|
88. Món Quà Quí Giá
Có
người kia được tặng một món quà rất quí giá, đi đâu ông cũng mang
nó theo trong mình luôn. Món quà quí giá ấy chỉ là một miếng gỗ
nhỏ đốt cháy luôn, nhưng không bao giờ tàn lụi. Nhờ miếng gỗ quí
đó, với thời gian ông đã làm nên một sự nghiệp lớn, nhà cao cửa
rộng, súc vật đầy đủ, ruộng vườn mênh mông, hoa mầu đầy kho lẫm.
Thế
rồi một trận lụt xảy đến, chỉ trong nháy mắt tất cả cơ nghiệp
của ông sau bao năm trời xây dựng đã bị nước cuốn trôi đi mất,
nhưng may mắn là ông còn sống sót và miếng gỗ vẫn còn trong tay
và vẫn còn đốt cháy mãi mà không tắt. Sau nạn lụt với cố gắng
và chẳng bao lâu ông lại làm nên một cơ nghiệp khác nữa.
Vào
một buổi tối nọ, một cuộc hỏa hoạn xảy ra, mọi sự nghiệp của ông
trong chốc lát đã trở thành đống tro tàn. Một lần nữa ông được
may mắn thoát chết và trong tay vẫn còn giữ được miếng gỗ tiếp
tục cháy không tàn lụi. Những năm sau đó sinh lực ông mỗi ngày
một thêm suy giảm, ngày gần đất xa trời đã đến bên cạnh giường
bệnh. Trước khi tắt thở lìa đời, ông trao lại miếng gỗ đó cho
người con trưởng như một của gia bảo đã giúp ông thành công trong
cả cuộc đời. Ðến cuối đời, người trưởng tử cũng lại trao tặng
miếng gỗ ấy cho cháu đích tôn. Cứ như thế miếng gỗ truyền tay
từ đời này sang đời khác mà miếng gỗ vẫn đốt cháy không bao giờ
tắt.
Bạn
có biết miếng gỗ cháy không bao giờ tàn lụi đó là gì không? Miếng
gỗ đó tượng trưng cho lý tưởng trong đời sống con người. Thật
vậy, ai đã tìm được lý tưởng cao đẹp trong đời sống mình, cũng
sẽ tìm được nghị lực đối phó với mọi khó khăn thử thách và khám
phá ra bí quyết thành công trong cuộc sống.
Có
thể nói được rằng trong đời sống người tín hữu, miếng củi cháy
mà không bao giờ tàn ấy, đó là tình yêu Thiên Chúa đã được nhóm
lên trong mỗi người ngay từ khi được tạo dựng. Nó lá lý tưởng
sống giúp chúng ta luôn tiến bước, bất chấp mọi khó khăn trong
cuộc sống và trong cuộc hành trình trần gian. Miếng gỗ đó cần
được đốt sáng luôn trong niềm tin và trong việc làm hằng ngày,
nó phải cháy sáng luôn từ thế hệ này sang thế hệ khác, miếng gỗ
luôn cháy sáng mà không bao giờ tàn lụi.
Tiếp
tục giữ cho miếng gỗ đó luôn luôn cháy sáng là ai? Ai có thể giúp
chúng ta thực hiện được những khó khăn ấy? Lần mở Phúc Âm chúng
ta có thể thấy ngay rằng, những lời nói đầu tiên của Chúa Giêsu
mạc khải về Thiên Chúa Cha. Thánh Luca ghi lại lời đầu tiên đó
sau lần Chúa Giêsu bị thất lạc năm lên mười hai tuổi, trong dịp
Ngài lên đền thờ Jerusalem dự lễ vượt qua theo thói quen của người
Do Thái: "Sau ba ngày thất lạc, cha mẹ Ngài mới tìm thấy
Ngài trong đền thờ đang ngồi giữa các thầy luật sĩ. Mọi người
nghe đều ngạc nhiên về những điều Ngài hỏi và trả lời, về trí
thông minh và các lời đối đáp của Ngài. Thấy Ngài, ông bà thất
kinh, và mẹ Ngài nói cùng Ngài: Này con, tại sao con làm thế?
Này cha con và mẹ phải đau khổ tìm con. Nhưng Ngài đáp lại: Thì
sao lại tìm con? Lại còn không biết là con phải ở nơi nhà Cha
con sao? Nhưng ông bà đã không hiểu lời Ngài nói với họ. Và Ngài
đã theo ông bà trở về Nazareth. Và Ngài hằng tùng phục hai ông
bà. Còn Mẹ Ngài thì giữ kỹ những điều ấy và suy niệm trong lòng.
Ðức Giêsu cứ tấn tới thêm về khôn ngoan, vóc dáng và ân sủng trước
mặt Thiên Chúa và trước mặt người ta" (Lc 2,46-52).
Vậy
thì Cha thật của Chúa Giêsu là ai? Và công việc của Cha Ngài là
gì? Qua câu trả lời này con trẻ Giêsu muốn tỏ lộ cho thánh Giuse
cha nuôi của Ngài và cho bà Maria thân mẫu của Ngài thấy rằng:
"Ngài chỉ có một Cha duy nhất là Thiên Chúa Cha ở trên trời
và sứ mệnh của Ngài trên trần gian này không gì khác hơn là lo
việc của Cha đã trao phó cho Ngài, tức là làm chứng cho tình yêu
của Thiên Chúa Cha và chương trình cứu độ mầu nhiệm của Thiên
Chúa Cha".
Thật
vậy trong suốt cuộc đời của Chúa Giêsu, Ngài đã chu toàn sứ mệnh
đó bằng lời giảng dạy qua các phép lạ lớn lao, Ngài đã thực hiện
trong nhiều hoàn cảnh và cho nhiều người, cuối cùng là bằng chính
cái chết khổ nhục và cuộc Phục Sinh khải hoàn của Ngài.
Sau
khi chữa lành người đau ốm ba mươi tám năm tại hồ nước Betsaida,
Chúa Giêsu tuyên bố rằng: Ngài thực sự được Thiên Chúa Cha sai
đến trên trần gian và ước muốn duy nhất của Ngài là thi hành trọn
vẹn thánh ý Cha. Ngài nói: "Phần Tôi, Tôi có lời chứng lớn
hơn của Gioan, đó là việc Cha trao phó để Tôi hoàn thành, chính
những việc Tôi làm đó làm chứng cho Tôi rằng Chúa Cha đã sai Tôi"
(Jn 5,36).
Cách
thực tế hơn, công việc của Chúa Cha tức là sứ mệnh Tông Ðồ của
Chúa Giêsu, nghĩa là làm cho mọi người trở nên con cái Chúa nhờ
tình yêu Chúa Thánh Thần. Cũng chính vì lý do đó mà khi đến thời
giờ đã định, Thiên Chúa Cha đã sai Con Một Ngài đến trần gian
mặc lấy thân xác loài người như chúng ta, để chúng ta trở nên
những người con và có thể kêu lên với Chúa rằng "Abba: Lạy
Cha", và để dạy chúng ta cách sống thực sự như những người
con của Thiên Chúa Cha, những người thừa kế với Chúa Giêsu trong
nhà của Cha trên trời.
Ðây
là chân lý cao cả mà Chúa Giêsu muốn tỏ lộ cho chúng ta về Thiên
Chúa Cha. Ngài là Cha của Chúa Giêsu, và Chúa Thánh Thần là tình
yêu liên kết giữa Chúa Cha với Chúa Giêsu, là gói ghém mầu nhiệm
về Con Thiên Chúa là Ðức Giêsu Kitô hiện hữu trên trần gian mặc
lấy thân xác con người như chúng ta, sống như chúng ta, nói ngôn
ngữ của con người để con người có thể hiểu được về Thiên Chúa
Cha.
Trước
khi Chúa Giêsu mặc lấy thân xác con người đến trần gian, Thiên
Chúa Cha đã muốn tỏ lộ về Ngài cho những người xa xưa bằng nhiều
cách, chẳng hạn qua miệng ngôn sứ, những hình ảnh, những dấu hiệu...
Nhưng các ngôn sứ cũng chỉ là con người hạn hẹp không thể hiểu
hết những mầu nhiệm bí ẩn về Thiên Chúa được. Vì thế, sau cùng
Thiên Chúa Cha muốn phán dạy loài người qua chính Thánh Tử của
Ngài là Con Thiên Chúa. Vì là Con Thiên Chúa, Ngài có thể thấu
tỏ mọi bí ẩn của Thiên Chúa Cha, đồng thời là con người nên Ngài
dùng ngôn ngữ con người để nói với loài người. Chỉ nơi Chúa Giêsu
mới có sự mạc khải hoàn toàn sáng tỏ về Thiên Chúa Cha. Chỉ qua
Chúa Kitô con người mới có thể tìm được sự hiệp thông và nhịp
cầu thông cảm với Thiên Chúa Cha mà thôi.
Sở
dĩ được như vậy là bởi vì Chúa Giêsu chính là Ngôi Lời, tức là
tiếng nói của Thiên Chúa Cha, Ngài là tấm gương soi, là hình ảnh
của Thiên Chúa Cha như Ngài đã quả quyết với Tông Ðồ Tôma: "Thầy
là đường là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà
không qua Thầy, ngay bây giờ anh em biết và đã thấy Người"
(Jn 14,6-7).
Vì
thế, ai thấy Chúa Giêsu tức là nhìn thấy Thiên Chúa Cha là Ðấng
đã sai Ngài đến trần gian vậy. Cũng vì biết mình là Con Thiên
Chúa và bởi Cha mà đến, nên với tình nghĩa tử, Chúa Giêsu có thể
sung sướng nói lên rằng: "Cha Tôi đã trao phó mọi sự cho
Tôi và không ai biết Cha trừ có Tôi và không ai biết Con trừ Chúa
Cha và những kẻ mà Con muốn mạc khải cho".
Tông
Ðồ Philipphê xem ra chưa hiểu điều Chúa Giêsu nói với họ nên đánh
bạo hỏi thêm: "Thưa Thầy, xin tỏ cho con thấy Cha thế là
chúng con mãn nguyện. Chúa Giêsu đáp: Thầy ở với các con bấy lâu
rồi mà các con không hiểu Thầy sao? Philipphê ơi! Hễ ai thấy Thầy
là thấy Cha, vậy sao con còn hỏi xin tỏ cho chúng con biết Cha,
há các con không tin rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy
ư?" (Jn 14,8-10).
Chỉ
có Chúa Giêsu là Con Một yêu dấu của Thiên Chúa Cha mới có thể
quả quyết như vậy được, bởi vì Chúa Giêsu và Thiên Chúa Cha là
một, ai tiếp nhận Chúa Giêsu là tiếp nhận Chúa Cha, là Ðấng đã
sai Ngài vậy. Không những Chúa Giêsu chỉ mạc khải về Cha cho nhân
loại, nhưng qua nhiều lần bằng nhiều cách chính Chúa Cha cũng
muốn tỏ lộ Chúa Giêsu Con Ngài là ai cho nhân loại nữa.
Ngay
từ lúc khởi đầu sứ mệnh của Chúa Giêsu ở sông Jordan, Chúa Giêsu
đến với Gioan để xin ông làm phép rửa cho, khi chịu phép rửa xong
thì Thần khí Thiên Chúa giáng xuống như chim bồ câu: "Này
là Con Ta yêu dấu" (Mt 3,17). Lần khác, qua Tông đồ Simon
gián tiếp mạc khải về căn tính và sứ mệnh Tông đồ của Chúa Giêsu
trước mặt các môn đệ Ngài: "Thầy là Ðấng Kitô Con Thiên Chúa
hằng sống". Nghe vậy Chúa Giêsu không phủ nhận mà còn xác
nhận rõ hơn chân lý đó từ đâu mà đến. Ngài nói: "Này anh
Simon con Giona, anh thật có phúc vì chẳng phải phàm nhân mạc
khải cho anh, nhưng là Ðấng ở trên trời mạc khải cho anh..."
(Mt 16,16-17).
Sứ
mệnh của Chúa Giêsu là tỏ lộ cho nhân loại biết và cảm nghiệm
được tình thương cứu độ của Thiên Chúa Cha vạch chỉ và dẫn dắt
nhân loại trở về nhà Cha là cùng đích đời sống con người. Ðể đạt
tới đích điểm đó, Ngài cũng mách bảo ta biết, tức là "hãy
lắng nghe lời Con yêu dấu của Người".
Tuy
nhiên, Ngài luôn tôn trọng tự do mỗi người, nếu chúng ta biết
lắng nghe và tuần giữ lời Ngài, chúng ta mới có thể nắm chắc trong
tay miếng gỗ luôn cháy sáng không bao giờ tàn, và mới có thể chiếu
tỏ ánh sáng của miếng gỗ đó cho những người xung quanh chúng ta
hôm nay và cho thế hệ mai sau. Amen.
|