dongcong.net
 
 


PHÚT TÂM GIAO 03

Gặp gỡ Chúa Giêsu trong tòa giải tội

 

Trong cuộc sống thường nhật, người ta hay xin lỗi nhau, mỗi khi vô ý va chạm người khác, hầu giữ mối giao hảo. Trong gia đình, vợ chồng cũng thường xuyên xin lỗi nhau, để giữ gìn hạnh phúc lứa đôi. Người đời còn biết cư xử với nhau tốt lành như thế, nhưng nhiều khi chúng ta lại thiếu sót, trong cách xử sự với Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của chúng ta. Đó là khi chúng ta không mặn mà hòa giải với Ngài, qua bí tích Giải Tội. Hình như người ta có nghìn lẻ một lý do để ngại ngùng đến thú tội, xin Ngài thứ tha. Một tâm hồn đơn sơ dưới đây, đã khéo léo xua tan đi cái cảm giác ngẩn ngại đến tòa cáo giải.

 

Khi đề cập về Ơn Trở Về, chúng ta dĩ nhiên nghĩ đến Bí Tích Hòa Giải, nơi tôi đã đổ nước mắt thống hối, khi thú tội mình đã xúc phạm đến Chúa.

Tôi nghĩ rằng khi đến nhận Bí Tích này, tâm hồn cần phải hết lòng thống hối ăn năn, cùng ý thức được tội lỗi mình đã phạm làm Chúa đau buồn biết bao. Một sự thống hối chân thành, tận đáy tâm hồn khiến nước mắt phải tuông rơi.

Nhưng ngoài lòng ăn năn còn phải ý thức được rằng, Chúa Giêsu đang hiện diện trong Tòa Giải Tội qua vị linh mục. Nghĩa là phải có một đức tin thật sống động, thật mãnh liệt để không bao giờ phán đoán vị linh mục đó là người như thế nào? Đức hạnh ra sao? Và  cho dù linh mục đó đã làm gương xấu, gương mù gì đi nữa cũng không hệ gì. Bởi vì chẳng phải linh mục tha tội mà chính Chúa Giêsu.  Vì vậy khi vào tòa giải tội, tôi cần phải tự trang bị một đức tin vững chãi, nhiệt thành, để thú tội và để lắng nghe Chúa nói gì qua linh mục ấy.

Trong cuốn sách Lòng Thương Xót Chúa Nơi Linh Hồn Tôi (Nhật Ký Thánh Nữ Faustina), có một đoạn Chúa nói với Thánh Nữ rằng, ở tòa giải tội Chúa hiện diện trong vị linh mục, và bảo Thánh nữ hãy cầu xin Chúa: “Xin Chúa hãy nói với con qua vị linh mục này”.

Lúc đứng xếp hàng chờ tới phiên mình, tôi chợt nhớ đến đoạn này trong sách, và thầm thỉ nói với Chúa: “Papa Jésus ơi, Papa nói gì với con qua vị linh mục này”. Thế rồi, Chúa đã nói, y như lời Chúa căn dặn Thánh Nữ Faustina.

Tôi thú tội, và nghĩ rằng, như bao linh mục khác, cha sẽ giải nghĩa, hoặc chia sẻ, hoặc nói những lời khuyên nhủ liên quan đến tội mình vừa xưng.  Nhưng bổng dưng Linh mục nói với tôi: ”Việc con làm gần đây rất đẹp lòng Chúa, con cứ tiếp tục như vậy.”

Tôi cũng dạ dạ, nhưng trong lòng tự hỏi:Mình có làm việc gì khác thường đâu?  À mà sao ông cha này nói gì lạc đề vậy cà? Sao không ăn thua gì đến tội mình đã xưng? Rồi thì tự nhiên cha nói “Je t’aime”.

Trời ơi! Tôi giựt mình, nghĩ rằng ông linh mục gì kỳ cục, tự nhiên nói “Je t’aime.”Tôi ngững mặt lên, nhìn xem ông cha này trẻ hay già, mà sao kỳ vậy?  Chúa ơi, linh mục ấy già ơi là già! Tôi đang nói thầm với Chúa trong lòng: ”Ông cha này kỳ khôi quá Chúa ơi!”; thì ngay sau đó vị linh mục liền nói thêm: “Chúa nói với con như vậy!”

Trở lại vấn đề linh mục nói khi nãy: “Việc con làm gần đây rất đẹp lòng Chúa, con cứ tiếp tục như vậy.”  Sau khi rời tòa giải tội, tôi vào ghế quỳ và nói với Chúa: “Chúa ơi, con đã làm gì mà đẹp lòng Chúa? Xin nhắc cho con nhớ, để mai mốt con làm như thế nữa.”  Vài giây sau thì Chúa soi sáng cho tôi nhớ ngay rằng cách đó vài ngày, tôi đã lấy ơn trả oán. Tôi đã giúp một người từng ganh ghét và hại tôi, người này rất ganh tị với tôi, và mọi việc tôi làm cho dù tốt, nhưng dưới mắt người ấy, cũng trở nên xấu xa. Còn nữa, tôi còn thường cầu nguyện cho người này nữa.

À, thì ra là thế! Chúa muốn nói đến việc làm này đây. Cảm tạ Chúa đã nhắc con nhớ và an ủi con bằng những lời nói khuyến khích yêu thương qua vị linh mục trong tòa giải tội.
Từ đó về sau, mỗi lần đi xưng tội, tôi đều xin Chúa : «Hãy nói với con qua vị linh mục này.»

Như thế, cho dù linh mục có nói lạc đề đi nữa, vẫn có ý nghĩa, bởi vì do chính Chúa nói qua cha giải tội.  Tôi cũng đã có lần xưng thú tội đã lớn tiếng với má tôi, vv… Ngỡ rằng cha sẽ căn dặn, nào là phải thảo kính cha mẹ, phải dịu dàng, vv…Nhưng thật ngỡ ngàng, khi linh mục chẳng nói gì ngoài câu : «Con hãy cầu nguyện cho má con! »

Chúa thật tốt lành, Ngài chỉ cần ta mở cửa, và Ngài vào tiếp chuyện với mình. Khi chúng ta có một đức tin sống động rằng, Chúa ở rất gần bên và hiện diện thật sự ở khắp nơi. Vậy thì cứ trò chuyện với Chúa, nói với Chúa, than vãn với Chúa, thậm chí phàn nàn, hoặc làm nũng với Chúa, chúng ta sẽ thấy Chúa nói và trả lời với mình.

Lời tỏ tình dể thương của Chúa, khi nói qua vị linh mục già khú đế « Je t’aime »làm cho tôi đến bây giờ vẫn còn ngở ngàng, trái tim thổn thức từng nhịp. Chúa cũng đã chọn linh mục để nói vớitôi. Nếu là linh mục trẻ, thì có lẽ tôi sẽ đặt nghi vấn, và phán đoán ông cha trẻ này sao mà dê thế ! Nhưng Chúa biết lòng con gái của Chúa, hay nghi ngờ và phê phán, nên Chúa đã chọn ông cha già.  Chúa Giêsu thật là khôn ngoan, hèn gì kêu mình phải khôn ngoan như con rắn và dịu hiền vâng phục như chim bồ câu. 

Tính vâng phục là môt nhân đức đẹp lòng Chúa, nhân đức của trẻ thơ, nó không thắc mắc, không tìm tòi , không nghi nan về những gì cha mẹ nó nói với nó.  Thật buồn thay, vì nhân loại ngày nay hầu như không còn sự ngây thơ của chim bồ câu nữa. Càng văn minh thì càng sống xa Chúa vì kiêu ngạo, tưởng rằng tự mình mà có. 

 

Trong tâm tình Cha con như nêu trên, có lẽ chúng ta dễ dàng chạy đến với Người Cha Nhân Từ, hay rộng lương quên đi những lỗi lầm chúng ta vấp phạm. Ngài liền tha thứ ngay khi chúng ta thú tội. Ngài còn ôm chúng ta vào lòng an ủi, như đứa con hoang đàng biết sám hối trở về. Kính xin Thiên Chúa ban cho chúng ta biết sống đơn sơ, biết vâng lời, cùng khiêm hạ, để luôn mau mắn ăn năn trở về trong vòng tay yêu thương của Ngài. Amen.

 

GBW
Hỏi:

Liên quan đến việc xưng tội , xin Cha giải thích thêm  điều này: Sau khi đã thật lòng xưng tội với linh mục  thì Chúa đã tha thứ hết mọi tội rồi. Vậy tại sao còn phải làm việc “đền tội” sau đó? Như vậy có phải Chúa không tha hết hay tha có điều kiện  hay sao?

Trả lời:

Trước hết, tôi cần nói qua về tội và lòng thương xót, tha thứ của Chúa. Chúa là Cha rất nhân từ. Ngài rất chê ghét mọi tội lỗi,nhưng yêu thương người có tội biết ăn năn, sám hối.Do hậu quả của tội Nguyên tổ (Original sin), bản chất con người trở nên yếu đuối  hoàn toàn và rất dễ sa ngã sau khi được tái sinh qua phép rửa, được tha thứ một lần khỏi tội nguyên tổ và mọi tội cá nhân khác. Nhưng sau đó, chính vì bản chất yếu đuối nói trên cộng thêm sự cám dỗ mãnh liệt của ma quỉ và gương xấu của thế gian,nên con người vẫn còn nguy cơ phạm tội cá nhân nhiều lần nữa. Nguy cơ này  kéo dài suốt cả đời người cho đến giờ hấp hối trên giường bệnh. Và chỉ khi linh hồn ra khỏi xác, con người mới hết nguy cơ bị cám dỗ và phạm tội mà thôi.

Vì thế, Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ rằng: “Anh  em hãy canh thức mà cầu nguyện để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối.” (Mt 26:41).

Thánh Phêrô cũng cảnh cáo chúng ta về nguy cơ của tội đến từ ma quỉ như sau: “Anh  em hãy sống tiết độ và tỉnh thức vì ma quỉ, thù địch của anh  em, như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cấu xé.” ( 1Pr 5:8)

Như thế, tội lỗi là một thực trạng của con người sống trên trần thế này. Chính vì vậy mà Chúa Giêsu, trước khi về Trời, đã lập bí tích Hoà Giải để giúp con người  giao hoà lại với Thiên Chúa sau khi đã lỡ phạm tội vì yếu đuối và vì ‘sa chước” cảm dỗ. Chúa đã trao cho các Tông Đồ và những người kế vị quyền tha tội cho mọi hối nhân như sau: “Anh  em tha tội cho ai thì người ấy được tha. Anh  em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ.” ( Ga 20:23)

Đây là nền tảng thần học và kinh thánh  của bí tích Hoà giải (xưng tội) qua đó Chúa Kitô  tiếp tục tha tội cho chúng ta  qua sứ vụ của các thừa tác viên có chức thánh là Giám Mục và Linh mục.

Theo giáo lý của Giáo Hội, tội được chia ra làm hai loại: tội trọng (mortal sin) và tội nhẹ (venial sin). Nhưng mọi tội đều có thể được tha, nếu thực tâm thống hối và còn tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa, trừ tội phạm đến Đức Chúa Thánh Thần, tức là tội chối bỏ Thiên Chúa hoàn toàn thì không thể tha được, vì kẻ chối Chúa, không tin  có Chúa thì chạy đến với ai mà xin tha thứ  được? (x. Mc 3:28-29).
Nhưng sau khi được tha mọi tội qua bí tích hòa giải, hối nhân vẫn còn phải làm việc đền tội theo chỉ dẫn của cha giải tội. Lý do là :
   Ơn tha tội xoá mọi  tội lỗi, nhưng không sửa chữa được những xáo trộn mà tội đã gây ra” như  Thánh  Công Đồng Trentinô đã dạy. (x SGLCG, số 1459).

Nói khác đi, khi ta thành tâm xưng tội, thì tội được tha và giúp ta lấy lại tình thân với Chúa. Nhưng phải làm một số việc lành tương xứng để đền bù lại. Thí dụ, lấy của ai cái gì, thì  phải trả lại người ấy cách nào đó vì phép công bằng đòi buộc như vậy..Giết  người không thể đền mạng được, nhưng phải làm việc gì có giá trị bảo vệ sự sống để đền bù lại. Nghĩa là không thể đọc năm ba kinh Lậy Cha, Kính Mừng để đền tội giết người hay làm thiệt hại danh dự và tài sản của người khác được. Đây là việc “đền tội = penance” mà các cha giải tội đòi hối nhân phải làm  để sửa chữa những hậu quả do tội gây ra, sau khi đã xưng và được tha qua ơn phép  tha tội (absolution).

Mặt khác, cũng theo giáo lý của Giáo Hội, thì tội mang lại hai hậu sau đây, tùy mức phạm là nặng hay nhẹ:

Tội trọng làm mất tức khắc  sự hiệp thông (communion) với Chúa là tình yêu; và nếu chết không kịp sám hối và được tha  qua bí tích hoà giải thì sẽ phải chịu án phạt đời đời trong nơi gọi là hoả ngục. (x. SGLCG,số 1033-35). Tội nhẹ không cắt đứt sự hiệp thông với Chúa nhưng cũng gây thương tổn phần nào cho sự hiệp thông này nên cũng cần được tha thứ và thanh tẩy.

Cả hai loại tội trọng  và tội nhẹ, sau khi được tha qua bí tích hoà giải, đều để lại hậu quả xáo trộn nhiều ít trong tâm hồn hối nhân như Thánh Công Đồng Trentinô đã dạy trên đây.

Vì thế,  cần được thanh tẩy mọi hậu quả của tội  qua việc “đền tội” để xoá đi cái gọi là “hình phạt hữu hạn = temporal punishment” sau khi tội được tha nhờ bí tích hoà giải. Việc đền tội này,  nếu không làm khi còn sống thì phải được thanh luyện sau khi chết  trong nơi gọi là “Luyện tội = Purgatory”. Và đây là lý do vì sao Giáo Hội daỵ các tín hữu còn sống phải  làm việc lành và cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện tội để giúp họ mau thoát khỏi hình phạt hữu hạn nói trên để gia nhập hàng ngũ các Thánh trên Thiên Đàng, hưởng Nhan Thánh Chúa đời đời.

Hình phạt hữu hạn  không phải là sự “trả thù” của Thiên Chúa. Cũng không phải vì  Chúa không tha thứ hoàn hoàn cho con người mà vì hậu quả của tội gây ra cho hối nhân cần được sửa chữa mà thôi. (x. SGLGH CG,số 1472).

Nói cách cụ thể, ta có thể tạm dùng hình ảnh này để minh họa cho điều vừa giải thích trên đây:   tội lỗi được  ví như những cái đanh (nails) đóng vào tường. Khi đanh được gỡ đi thì để lại những lỗ hổng to hay nhỏ trên tường tùy đanh to hay nhỏ. Ví thế, phải lấp các lỗ này sau khi đanh được tháo gỡ để mặt tường được nhẵn nhụi, phẳng phiu trở lại. Việc đền tội cũng được ví tương tự như vậy. Sau khi được tha, tội ví như đanh được rút ra khỏi tường nhưng lổ hổng còn để lại. Vậy phải lấp các lỗ hổng này bằng việc đền tội để tẩy xoá đi những hậu quả do tội để lại trong tâm hồn hối nhân.

Đó là lý do vì sao hối nhân phải làm việc “đền tội” sau khi đã xưng các tội nặng nhẹ với thừa tác viên có chức thánh là Giám mục hay lịnh mục, tức những người được quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô ( in personna Christi) như Giáo Hội dạy.
. Ước mong giải thích này thoả mãn câu hỏi được đặt ra.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 GBW-dongcong.net 8 tháng 12-20111

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)