài. Nhờ láng giềng
vừa tốt, vừa có mặt ở nhà, đem
chăn mền ra dập lửa cho chị, nên
tuy bị phỏng nặng, nhưng chị còn
sống để TẠ TỘI với Chúa, với
ông Ba, và ngỏ lời CẢM ƠN lối xóm
đã cứu sống mình.
Nguyên nhân
nữa làm ngại cảm ơn hay không cảm
ơn, là tính Kiêu Ngạo. Nói đến cảm
ơn là ngầm hiểu chịu ơn. Mà chịu
ơn người khác là vì tôi đã thua người,
hay ít ra cần đến người. Tôi muốn
ếm nhẹm chuyện chịu ơn lúc trước
đi, bằng cách tảng lờ không cảm ơn,
vì càng cảm ơn, tức là càng nhớ ơn,
càng nhớ lại những lúc bất lực trong
đời. Quang và Tuấn cùng ở một nhà
với ông bà Hoa khi còn ở Việt Nam. Hai người
được ông bà thương như con, nên
giúp đỡ mọi mặt. Cách đây mấy
năm khi dùng ít vàng còn giấu được
để “đi chui” thì ông bà Hoa cũng lo cho Quang
và Tuấn cùng đi. Sang đến Mỹ chưa
được bao lâu, thì Quang bỏ ông bà Hoa, ra
ở riêng. Sau này, Tuấn gặp Quang, hỏi
tại sao bỏ đi “lãng xẹt” như vậy,
Quang nhún vai trả lời:
- Cần
gì ơn với nghĩa. Số tao đi được,
chứ đâu cứ phải nhờ ông bà Hoa!
Tuấn
tròn xoe mắt:
- Mày nói
chi lạ? Không có “sáu cây” của ông bà ấy, thì
hai đứa mình lấy gì nộp cho công an ở
cửa Cần Giờ?
Quang tự
đắc:
- Tao đã
bảo đó là “cái số” mà! “Số” tao là số
đào hoa, nên chẳng có ông bà Hoa này thì có ông bà
Hoa khác, có khi còn ngon hơn ông bà Hoa của mày nữa.
Sang đến Mỹ này, chẳng ai thua ai. Tao
sẽ thành công “ngon hơn” ông bà Hoa khi còn ở
Việt Nam trước đây.
Nếu
cha ông đã dạy:
Thức lâu mới biết
đêm dài,
Ở lâu mới biết lòng người có nhân;
Và:
Sông sâu còn có kẻ dò,
Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng;
Từ đó
đổi thành lời:
Thức lâu mới biết
đêm dài,
CẢM ƠN là của những ai nhân hiền.
Sông
sâu chứa nước thần tiên,
Rửa tan nham hiểm nên duyên ngàn đời.
CẢM
ƠN khi bạn bè chia nhau điếu thuốc
lá;
CẢM ƠN khi con nhỏ lượm cái khăn
rớt trên nền nhà;
CẢM ƠN khi chồng lấy giúp vợ lọ
kem thoa mặt từ phòng ngủ sang phòng tắm;
CẢM ƠN khi vợ trao cho chồng ly cà phê
ban sáng.
CẢM ƠN cách chân thành nói lên sự tế nhị
và có giáo dục của một người đàng
hoàng.
CẢM ƠN được nhắc đi nhắc
lại trong Thánh Kinh Cựu Ước lẫn
Tân Ước;
CẢM ƠN hay KHÔNG CẢM ƠN đã làm cuốn
Mắt Tím của Lệ Hằng thập hợp
thời tại Hoa Kỳ này. Phải chăng nhiều
cặp vợ chồng ly dị, nhiều gia đình
tan vỡ, vì không biết TẾ NHỊ và CHÂN THÀNH
CẢM ƠN lẫn nhau? Trang 508 và 509 Lệ Hằng
viết:
“Từ nay hết tranh
dành hết giận ghét nhau. Chồng của chúng
ta đã nằm xuống rồi. Thượng
Đế chí thông, Thượng Đế thông
minh tuyệt vời. Từ nay thôi hết dành dựt
nhau cái thân xác đáng yêu của Thụy. Từ
nay thôi hết rồi ghen ghét nhau. Thụy chết
rồi, Thụy nằm im trong đó rồi...
Chồng mình chết rồi. Không có cái chết
nào làm mình đau đớn hơn nữa. Tôi tiếc
đêm cuối cùng được yêu, tôi đã
lạnh lùng quay đi không cảm ơn. Ai ngờ
đó là đêm cuối cùng. Suốt đời
tôi đã không KÍNH
CẨN CẢM ƠN CHỒNG tôi như mọi
khi.”
CẢM
ƠN chân thành về những việc nhỏ nhặt
xảy ra cả trăm lần mỗi ngày, cũng
như CẢM ƠN về những việc trọng
đại xảy ra không quá một lần trong
cả đời người.
Phải
chăng Chúa là Tình Thương vì Chúa luôn CẢM
ƠN?
Câu chuyện
mở đề cho bài chia sẻ này, là phỏng
theo câu chuyện xảy ra lúc Chúa Giêsu còn sống,
khi Chúa chữa mười người phong cùi,
mà chỉ có một người biết trở
lại CẢM ƠN Chúa (Lk 17:11-19). Việc CẢM
ƠN Chúa, CHÚC TỤNG Chúa là thành phần quan trọng
trong Thánh Kinh đến nỗi trong 150 Thánh Vịnh,
thì tới 70 có thể mang cùng một tên, là Thánh
Vịnh TẠ ƠN và CA NGỢI:
Cảm tạ ơn Người,
lạy Chúa Gia-vê,
Miệng kể kỳ công với lòng say mê.
Đàn ca vui sướng tung hô hết thảy,
Chúc tụng Danh Chúa cho trọn tim thề.
(Theo TV 9:1-3)
Chúa Giêsu
giữa lúc biệt ly để đi vào cái chết
thương đau, còn dâng lời CẢM TẠ
nồng nàn tha thiết: “Lúc đang ăn, Đức
Chúa Giêsu cầm lấy bánh và CHÚC TỤNG,
rồi bẻ ra và trao cho các môn đệ. Người
nói: `Hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Ta’. Đoạn
cầm lấy chén và TẠ ƠN, rồi
ban cho họ mà rằng: `Hết thảy hãy uống
đi, vì này là Máu Ta...’” (Mt 26:26-28).
Trong Thông
Điệu Tình Yêu Nhân Hậu gởi các Hồn
Nhỏ, khi Margarita ngỏ lòng dâng tình yêu của
bà để an ủi Chúa, thì Chúa Giêsu đáp lại:
- Cha CẢM
ƠN con (ngày 21.7.1966).
Và ngày 28.8.1966,
khi Margarita đến nhà thờ để viếng
Chúa trong Nhà Tạm, Chúa ân cần với bà:
- CẢM
ƠN con đến thăm viếng Cha, hỡi
con yêu dấu.
Thường
khi ta nghĩ đến cầu nguyện là nghĩ
đến XIN ƠN này ơn nọ; nhưng chúng
ta có nghĩ đến CẢM ƠN là lời
cầu nguyện tuyệt vời hay không?
Và việc
CẢM ƠN Chúa cần đi đôi với việc
CẢM ƠN người. Lời CẢM ƠN
CHÂN THÀNH có tươi nở trên môi chúng ta hàng ngày
hay không?
|
|