Suy Niệm của Huệ Minh

Chúa nhật tuần 6 thường niên, năm A

+++

Chúa Nhật 6 TN – A-2020

Mt 5, 17-37

GIỮ LUẬT VỚI LÒNG MẾN

            Trang Tin Mừng hôm nay ghi lời dạy của Chúa Giêsu trong nhiều thời điểm khác nhau liên quan đến Tám Mối Phúc Thật làm thành một bài giảng dài gọi là Bài Giảng Trên Núi. Qua đọan này Người dạy dân chúng về tương quan giữa Người với Luật Môsê.

            Luật Môsê tuy đã có sự tiến bộ nhiều vào thời đại bấy giờ, nhưng vẫn còn thiếu sót cần phải được Chúa Giêsu kiện toàn như Người đã nói: “Tôi không đến để bãi bỏ Lề Luật, nhưng là để kiện toàn”. Chúa Giêsu đã kiện toàn Luật Môsê như sau:

            Luật Môsê chỉ kết tội khi có sự giết người thực sự. Còn húa Giêsu kiện toàn Luật Môsê bằng cách cấm cả sự tức giận, nói lời chửi rủa xúc phạm đến tha nhân. Người còn đòi người đi dâng lễ phải về nhà làm hòa với kẻ đang có sự bất bình với mình, để xứng đáng dâng lễ vật cho Thiên Chúa.

            Luật Môsê chỉ phạt tội đã ngoại tình thực sự. Còn Chúa Giêsu kiện toàn bằng việc cấm cả việc nhìn xem người nữ và ước ao phạm tội với họ trong lòng.

            Luật Môsê cấm phản bội lời đã thề với Thiên Chúa. Còn Chúa Giêsu kiện toàn bằng lời dạy phải luôn nói thật và tránh sự thề thốt, trừ trường hợp đặc biệt giáo luật buộc phải thề.

            Chúa Giêsu không đến để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn ý muốn của Thiên Chúa được thể hiện trong Sách Thánh. Người thực hiện và đưa đến mức độ viên mãn tất cả những gì Thiên Chúa đã hứa trong Sách Thánh.

            Chúa Giêsu kiện toàn lề luật bằng hai cách: Thứ nhất, Chúa Giêsu cho thấy lề luật được lập ra nhằm phục vụ con người, chứ con người được tạo nên không phải để tuân giữ luật. Thứ hai, Chúa Giêsu kiện toàn bằng cách nội tâm hóa lề luật. Lề luật được tuân giữ không dựa vào mặt chữ bên ngoài, nhưng hệ tại cõi lòng con người. 'Có đầy trong lòng mới tràn ra ngoài', kể từ nay, chính ý hướng con người ở bên trong mới là yếu tố quyết định.

            Từ hai nguyên tắc kiện toàn trên, Chúa Giêsu lần lượt trưng dẫn một loạt các khoản luật Môsê, trưng dẫn không phải để hủy bỏ nhưng để cho thấy Ngài kiện toàn như thế nào.

            Chúa Giêsu giải thích qua một loạt các phản đề giữa các giới răn cũ và kiểu Người đề nghị. Mỗi lần bắt đầu : "Các con đã nghe người xưa nói rằng... ", rồi Người khẳng định: "Còn Thầy, thầy bảo các con... ". Chẳng hạn: "Các con đã nghe người xưa nói rằng: Chớ giết người; ai giết người thì đáng bị đưa ra tòa. Còn Thầy Thầy bảo các con: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra tòa" (Mt 5, 21-22). Và sáu lần như vậy.

            Khi nói như thế, Chúa Giêsu không có ý định thêm các điều răn, nhưng Người tuyên bố cần phải có bước nhảy về chất lượng, Người chứng tỏ Người chu toàn các giới răn với tình yêu của Chúa Cha, với sức mạnh của Chúa Thánh Thần ở trong Người. Đến lượt chúng ta, với niềm tin nơi Người, để Chúa Thánh Thần hoạt động, Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta sống tình yêu của Thiên Chúa. Vì thế, mỗi điều răn trở thành thật sự như đòi buộc của tình yêu, vì tất cả các giới răn đều tóm về hai điều này là : trước kính Đức Chúa Trời hết lòng hết sức, và sau là yêu người như mình ta vậy. Như Thánh Phaolô quả quyết : "Yêu thương là chu toàn Lề Luật" (Rm 13, 10).    

            Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ khi cấm cả sự giận ghét và mắng chửi tha nhân: “Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt” (Mt 5, 22-23). Người dạy chúng ta hãy yêu thương và tôn trọng nhau bằng thái độ bao dung nhân hậu, cảm thông thứ tha, lịch sự hòa nhã, không la mắng chửi rủa…, nhưng sẵn sàng đi bước trước tha thứ và giơ tay ra làm hòa trước khi dâng lễ tại nhà thờ.

            Nếu tức giận là tình cảm tiêu cực ở bên trong, thì chửi rủa là tình cảm tiêu cực bên trong được bộc lộ ra bên ngoài. Ngày nay, chúng ta thường nói với nhau những lời mà ta không nghĩ đến hậu quả của nó, giống như trẻ em chơi trò chơi bắn súng mà không ý thức được rằng những khẩu súng các em đang sử dụng lại là súng thật. Con dao giết chết thân xác, chửi rủa giết chết nhân phẩm - làm người ta sống dở chết dở. Sách Huấn ca (28, 17-18) đã viết rằng: “Đòn vọt làm thân thể bầm tím, nhưng cái lưỡi làm dập gãy cả xương. Có nhiều kẻ gục ngã vì lưỡi kiếm, nhưng làm sao sánh được với những kẻ gục ngã vì lưỡi người?”.

            Và rồi qua lời nói, chúng ta có thể đem lại niềm vui Phục sinh, nhưng cũng có thể đem lại khổ đau thập giá. Những lời chúng ta nói ra, dù tốt hay xấu, thường được lưu giữ trong tâm hồn anh chị em mình, có khi suốt nhiều năm nhiều tháng.

            Lời Chúa dạy hôm nay: đừng giận ghét, thì ta phải hiểu rằng: ta không được ghét ai, nghĩa là loại trừ họ, đó là điều trái với đức thương yêu, nhưng đồng thời ta cũng phải tập làm chủ nhưng cơn nóng giận của mình. Việc đó có thể làm được với ơn Chúa và nhất là với đời sống cầu nguyện, vì đó là cách thức chúng ta dễ nâng tâm hồn lên với Chúa để Ngài thanh luyện tâm hồn chúng ta thuộc về Chúa và gần gũi với tha nhân hơn.

            Luật Mới yêu thương gồm tóm trong Tám Mối Phúc: Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đã công bố ý hướng ban đầu của Thiên Chúa là lấy tình yêu làm nền tảng mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau: “Yêu mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương tha nhân như yêu chính mình thì hơn mọi lễ vật toàn thiêu và mọi lễ vật hy sinh”.

            Mục tiêu loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu là chỉ cho con người sự thật về Thiên Chúa và sự thật về chính con người. Thiên Chúa đã mặc khải cho con người sự thật và kêu gọi con người sống thật với nhau và yêu thương nhau.

12.2. Chúa Nhật  6 Quanh Năm, năm A-2023

Hc 15:16-21; Tv 119:1-2,4-5,17-18,33-34; 1 Cr 2:6-10; Mt 5:17-37; Mt 5:20-22,27-28,33-34,37

Luật tình yêu

          Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, Chúa Giêsu lại khẳng định một điều xem ra mâu thuẫn với thái độ của Ngài: Ta đến để kiện toàn, chứ không phải là để huỷ bỏ lề luật và các tiên tri. Trong lời khẳng định này của Chúa Giêsu, chúng ta phải hiểu là không khi nào lề luật, ngay cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất, sẽ mất hiệu lực, nghĩa là sẽ mất tính cách bắt buộc. Vậy phải cắt nghĩ làm sao điều xem ra như mâu thuẫn giữa lời tuyên bố và hành động của Ngài đối với lề luật?

          Chúa Giêsu tuyên bố Ngài là Đấng kiện toàn lề luật và kiện toàn ở đây không có nghĩa là tuân giữ lề luật một cách chín chắn, trọn đủ, mà có nghĩa là làm trọn, làm cho lề luật có đầy đủ ý nghĩa của nó.

          Khi Thiên Chúa tuyển chọn và kết giao ước với dân riêng của Ngài, Ngài đã ban cho họ mười điều răn, cốt yếu là những điều cấm, quy định ranh giới sinh hoạt mà kẻ thuộc về Ngài không thể vượt qua. Ở đây cũng cần phải lưu ý mười điều răn không phải là những điều kiện tiên quyết để Thiên Chúa ký kết giao ước với dân Ngài, mà trái lại, giao ước đã được ký kết do sáng kiến của chính Thiên Chúa, rồi sau đó, mười điều răn mới được mạc khải cho dân Ngài.

          Bên trong ranh giới được ấn định bởi những điều cấm là cả một khoảng trống. Khoảng trống này dần dà được lề luật lấp đầy, rồi đến lượt các luật sĩ giải thích và những giải thích này đã biến thành một mạng lưới dày đặc những quy định, những nghi thức len lỏi vào từng chi tiết của cuộc sống con người và xã hội. Và như thế con người lâm vào tình trạng mình có vì lề luật, trở nên nô lệ cho lề luật, thay vì lề luật có là vì con người.

          Trong tình trạng này, lề luật bỗng được giao cho vai trò môi giới trong quan hệ giữa con người và Thiên Chúa. Người ta được quan hệ với Thiên Chúa hay bị cắt đứt mối liên hệ ấy một cách máy móc do tuân giữ hay không tuân giữ các điều khoản của lề luật. Hơn nữa, các luật sĩ đã đề ra những điều khoản mà không phải ai cũng có thể tuân giữ được. Người ta không tuân giữ được, không phải vì thiếu thiện chí, thiếu lòng đạo đức, nhưng vì những điều kiện khách quan của cuộc sống, của nghề nghiệp không cho phép, nên quả thực, các luật sĩ đã khoá cửa Nước Trời đối với đông đảo thành phần trong dân Chúa.

          Chính những lề luật và cách hiểu về vai trò của lề luật này đã bị Chúa Giêsu đả phá. Ngài phủ định vai trò môi giới của lề luật. Đối với Ngài, điều quyết định trong mối liên hệ giữa con người và Thiên Chúa, cũng như giữa con người với nhau không phải là việc tuân giữ các điều khoản của lề luật mà chính là lời của Chúa Giêsu và việc thi hành lời của Ngài: Ngay cả kẻ được coi là công chính, vì trung thành tuân giữ các điều khoản của lề luật cũng được đòi hỏi phải trở lại với lời của Ngài.

          Chúa Giêsu đã quả quyết, luật căn bản nhất mà con người phải tuân giữ, đó là luật yêu thương. Tin Mừng hôm nay chứa đụng giáo huấn rất phong phú về nội dung này. Không thể viện cớ một luật lệ hay một tập quán thế tục để hành động ngược với giới luật yêu thương. Khởi đi từ luật yêu thương này, người ta mới có thể xây dựng tình bằng hữu, đạo gia đình và tình nghĩa phu phụ.

          Chúa Giêsu đến để kiện toàn lề luật của Cựu Ước. Hơn thế nữa, Người mặc cho lề luật một giáo trị cao siêu hơn. Nếu luật Cựu Ước quy định kẻ sát nhân phải ra tòa, thì luật Tân Ước, những ai giận ghét anh chị em mình hoặc chửi mắng rủa xả họ với những lời thóa mạ, thì đã đáng hình phạt hỏa ngục trầm luân. Những quy định của luật Tân Ước nhằm bảo vệ và cổ võ thực thi bác ái giữa những người đồng loại.

          Trong Giáo huấn của Chúa Giêsu, luật yêu thương không chỉ dừng lại ở những cấm đoán, nhưng còn tiến xa hơn bằng những lời khuyên làm việc tốt cho tha nhân, đến mức yêu tha nhân như chính mình. Để giáo huấn của mình có độ xác tín, Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta noi theo qua việc rửa chân cho các môn đệ và nhất là qua cái chết trên thập giá.

          Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy sống theo tinh thần phúc âm. Hãy ăn ở ngay lành. Hãy làm việc thiện. Hãy từ bỏ những tính hư nết xấu, những đam mê tội lỗi. Đừng có đạo mà sống xa rời tình nghĩa với anh em, xa rời tình nghĩa với Chúa. Đạo không dừng lại ở việc tuân giữ điều này điều kia mà còn thể hiện tình liên đới, sự chia sẻ, cảm thông với anh em. Đạo được quy chiếu vào lòng mến. Mến Chúa thì phải yêu mến anh em. Tình yêu đó đòi hỏi phải sống hiệp thông với nhau trong yêu thương và tha thứ. Tình yêu đó đòi hỏi tránh xa những mâu thuẫn, những ghen ghét, giận hờn. Chúa còn coi trọng sự hoà giải với nhau hơn cả việc đến dâng của lễ. Vì khi “anh em sắp dâng lễ vật trước bàn thờ mà sực nhớ có người đang bất bình với anh, thì hãy bỏ của lễ mà đi làm hoà trước đã rồi hãy trở lại mà dâng lễ”.

          Giáo lý của Chúa tóm gọn trong hai điều: Mến Chúa và yêu người. Đức ái là giới răn quan trọng nhất trong cuộc sống người Kitô hữu. Vì Yêu, Chúa gọi ta vào đời. Ta sa ngã Chúa cứu chuộc. Ta mất ơn nghĩa tử Chúa cho làm kẻ thừa tự. Ta chết trong tội Chúa ban sự sống đời đời. Nhận biết những điều trên để dâng lời tạ ơn là sống khôn ngoan. Kitô hữu có bổn phận học và thực hành, yêu người khác như Chúa yêu ta. Giữ trọn lề luật mà thiếu yêu thương là phạm luật. Luật đến từ con tim yêu mến, thứ tha. Bỏ luật con tim là bỏ luật Chúa. Thờ phượng Chúa mà thiếu thực hành đức ái đến từ đức tin nông cạn.

 

Thứ Hai tuần 6 thường niên, năm 2023

St 4:1-15,25; Tv 50:1,8,16-17,20-21; Mc 8:11-13

Dấu lạ tình yêu

          Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều (8,1-10) lần thứ hai ở phía đông biển hồ Bétsaiđa, Chúa Giêsu cùng môn đệ xuống thuyền sang phía tây hồ. Nhưng vừa cập bến được ít lâu, một nhóm biệt phái, có cả nhóm Sađucêu nữa, kéo nhau đến rình mò, tranh luận và thử thách Ngài.

          Trước đó Người cũng đã làm nhiều phép lạ, trong đó có những phép lạ lớn (Mc 4,35–5,43: dẹp yên bão táp, trục xuất quỷ ám ra khỏi người ta, chữa một bà loạn huyết, làm cho đứa con gái ông Giairô sống lại). Thế mà những người biệt phái vẫn chưa tin Người. Hôm nay họ lại thách thức Người làm một “dấu lạ từ trời” nghĩa là một phép lạ phát xuất từ chính Thiên Chúa.

          “Người thở dài não nuột mà nói...”

          Thực ra những phép lạ Người làm, nhất là những phép lạ lớn vừa kể trên, đã đủ minh chứng Người là Đấng có quyền phép “từ trời”. Sở dĩ họ không tin là chỉ vì họ ngoan cố. Bởi đó Chúa Giêsu nói sẽ chẳng cho họ một dấu lạ nào nữa.

          Trong phần tiếp theo, Tin mừng Marcô vẫn tiếp tục cho thấy Chúa Giêsu làm thêm nhiều phép lạ khác. Tuy nhiên những phép lạ đó cũng chẳng phải làm cho những người biệt phái ấy. Nói cách khác, những phép lạ ấy chỉ có ý nghĩa và giá trị cho những người khác, chứ không cho những người biệt phái cứng lòng.

          Sau những dấu lạ Chúa Giêsu đã làm, người Pha-ri-sêu còn xin một dấu lạ khác. Lời yêu cầu của họ, cho chúng ta thấy những đòi hỏi mù quáng thiếu đức tin như muốn thách thức Thiên Chúa, hay cố tình không chịu tin vào quyền năng của Người. Mặc dù họ rất thông minh, nhưng không hề khiêm nhường đơn sơ, nên đứng trước biết bao phép lạ Chúa đã làm, nhưng người biệt phái vẫn còn mơ hồ, nghi ngờ, đòi hỏi Người thêm một phép lạ từ Trời nữa, khiến Chúa Giêsu phải lắc đầu não nuột: “sao thế hệ này lại xin một dấu lạ”.

          Mặc dù Thiên Chúa cố gắng thể hiện tình yêu của Người đến với họ, nhưng họ là những người yếu đuối, kém cỏi trong đức tin, nhưng vẫn tỏ ra mình là những người hiểu biết, nhìn xa trông rộng. Nhưng tình yêu Thiên Chúa luôn lan tỏa bằng sự tự nguyện, không phải là ép buộc. Dấu lạ của Người bằng lòng tin yêu, bằng chính tâm hồn hướng về Người. Thiên Chúa chỉ cần lòng tin, như lòng tin của người phụ nữ thật mạnh mẽ nhưng đơn sơ giản dị: “Tôi chỉ cần sờ được vào áo của Người thôi là sẽ được cứu”. ( Mt 9,22)

          Chúa Giê-su chờ đợi chúng ta có một đức tin chân thành và vô vị lợi. Điều duy nhất phải quan tâm, đó là hành động vì đức tin. Biết rằng Chúa Giê-su nhìn chúng ta, Ngài nhận biết những việc làm của chúng ta, và với cái nhìn đầy yêu thương, Ngài đồng hành với chúng ta từng giây phút của cuộc sống. Nhận biết mình được an toàn trong tay Chúa là bằng chứng hùng hồn về đức tin của chúng ta.
Chúa Giê-su đã ban cho chúng ta dấu lạ chắc chắn về sự hiện diện hằng ngày của Ngài trong đời sống chúng ta. Dấu thứ nhất là thập giá. Chỉ có đức tin mới mở cho chúng ta biết mầu nhiệm của Ngài và giúp chúng ta đương đầu với tội lỗi nhờ lòng thương xót. Tội là nguyên do của những gì nguy hại trong đời sống chúng ta. Thập giá của Đấng chịu đóng đinh là khí giới có thể chữa lành chúng ta. Đức tin cho phép chúng ta nhìn thấy tình yêu Chúa ở trung tâm vũ trụ và thế giới được lôi kéo về Ngài. Thánh Thể là một dấu lạ nữa mà Chúa để lại cho chúng ta. Đó là dấu lạ mạnh mẽ nhất vì nơi đó chứa đựng tác giả của chính dấu lạ. Chúa Giêsu đã hạ mình qua mọi phương thế để ở lại với chúng ta. Dưới hình bánh rượu, Ngài mạc khải cho chúng ta thấy Ngài muốn gắn bó với chúng ta. Xin cho những dấu lạ này luôn là bảo chứng tình yêu để chúng con nói với Chúa theo cách Ngài muốn được biết, được yêu và được tôn thờ.

          Cuộc sống ngày nay biết bao mưu toan tính toán của con người, biết bao biến cố xảy ra hàng ngày, hàng giờ, hàng phút đến với chúng ta, với gia đình, xã hội, thế giới, đó cũng là dấu chỉ, có cảm nhận được dấu chỉ sẽ giúp chúng ta tỉnh thức, bình tâm lại, để có một niềm tin, trông cậy phó thác trong tình yêu bao la của Thiên Chúa.

          Tin mừng hôm nay cho thấy phép lạ “không sinh ra đức tin” mà chỉ là “dấu chỉ dẫn người ta tới đức tin”. Bởi thế, sống đạo mà chỉ quan tâm tới phép lạ (như Lộ Đức, Fatima, La Vang...) thì chưa hẳn là sống đạo thật. Sống đạo thật là sống bằng đức tin. Ngược lại, người có đức tin thật thì nhìn thấy phép lạ trong tất cả mọi việc, kể cả việc nhỏ và tầm thường nhất.

          Niềm tin thì chúng ta dễ có, và có thể tạo ra niềm tin, còn đức tin thì phải đến từ Thiên Chúa, đó là một hồng ân Thiên Chúa ban cho con người, chứ không phải con người tạo ra Đức tin. Trong hành vi đức tin, Thiên Chúa vừa cho có ánh sáng, vừa cho bóng tối. Đức tin, vì thế đòi hỏi phải có sự khó nhọc, chọn lựa, hy sinh và dấn thân. Một đức tin mà đòi hỏi một chứng cớ rõ ràng, thì không phải là đức tin nữa. Vả lại, Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của tình thương, mà trong tình yêu thì không có sự ép buộc hay cưỡng bức, nhưng là sự tự do, tự nguyện.

          Chúng ta đi tìm dấu lạ khắp nơi. Chúng ta đặt ra giá trị cho tất cả những gì có thể cân đo, đong đếm. Không có những điều này, chúng ta coi nhẹ mọi sự. Đời sống thiêng liêng cũng không loại trừ khuynh hướng này. Những phép lạ, lời đáp trả mau lẹ cho những lời chúng ta cầu xin là bằng chứng cho rằng những lời cầu xin đó được lắng nghe, chúng là những dấu lạ mà chúng ta tìm kiếm để tin.

 

Thứ Ba tuần 6 TN

14 tháng 2 Thánh Cyril, Đan Sĩ, và Mêthôđiô, Gm

St 6:5-8; Tv 29:1-2,3-4,3,9-10; Mc 8:14-21

Tín thác vào tình yêu của Chúa

          Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu ngồi trên thuyền với các môn đệ để đi về hướng Betsaiđa; Ngài lợi dụng những giây phút rảnh rỗi để trắc nghiệm phản ứng của các ông về những phép lạ Ngài đã thực hiện, đặc biệt là phép lạ bánh và cá hóa ra nhiều.

          Chúa Giêsu xuống thuyền đi với các môn đệ. Nhưng các ông quên mang bánh theo, trong thuyền chỉ có một cái bánh. Dọc đường, Chúa căn dặn các ông cẩn thận lo tránh “men những người biệt phái và Hêrôđê”, tức là lo tránh thói tự mãn, cứng đầu cứng cổ của họ. Nhưng các ông không hiểu ý Chúa muốn nói, mà cứ tưởng là Chúa quở vì không mang bánh theo ăn, nên Chúa trách các ông chậm hiểu kém tin. Chính mắt các ông đã thấy hai phép lạ Chúa hóa bánh ra nhiều cho mấy ngàn người ăn no nê mà còn dư thừa, chính tai các ông đã nghe bao nhiêu lời Chúa dạy mà cũng chưa hiểu chưa tin.

          Chúa Giêsu ngồi trên thuyền với các môn đệ đi về hướng Betsaida; Người lợi dụng những phút rảnh rỗi để trắc nghiệm phản ứng của các ông về những phép lạ Người đã thực hiện, đặc biệt là phép lạ bánh và cá ra nhiều.

          Khi cảnh giác các môn đệ phải tránh men của Biệt phái và men của Hêrôđê, Chúa Giêsu có ý ám chỉ đến sự mù quáng và những thành kiến của những nhóm người này. Chúa Giêsu đã dùng chữ "men" để nói đến tinh thần kiêu ngạo và thái độ mù quáng ấy. Thế nhưng, các môn đệ đã không hiểu được kiểu nói bóng bẩy ấy, đầu óc các ông còn đầy những bận tâm về vật chất.

          Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ hãy ra khỏi những bận tâm vật chất ấy để hiểu được ý nghĩa các phép lạ và sứ điệp của Ngài. Ðó cũng chính là nội dung của chương trình huấn luyện mà Ngài đeo đuổi trong ba năm rao giảng của Ngài. Mãi đến lúc Ngài bị bắt và chịu treo trên Thập giá, xem chừng các môn đệ vẫn chưa hiểu được chiều sâu sứ điệp của Ngài. Mơ tưởng của những người dân chài này là được trở thành công hầu khanh tướng trong vương quốc trần gian mà họ nghĩ là Chúa Giêsu đã đến để thiết lập.

          “Người bảo các ông: “Anh em chưa hiểu ư ?”

          Câu hỏi này là lời Chúa trách móc các môn đệ. Họ là những người đã chứng kiến những phép lạ Chúa làm, họ đã phân phát bánh hoá nhiều mà họ còn lo lắng để tiếp tế lương thực, trong lúc Chúa Giêsu còn ở bên cạnh họ! Thế nhưng họ đã không ý thức rằng: có Chúa Giêsu ở với họ, là họ có tất cả.

          Điều này thật đúng tâm lý chúng ta. Chúng ta dễ dàng chấp nhận rằng: dĩ vãng, Thiên Chúa đã can thiệp cứu giúp chúng ta, ở với chúng ta. Nhưng hiện tại, khi chúng ta gặp khó khăn, gặp thử thách, phản ứng đầu tiên của chúng ta là lo lắng hốt hoảng, nghi ngờ, bối rối, chứ chúng ta có giữ bình tĩnh và tin chắc rằng Chúa vẫn tiếp tục ở với chúng ta không ?

          Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ Ngài hãy vượt lên những bận tâm vật chất để đi vào chiều sâu sứ điệp của Ngài. Ðiều đó cũng có nghĩa là tin vào quyền năng của Ngài, hoàn toàn phó thác cho Ngài. Giữa những khó khăn thử thách của cuộc sống, con người dễ dàng chạy đến với Chúa: đó là thái độ rất chính đáng, bởi vì qua cử chỉ ấy, con người tuyên xưng niềm tin vào tình yêu thương của Thiên Chúa. Tuy nhiên, Chúa Giêsu muốn chúng ta hãy có một thái độ vô vị lợi hơn, hoàn toàn tín thác vào tình yêu của Ngài. Một thái độ như thế sẽ cho chúng ta nhận ra tình yêu của Ngài, và cho chúng ta thốt lên như các vị thánh: "Tất cả đều là hồng ân của Chúa" bởi vì tình yêu của Ngài vượt trên mọi tính toán và chờ đợi của chúng ta.

          Với Tin Mừng hôm nay, có thể chúng ta sẽ phê phán bọn Pha-ri-sêu và Hê rô-dê là những người không có lý trí, không có óc nhận xét, không biết phân biệt đúng sai, phải trái!  Những lời cảnh giác đó của Chúa Giêsu đối với chúng ta ngày nay vẫn không thừa!. Thí dụ, là trong mỗi dịp tết về nhiều gia đình đã không hưởng được niềm vui của năm mới cách trọn vẹn! Biết bao người nhân dịp tết đến, vui Xuân bằng cách tìm đến trò chơi đem đỏ; để rồi mất tiền và bị công an bắt vì tội đánh bạc! Biết bao người vì men rượu vào người không còn làm chủ được mình dẫn đến đánh lộn đâm chém để rồi người thì thương vong, kẻ thì vào nhà tù. Tất cả đều là do họ mê man sự đời, không thực sự tin vào Chúa và triệt để thi hành những điều răn Ngài dạy!

          Qua bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta rút ra được một bài học để áp dụng vào cuộc sống của mình cho nên tốt đẹp: Đó là phải luôn nhạy bén để nhìn nhận thấy Chúa qua những dấu chỉ xảy ra quanh mình và phải hoàn toàn đặt sự tin tưởng và tin thác vào sự quan phòng trong yêu thương của Thiên Chúa đối với mỗi người và cuối cùng là phải luôn đem Lời Chúa dạy ra thực thi trong cuộc sống của mình.

 

15.2 Thứ Tư tuần 6 Quanh Năm

St 8:6-13,20-22; Tv 116:12-13,14-15,18-19; Mc 8:22-26

Ðôi mắt đức tin

          Mù thể xác có nhiều cấp độ nhưng nói chung là không thấy rõ hoặc không thấy sự vật ở chung quanh. Anh mù trong Tin mừng hôm nay ngồi ăn xin bên vệ đường có lẽ là người mù tịt không biết Chúa Giêsu đi qua, nhưng Ngài động lòng thương cứu chữa anh, đồng thời cũng qua phép lạ này Chúa Giêsu muốn giới thiệu cho các môn đệ: Ngài là ánh sáng trần gian. Ngài nhổ nước miếng trên đất, trộn thành bùn và xức vào mắt anh mù, rồi bảo anh ta: “Hãy đến hồ Siloê mà rửa”. Vậy anh ta đến rửa ở hồ và khi về thì nhìn thấy được.

          Anh ta sung sướng vô cùng vì được nhìn thấy sự vật chung quanh. Trước đây người ta kể cho anh nghe đủ mọi thứ chuyện chung quanh nhưng anh ta không có một khái niệm nào về sự vật. Đối với anh lúc nào cũng là đêm tối dầy đặc. Bây giờ anh được trực tiếp ngắm xem cảnh vật, cái gì cũng đẹp, cái gì cũng kỳ lạ… không cần phải cắt nghĩa cho anh nữa.

          Tin Mừng theo thánh Marcô mà chúng ta lắng nghe hôm nay, thuật lại việc Chúa Giêsu cho một người mù được thấy. Ðặt câu truyện này vào bối cảnh cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu với nhóm Biệt phái cũng như với các môn đệ, thánh Marcô muốn cho chúng ta thấy rằng đức tin tức ơn sáng mắt là một ơn nhưng không của Thiên Chúa. Những người Biệt phái đã tự giam hãm trong sự mù quáng tức trong ánh sáng riêng của họ để khước từ Chúa, đồng thời chối bỏ chính ánh sáng của Thiên Chúa; trong khi đó, các môn đệ lại lơ đễnh đến độ không thể thấy được ý nghĩa các phép lạ của Chúa Giêsu. Chữa lành cho người mù, Chúa Giêsu vừa tỏ quyền năng của Ngài, vừa cho thấy chỉ mình Ngài mới có thể ban cho con người ánh sáng mới, nhờ đó con người có thể thấy được Thiên Chúa.

          Anh mù bẩm sinh được Chúa Giêsu chữa lành đã trải qua nhiều thử thách gây ra bởi những người Biệt Phái ganh ghét Chúa Giêsu, và quyết tâm trừ khử Ngài.

          Anh đã phải chiến đấu cam go trước cám dỗ được yên thân, được cơ chế tôn giáo ủng hộ, được đám đông tuyên dương, để có thể nói thật điều mình nghĩ đúng, nói đúng điều mình nghĩ thật, khi công khai “kể đúng” những gì Chúa Giêsu đã “thật sự” làm cho anh, và nhắc lại “đúng” những lời của người chữa lành mắt đã “thực sự” nói với anh. Anh phải chiến đấu vất vả vì lực lượng hùng hậu, và ma mãnh của Bóng Tối đã không chấp nhận Ánh Sáng được trả lại cho anh, vì Bóng Tối muốn mãi mãi thống trị anh, và không muốn anh đón nhận Ánh Sáng như hồng ân.

          Những năm tháng mù loà, anh không thể mường tượng thế nào là ánh sáng, vì bóng tối với thời gian đã làm anh quen và không còn thấy xa lạ, khó chịu, bực bội với bóng tối, như người sống nhiều năm trong hang động, hay lâu ngày bị giam cầm dưới hầm tối sẽ lảo đảo, té nhào phút đầu tiếp cận ánh sáng, nên khi có ánh sáng ùa vào cuộc đời, anh cũng phải dũng cảm chiến đấu để Vượt Qua bóng tối, đi vào Ánh Sáng, chứ không ngoan cố ở lì trong bóng tối và không chịu thoát ra.

          Qua phép Rửa, chúng ta nhận được ánh sáng của Thiên Chúa, Ngài ban cho chúng ta chính đôi mắt của quả tim để có thể nhìn thấy Ngài trong mọi sự và trong từng phút giây cuộc sống. Ước gì chúng ta luôn nhận ra sự hiện diện của Chúa, để chúng ta có thể vượt thắng mọi gian nan thử thách trong cuộc sống và luôn tin vững nơi tình yêu của Chúa.

          Trình thuật việc Chúa Giêsu chữa mắt cho người mù từ bẩm sinh khá dài. Có rất nhiều chi tiết và mỗi chi tiết có một ý nghĩa riêng. Các thánh Giáo phụ đã cắt nghĩa nhiều về vấn đề này, nhất là việc “lấy bùn hòa nước bọt xức mắt người mù”. Nhưng tựu trung, tất cả mọi hành vi đó là dấu chỉ để mọi người tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Nhờ tin như thế mà người ta có sự sống.

          Như vậy, cùng một lúc Chúa Giêsu làm hai phép lạ: chữa cặp mắt thể xác cho anh mù có cái nhìn của lòai người, và chữa cặp mắt đức tin cho anh này có cái nhìn Thiên Chúa. Trong hai phép lạ chữa mắt thì việc chữa mắt đức tin quan trọng hơn vì nhờ cặp mắt này mà người mù đã nhận ra Chúa Giêsu là Thiên Chúa và đã tuyên xưng: “Lạy Thầy, con tin”, rồi anh sấp mình trước mặt Ngài

          Như anh mù được sáng mắt, nhờ bí tích Thanh Tẩy và Thêm Sức, chúng ta được Thiên Chúa cho sáng mắt, được lớn lên và xứng đáng hơn mỗi ngày với ơn huệ làm con cái Ánh Sáng, khi thấy tất cả mọi người, mọi sự chung quanh mình, và nhìn mọi biến cố xẩy ra hằng ngày theo cái nhìn của Thiên Chúa, và dưới cái nhìn của Thiên Chúa. Nhờ đó, chúng ta không ngủ mê trong bóng tối, nhưng trỗi dậy dưới ánh sáng rạng ngời của Chúa Giêsu (x. Ep 5,14), Ánh Sáng cứu độ của Thiên Chúa, Ánh Sáng cứu chuộc muôn dân.

 

16.2 Thứ Năm tuần 6 Quanh Năm 2023

St 9:1-13; Tv 102:16-18,19-21,29,22-23; Mc 8:27-33

THẦY LÀ ĐẤNG KITÔ

          Trong tương quan thầy trò gần gũi, điều quan trọng là phải hiểu nhau cho đúng cho đủ, để rồi mới có thể tin tưởng và yêu thương lẫn nhau. Trước câu hỏi đó, đại diện cho nhóm 12, Phêrô lên tiếng tuyên xưng "Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa”. Đây mới thực sự là câu trả lời Chúa Giêsu muốn nghe, vì các ông biết đích xác Ngài là Đức Kitô có nghĩa là Đấng được xức dầu để làm vua. Người nghiêm giọng truyền các ông không được nói điều ấy với ai, vì người Do Thái đang chờ đợi một Đấng Thiên Sai khác với những gì Ngài sắp mặc khải cho các Tông Đồ.

          Câu trả lời của Phêrô về vị thế của Chúa Giêsu rất chuẩn mực, khác xa với những nhận định của người Do thái đương thời. Thế nhưng làm sao Phêrô lại có được một cảm nhận sâu xa về vị thế của Chúa Giêsu nếu không bởi ân ban từ trời.

          Câu hỏi “Đức Giêsu là ai?” không phải chỉ quan trọng cho Tiểu Vương Hêrôđê mà còn quan trọng hơn cho các Tông Đồ, những người đang theo Chúa Giêsu. Nếu các Tông Đồ không biết đúng Ngài là ai thì làm sao các ông có thể tiếp tục sứ vụ của Chúa. Nhất là khi các ông phải đối diện với những đau khổ và cái chết sắp tới của Ngài.

          Mở đầu trình thuật, ta được đặt vào trong bầu khí cầu nguyện của Chúa Giêsu, Ngài cầu nguyện một mình. Đây là thời gian quý giá để Chúa gặp gỡ Chúa Cha; đồng thời cũng là khoảng thời gian riêng tư với các Tông Đồ. Trong lúc này, Chúa Giêsu lên tiếng hỏi các môn đệ: "Dân chúng nói Thầy là ai? " Đây là câu hỏi liên quan đến dư luận đang bàn tán gì về căn tính của Chúa. Theo dư luận đồn thổi, thì họ coi Chúa Giêsu là tiên tri Êlia hoặc Gioan Tẩy Giả hay một tiên tri nào đó xuất hiện trở lại.

          Sau khi lắng nghe những lời đồn thổi đó, Chúa Giêsu không bàn luận tới sự đồn thổi và nhận xét của dư luận. Ngài không quan tâm đến điều đó. Bỏ dư luận qua một bên, Ngài muốn biết các Tông Đồ nhận xét Ngài là ai.  Vì thế, Chúa Giêsu lại hỏi các ông: Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Đây là một điều thật đặc biệt.

          Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta cũng thường dễ dàng nhận định về người khác theo nhãn quan tự nhiên, dựa vào những khả năng, uy tín, địa vị, bằng cấp. Nhưng có lẽ nhiều khi nhận định của con người lại rất khác xa với thực tại sâu thẳm của nhân vật ấy.

          Phêrô đã mau mắn nhận định Chúa Giêsu là Đấng Kitô theo ơn soi sáng của trời cao là một bài học đáng giá cho mỗi người chúng ta. Thiên Chúa luôn mời gọi chúng ta hãy nhìn người khác bằng ánh mắt yêu thương, nhân từ, cảm thông, tin tưởng như chính Ngài nhìn họ. Chỉ khi nào chúng ta biết nhìn tha nhân bằng cái nhìn bao dung quảng đại ấy, chúng ta mới có thể nhận ra họ là ai, và nhất là nhận ra Thiên Chúa đang ẩn mình trong tất cả những người chúng ta gặp gỡ trên hành trình cuộc sống. Chúng ta hãy khẩn nài Thiên Chúa ban cho chúng ta một cái nhìn như thế khi đứng trước một người anh em đồng loại, dù họ có là ai đi nữa.

          Đức Kitô mà Phêrô vừa tuyên xưng lại là Đức Kitô không như mọi người khát vọng, và ngay cả chính Phêrô cũng lầm lẫn về Ngài như thế. Thật vậy, sau lời tuyên xưng thật xác quyết: “Thầy là Đấng Kitô”, Phêrô đã phải vô cùng ngạc nhiên và bắt đầu trách Ngài. Lời trách cứ của Phêrô đã làm Chúa Giêsu phải nặng lời với ông : “Xa tan, lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (c.33).

          Ở đây Chúa Giêsu đã phân định cho chúng ta thấy rõ ranh giới giữa tư tưởng cao siêu của Thiên Chúa và tư tưởng thấp hèn của con người đầy giới hạn. Chúng ta thường suy nghĩ, nhận định về con người hay sự kiện theo nhãn quan rất tự nhiên, nên sai lầm là chuyện thường tình của con người. Điều quan trọng là làm sao chúng ta đủ khiêm tốn để nhận ra những giới hạn của bản thân để cậy nhờ vào ơn Chúa soi sáng trong mọi tình huống của cuộc sống.

          Người Do thái và cả thánh Phêrô chỉ biết nhìn về Đấng Kitô sẽ là Vua bách chiến bách thắng giải thoát dân khỏi ách nô lệ của ngoại bang, và lên ngôi thống trị đầy vinh quang danh dự. Họ luôn khát mong một Đấng Kitô như thế. Nhưng tất cả chỉ là nghĩ suy của con người, không phải của Thiên Chúa. Đấng Kitô của Thiên Chúa đích thực là Đấng phải kinh qua nhiều đau khổ, tủi nhục, bị giết chết, rồi sẽ sống lại.

          Phêrô đã không thể chấp nhận sự thật ấy, nên đã bị Chúa khiển trách. Khi đứng trước cuộc khổ nạn của Chúa, ông vẫn còn nghi ngờ, ái ngại, rồi chối Chúa những ba lần. Nhưng sau ánh nhìn yêu thương tha thứ của Chúa, ông đã hối hận sâu sa suốt cuộc đời. Để rồi sau biến cố Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần đã biến đổi ông hoàn toàn để từ đó, ông hăng say loan báo về một Đấng Kitô đích thực của Thiên Chúa, và đã dùng chính cái chết của mình để chứng minh tình yêu và niềm tin vào Đấng Kitô. Bài học của Phêrô thật cụ thể và sống động cho mỗi chúng ta hôm nay trong môi trường đầy nhiễu nhương và phức tạp này.

          Để có được cái nhìn chân thực nhất về Thiên Chúa và thánh ý Ngài, chúng ta cần có ơn Chúa Thánh Thần soi sáng hướng dẫn. Nhưng chỉ trong sự thinh lặng sâu xa của nội tâm, chúng ta mới có thể nhận ra tiếng nói của Ngài. Thế nên, chúng ta cần đẩy xa khỏi tấm lòng những ồn ào náo động của đam mê, thú vui, hưởng thụ với bao toan tính của trần thế, để dễ dàng nhận ra tiếng Ngài.

          Đấng Kitô phải kinh qua đau khổ, sự chết mới bước vào vinh quang. Cuộc sống hôm nay của mỗi người chúng ta cũng đầy dẫy bao thương đau khổ sầu, với nhiều thử thách trăm bề. Tất cả đều là những cơ hội để chúng ta bước theo lối đường thương đau của chính Ngài, Đấng đã đi trước và luôn đồng hành với chúng ta. Ý thức giá trị cứu độ cao quý từ những đau khổ trong cuộc sống, chúng ta sẽ dễ dàng đón nhận tất cả với niềm tin yêu phó thác vào tình thương cứu độ của Đức Kitô. Chỉ trong niềm tin vào Thiên Chúa, vào thập giá Đức Kitô, những đau khổ đời này mới được đóng ấn một ý nghĩa và giá trị cao quý, là cửa ngõ đưa chúng ta vào vương quốc yêu thương Nước Trời, nơi Đức Kitô thật sự là Vua muôn vua, Chúa các chúa.

          Xin cho những tâm hồn chưa nhận biết Chúa là Vua đích thực của cuộc đời, được lắng nghe, hiểu biết và cảm nhận sâu xa về tình thương cứu độ của Chúa, qua đời sống chứng tá đầy yêu thương và phục vụ, biết can đảm vui tươi đón nhận mọi đau khổ thử thách Chúa gởi đến trong cuộc đời chúng con.

18.2.23  Thứ Bảy tuần 6 Mùa Quanh Năm
Dt 11:1-7; Tv 145:2-3,4-5,10-11; Mc 9:2-13
Vinh quang của Chúa
          Tin Mừng hôm nay tường thuật việc Chúa Giêsu dẫn các môn đệ lên núi và Chúa biến hình trên đó.
          Theo quan niệm của người Do thái núi cao là nơi Chúa ngự. Vì thế lên núi là đi gặp gỡ Chúa. Lên núi là một việc làm đòi nhiều cố gắng. Phải dứt bỏ khỏi những ràng buộc của cuộc sống thường ngày với những lo toan bận bịu cho bản thân, cho gia đình. Phải dành thời giờ rộng rãi cho việc leo núi. Phải phấn đấu với bản thân khi leo lên độ cao dốc dác khó đi. Nhưng lên đỉnh rồi ta sẽ thấy tâm hồn nhẹ nhàng thư thái.
          Chúa Giêsu chỉ đưa theo ba môn đệ thân tín vì gặp gỡ với Chúa là một gặp gỡ thân tình. Chúa muốn ta đến với Chúa trong tình thân mật. Chúa muốn cùng ta thực hiện một tương giao giữa tâm hồn với tâm hồn. Chúa muốn cùng ta đối thoại riêng tư diện đối diện. Tình yêu triển nở trong thiên nhiên và trong thanh vắng. Núi cao thanh vắng là nơi chốn thuận tiện cho ta đón nhận tình yêu của Chúa và bày tỏ với Người tình yêu của ta.
          Trên núi cao, Đức Giêsu gặp gỡ thân mật với Chúa Cha. Bỗng chốc Người biến hình. Y phục trở nên trắng như tuyết. Khuôn mặt Người sáng láng. Thực ra, ai gặp được Chúa cũng đều biến hình. Ta hãy nhớ lại ông Môsê. Sau khi ở trên núi Sinai 40 đêm ngày tiếp xúc thân mật với Chúa, mặt ông trở nên sáng láng đến độ, khi ông xuống núi, dân chúng không dám nhìn vào. Ông phải lấy khăn che mặt, dân chúng mới dám đến gần ông. Gần đèn thì sáng.
          Tiếp xúc thân mật với Chúa sẽ làm thay đổi tâm hồn ta. Tình yêu của Chúa sẽ đốt nóng tâm hồn ta, xua đi sự thờ ơ nguội lạnh. Sự dịu dàng của Chúa sẽ làm cho ta bớt đi tính độc ác khắc nghiệt. Sự khiêm nhường của Chúa sẽ diệt trừ thói kiêu căng trong ta. Sự bao dung của Chúa sẽ mở rộng tâm hồn để ta biết đón nhận anh em. Sự tha thứ của Chúa đổi mới tâm hồn, rửa sạch mọi nhơ uế trong ta. Càng gần gũi Chúa, tâm hồn ta càng được thanh luyện khỏi mọi nhỏ nhen, ích kỷ. Càng yêu mến Chúa, ta càng thêm yêu mến anh em. Càng kết hiệp mật thiết với Chúa, tâm hồn ta càng nên giống Chúa hơn.
          Các môn đệ chứng kiến việc Chúa Giêsu đàm đạo với các ông Môsê và ông Êlia. Thánh Phêrô thích quá muốn ở lại luôn trên núi : « Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay ! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Môsê và một cho ông Êlia » (Mc 9,5).
          Để lên núi người ta phải từ bỏ những gì là cồng kềnh, nặng nề, cản trở, vướng víu, nghĩa là hành trang phải thật đơn giản và gọn nhẹ. Và thay vì kiêu căng, ích kỷ, ngạo mạn, người ta phải từ bỏ cái tôi ích kỷ, cái tôi của kiêu ngạo để lên núi gặp Thiên Chúa. Để gặp gỡ được Thiên Chúa, bài đọc một hôm nay cho chúng ta biết là phải có lòng tin. Chính vì có lòng tin mà các tổ  phụ được gặp Thiên Chúa ; đồng thời đức tin sẽ biến đổi tâm hồn mỗi người và đức tin là bảo chứng giúp chúng ta đi vào mầu nhiệm cuộc khổ nạn của Chúa với niềm cậy trông và tín thác.
          Ta thấy Chúa tỏ hiện đúng dung nhan thật của Ngài. Một dung nhan thánh thiện rạng ngời mà bấy lâu nay nhân tính đã che phủ thiên tính của Ngài. Một dung nhan tinh tuyền của một vì Thiên Chúa là Thánh, ngàn trùng chí thánh đến nỗi cả ba môn đệ đều ngây ngất vì được chiêm ngắm dung nhan thật của Thầy Giêsu. Ba môn đệ đã cúi mình kính phục trước dung nhan thật của Chúa Giêsu. Đó chính là sứ điệp mà Chúa đang mời gọi chúng ta: hãy tỏ hiện dung nhan thật của chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa ra trong lời nói và việc làm của mình. Hãy thể hiện sự thánh thiện của hình ảnh Thiên Chúa nơi chính mình để anh em được chiêm ngưỡng. Hãy biểu lộ lối sống tinh tuyền, chân thật của phẩm giá làm ngừơi để anh em được hạnh phúc khi sống với chúng ta.
          Chúa hiển dung nghĩa là Chúa tỏ hiện đúng dung nhan thật của Ngài. Một dung nhan thánh thiện rạng ngời mà bấy lâu nay nhân tính đã che phủ thiên tính của Ngài. Một dung nhan tinh tuyền của một vì Thiên Chúa là Thánh, ngàn trùng chí thánh đến nỗi cả ba môn đệ đều ngây ngất vì được chiêm ngắm dung nhan thật của Thầy Giêsu. Ba môn đệ đã cúi mình kính phục trước dung nhan thật của Chúa Giêsu. Đó chính là sứ điệp mà mùa chay đang mời gọi chúng ta: hãy tỏ hiện dung nhan thật của chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa ra trong lời nói và việc làm của mình. Hãy thể hiện sự thánh thiện của hình ảnh Thiên Chúa nơi chính mình để anh em được chiêm ngưỡng. Hãy biểu lộ lối sống tinh tuyền, chân thật của phẩm giá làm ngừơi để anh em được hạnh phúc khi sống với chúng ta.
          Hãy gạn đục khơi trong để hình ảnh của Chúa được tỏ hiện ra nơi bản thân của chúng ta. Hãy tìm lại  hình ảnh tinh tuyền ban đầu của mình, một hình ảnh chưa bị lòng ham muốn danh lợi thú làm hoen ố, mới thấy phẩm giá cao đẹp của con người thật cao qúy hơn muôn loài. Có ý thức được sự cao qúy nơi phẩm giá làm người mới biết trân trọng và gìn giữ cho mình và cho anh em.

17.2.23 Thứ Sáu tuần 6 Mùa Quanh Năm
St 11:1-9; Tv 33:10-11,12-13,14-15; Mc 8:34; Mc 9:1
ĐIỀU KIỆN ĐỂ THEO CHÚA
          Bất cứ ai muốn thành công về một lãnh vực nào đều phải trải qua một giai đoạn gọi là “thử thách”để tiến tới mục tiêu của mình. Lời Chúa hôm nay cũng mời gọi mỗi người lên đường, bước theo Đức Ki-tô, vì Ngài là hạnh phúc đích thực dẫn đưa chúng ta tới Nước Thiên Chúa. Vậy, làm thế nào để có thể thành công trong việc đi theo Ngài? Tin mừng thánh Mac-cô thuật lại: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”(c.34).
          Sau khi nghe Phêrô nói lên sự thật: "Thầy là Ðức Kitô", thì Chúa Giêsu xác định rõ hơn thế nào là Kitô theo quan điểm của Thiên Chúa. Chúa Giêsu không ngần ngại minh định tư cách Kitô của mình, đó là một Ðấng Kitô theo hình ảnh của Người Tôi Tớ Yavê như được nhắc đến trong sách Tiên tri Isaia. Ngài sẽ không là Ðấng Kitô theo ý riêng của mình, nhưng hoàn toàn theo ý Thiên Chúa Cha như đã được tiên báo nơi hình ảnh người tôi tớ Thiên Chúa và ngày càng được mạc khải rõ hơn nơi Người Con yêu dấu của Thiên Chúa; Thiên Chúa muốn Ngài hoàn thành kế hoạch bằng chính đau khổ và cái chết của Ngài. Mạc khải ấy lẽ ra phải được các môn đệ đón nhận với cảm thông và chia sẻ. Phêrô đã đại diện các Tông đồ để tuyên xưng: "Thầy là Ðức Kitô", nhưng chỉ tiếc liền sau đó, ông đã không hoàn toàn cảm nghĩ theo cách thức Thiên Chúa, nhưng đã theo cách thức nhân loại. Phêrô phản đối thái độ vâng phục của Chúa Giêsu, và một cách vô tình, ông đã lôi kéo Ngài ra khỏi tư cách Kitô.
          Chúa Giêsu chẳng những quở trách Phêrô, Ngài còn đưa ra một giáo huấn quan trọng: "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta". Từ nay cả Phêrô lẫn những ai muốn làm môn đệ Chúa đều phải sống thân phận tôi tớ như Chúa. Nhưng Ngài còn thêm: "Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất". Làm tôi tớ Thiên Chúa, từ bỏ chính mình, vác thập giá, đồng nghĩa với chấp nhận hy sinh mạng sống mình vì Tin Mừng. Nếu có bao giờ con người cảm thấy ngại ngùng với những yêu sách đó, thì cần phải nhớ một lời cảnh giác của Chúa cũng như trong bối cảnh đó: "Ai hổ thẹn chối Ta và các lời Ta, thì Con Người cũng sẽ hổ thẹn chối nó, khi Ngài đến trong vinh quang Cha Ngài với các thánh thiên thần."
          Nói đến từ bỏ, dù chỉ là một thói quen không tốt nho nhỏ, cũng không mấy ai ưa thích. Vì nói đến“từ bỏ”là đụng chạm đến “hy sinh”, mà hy sinh thì phải chịu đau đớn, thiệt thòi, mất mát.... Cũng như nói đến “tình yêu”thì đụng đến “tự do”, mà muốn được tự do thì phải dấn thân, mạo hiểm... Chính sự mạo hiểm này nói lên sự bấp bênh trong chọn lựa của chúng ta, nhưng càng bấp bênh bao nhiều thì sự hy sinh và từ bỏ chính mình càng cao quý bấy nhiêu, nhất là khi chúng ta “từ bỏ chính mình” cho một lý tưởng,  một tình yêu nào đó hoặc cho một Ai đó rất đặc biệt, rất quan trọng trong cuộc đời của chúng ta. Chúa đã từng nói:“Ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”là vậy (x.Mc 8,35). Tuy nhiên, từ bỏ chính mình để theo Đức Giêsu không phải chỉ quyết tâm một lần là đủ, mà là một thái độ luôn sẵn sàng từ bỏ trong từng phút giây của cuộc sống.
          Như thế, việc “từ bỏ chính mình”vì Chúa, thì chúng ta chẳng thua lỗ tí nào. Trái lại, chúng ta từ bỏ cái mau qua để có được sự sống vĩnh hằng; từ khước cái tương đối để được cái Tuyệt Đối là chính Đức Kitô; và từ bỏ cái thân xác tội lỗi để có được sự sống đời đời.
          Đối với các tín hữu Do Thái ngày xưa, thập giá chính là án tử hình nặng nhất, nhục nhã và khủng khiếp nhất của luật hình La mã. Những tín hữu đã bị bắt bớ và lãnh án xử tử thập giá, thì quả là một chuyện khủng khiếp đối với họ. Vậy mà Đức Giêsu lại mời gọi chúng ta vác cái ô nhục đó để đi theo Ngài!
          Lời mời gọi của Đức Giêsu xem ra là một nghịch lý cho cuộc đời, nhưng đối với Thiên Chúa, đó không phải là một ô nhục hay là sự điên rồ mà họ lầm tưởng; trái lại, đó là một dấu chỉ chiến thắng của tình yêu mà chính Đức Kitô đã đón nhận đau khổ trên thập giá bằng một giá rất đắt, một thái độ vâng phục và phó thác cho thánh ý Chúa Cha để trở nên máng chuyển thông ơn cứu độ cho loài người chúng ta. Vì vậy, khi nhìn lên cây thánh giá có Chúa Giêsu hiện diện, nhắc nhở chúng ta ý nghĩa của sự đau khổ mà Chúa Giêsu đã chịu để chúng ta được tham dự vào mầu nhiệm cứu độ và phục sinh vinh quang của Người. Ước gì tình yêu thập giá chiếu sáng những ai muốn làm môn đệ của Chúa Giêsu vác lấy mà đi theo Người.   
          Phải vác thập giá, phải từ bỏ mình, nguy cơ to lớn như vậy không phải là sự thiệt thòi, mất mát đâu. Trái lại, đó chính là một mối lợi. Thật là điều nghịch lý: người môn đệ lấy Đức Kitô làm con bài chủ trong cuộc chơi của mình, người ấy là kẻ thắng cuộc. Mất, chính là được với điều kiện là sự mất mát này là vì Chúa Giêsu và vì Phúc âm. Một cuộc sống chịu thiệt thòi ví Chúa Giêsu và vì Phúc âm như thế được coi như một sự thất bại xét về mặt hoàn toàn trần thế giống như cuộc đời của Chúa Giêsu vậy; nhưng nó lại là một sự hoàn bị, đạt tới mức tròn đầy, bởi lẽ đó là một cuộc đời hoàn toàn quy hướng về Chúa. Trong chiều hướng ngược lại, con người chỉ tìm tán dương, tâng bốc, đề cao cái “tôi” của mình, chỉ muốn giữ mạng sống mình cho riêng mình thôi, người ấy có thể chắc chắn đánh mất cuộc sống ấy, không đạt được đích là sự thăng hoa đích thực. Và cho dù có giầu sang bạc ngàn bạc triệu, người ấy cũng sẽ không có thể dùng tiền mua được cho mình sự sống của Thiên Chúa.
          Chúa Giêsu đặt nét chấm phá cho bức họa chân dung người môn đệ bằng một câu nhấn mạnh đến tầm quan trọng của chứng từ: không hổ thẹn vì Chúa Giêsu. Lòng tin của người môn đệ không phải là một chuyện riêng tư; đức tin ấy đòi hỏi được biểu lộ và khẳng định công khai cho dù gặp phải những khó khăn. Lòng tin không phải là chiếc áo, vui thì mặc vào, còn khi gặp phiền hà rắc rối thì rũ bỏ.
          Chúng ta có là môn đệ của Chúa Kitô không? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần tự hỏi mình xem ta cảm nghĩ thế nào, có tâm tình gì khi người ta nói đến đạo Chúa, Giáo hội, Chúa Kitô… khi ta đang làm việc, ở trong gia đình, hay trong mối quan hệ xã hội bạn bè. Chúng ta có dám đứng về phía Chúa Giêsu Kitô, không ba hoa. khoa trương, nhưng kiên quyết và xác tín? Đối với người môn đệ, việc bày tỏ và khẳng định niềm tin của mình không phải là chuyện tùy tiện.

 

THỨ HAI TUẦN 6 THƯỜNG NIÊN,
Mc 8, 11-13
CẢM NGHIỆM TÌNH YÊU CHÚA ĐỂ ĐỪNG ĐÒI DẤU LẠ NỮA
            Nhóm Pharisiêu đến đòi Chúa Giêsu làm một dấu lạ từ trời, phép lạ từ Thiên Chúa để thử Người. Chúa không cho một phép lạ nào để thỏa mãn ý riêng của họ. Hành động từ chối dứt khoát của Chúa Giêsu nói lên một trong những hoa trái của đức tin, đó là đức tin sinh ra phép lạ.
            Chúa Giêsu đã làm nhiều phép lạ trong mấy năm sứ vụ nhưng khi suy nghĩ, ta thấy những phép lạ đó không nhằm ra oai biểu diễn quyền uy, cũng không nhằm lôi kéo sự tôn vinh của dân chúng. Ngài đã từ chối nhảy xuống từ nóc đền thờ: một cám dỗ làm điều ngoạn mục để thu hút quần chúng.Ngài cũng từ chối xuống khỏi thập giá: một hành vi đủ làm bẽ mặt những kẻ giết Ngài. “Cứ xuống khỏi thập giá để chúng ta thấy và tin” (Mc 15, 32).
            Chúa Giêsu không mua niềm tin của đám đông bằng sự phản bội Cha. Ngài đã ở lại trên thập giá như một người có vẻ thua cuộc… Chúa không bao giờ làm dấu lạ để thúc bách người ta tin nhận. Như Tin mừng trình bày, Chúa Giêsu đã làm rất nhiều phép lạ, trong đó có những phép lạ lớn như dẹp yên bão táp, trục xuất quỷ ra khỏi người ta, chữa một bà loạn huyết, làm cho đứa con gái ông Giairô sống lại, vậy mà người Pharisêu vẫn chưa tin Ngài.
            Sau những dấu lạ Chúa Giêsu đã làm, người Pharisêu còn xin một dấu lạ khác. Lời yêu cầu của họ, cho chúng ta thấy những đòi hỏi mù quáng thiếu đức tin như muốn thách thức Thiên Chúa, hay cố tình không chịu tin vào quyền năng của Người. Mặc dù họ rất thông minh, nhưng không hề khiêm nhường đơn sơ, nên đứng trước biết bao phép lạ Chúa đã làm, nhưng người biệt phái vẫn còn mơ hồ, nghi ngờ, đòi hỏi Người thêm một phép lạ từ Trời nữa, khiến Chúa Giêsu phải lắc đầu não nuột: “sao thế hệ này lại xin một dấu lạ”.
            Mặc dù Thiên Chúa cố gắng thể hiện tình yêu của Người đến với họ, nhưng họ là những người yếu đuối, kém cỏi trong đức tin, nhưng vẫn tỏ ra mình là những người hiểu biết, nhìn xa trông rộng. Nhưng tình yêu Thiên Chúa luôn lan tỏa bằng sự tự nguyện, không phải là ép buộc. Dấu lạ của Người bằng lòng tin yêu, bằng chính tâm hồn hướng về Người. Thiên Chúa chỉ cần lòng tin, như lòng tin của người phụ nữ thật mạnh mẽ nhưng đơn sơ giản dị: “Tôi chỉ cần sờ được vào áo của Người thôi là sẽ được cứu”. ( Mt 9,22)
            Không phải là Chúa Giêsu không đáp ứng yêu cầu của họ, bởi vì Ngài là chính “dấu lạ từ trời,” điều đã được chứng thực khi Ngài chịu phép rửa: “Có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con yêu dấu của Ta” (Mc 1,11). “Dấu lạ từ trời” đó có tên là Giona khi Ngài sẽ trỗi dậy vinh hiển sau ba ngày chịu mai táng trong lòng đất. Cũng như dân Do Thái trong sa mạc thử thách Chúa, để rồi cứng lòng tin vẫn hoàn cứng lòng tin “dù đã thấy những việc Chúa làm” (Tv 95,8-9), người Pharisêu cũng vẫn cứng lòng tin, dù đã thấy biết bao dấu lạ, ngay cả dấu lạ Giona!
            Thật vậy, Chúa Giêsu xuống thế làm người để thông ban ơn cứu độ cho con người. Muốn được cứu độ, con người phải tin vào Thiên Chúa và tin vào Đấng Người sai đến là Chúa Giêsu. Hoa trái đầu tiên của đức tin là được Chúa Giêsu ban ơn qua các phép lạ chữa lành: Người bại liệt được chữa lành (Mc 2, 1-12), người đàn bà bị băng huyết được khỏi vì bà tin rằng chỉ cần sờ vào áo của Chúa Giêsu là được cứu (Mc 5, 25-34), v.v.
            Cuối cùng, hoa trái trọn vẹn của đức tin là được hưởng ơn cứu độ trọn đầy bên Thiên Chúa Hằng Sống như người trộm lành được Chúa hứa: “Ngay trong hôm nay, ngươi sẽ được ở trên Thiên đàng với Ta” vì anh tin Chúa Giêsu có thể cứu anh (Lc 23, 42).
            Ngược lại, phép lạ không thể xảy ra nếu con người không có lòng tin; bằng chứng là Chúa Giêsu không làm phép lạ tại quê hương Nazareth vì dân chúng không tin vào Người. Đức tin yếu kém cũng không làm phát sinh phép lạ như trường hợp các môn đệ không thể chữa lành đứa trẻ bị kinh phong bởi lòng tin của các ông còn yếu (Mt 17, 20). Như vậy, hoa trái của đức tin là đức tin sinh ra phép lạ, chứ không phải phép lạ đương nhiên phát sinh để tin.
            Thực ra những phép lạ Chúa làm, nhất là những phép lạ lớn vừa kể đã đủ chứng minh Ngài là Đấng có quyền phép từ trời rồi. Thế nhưng họ không tin là chỉ vì họ ngoan cố, bởi đó Chúa Giêsu nói sẽ chẳng cho họ một dấu lạ nào nữa.
            Phép lạ Chúa làm chỉ có ý nghĩa và giá trị cho người thành tâm chứ không cho người Pharisêu cứng lòng. Như vậy, Tin mừng hôm nay cho thấy phép lạ không sinh ra đức tin mà chỉ là dấu chỉ dẫn người ta tới đức tin. Bởi thế, sông đạo mà chỉ quan tâm tới phép lạ (như Lộ Đức, Fatima) thì chưa hẳn là sống đạo thật, sống đạo thật là sống bằng đức tin.
            Câu chuyện của nhóm Pharisiêu vẫn luôn hiện thực với chúng ta hôm nay. Chúng ta thường xin Chúa làm phép lạ để thử quyền năng, tình yêu của Chúa. Chúng ta quên rằng, Chúa đã thương tạo dựng chúng ta cách lạ lùng, đó là phép lạ mà chúng ta dùng cả đời này để tạ ơn Chúa cũng không đủ. Không những thế, Thiên Chúa còn cứu độ chúng ta cách lạ lùng hơn nữa khi sai chính Người Con của Ngài đến chịu chết để cứu độ chúng ta.
            Cảm nghiệm được tình yêu của Chúa, chúng ta phải sống theo thánh ý Chúa để không phụ lòng và sự tín nhiệm của Chúa. Chúng ta cũng đừng quên: Thánh lễ là phép lạ hiện tại hóa ơn cứu độ của Thiên Chúa. Siêng năng, sốt sắng tham dự Thánh lễ trọn cả xác hồn sẽ đem lại ơn cứu độ, giúp chúng ta hưởng nếm trước hạnh phúc Nước Trời, đó là phép lạ viên mãn của Chúa Giêsu. Vậy, chúng ta còn phải xin Chúa một phép lạ nào nữa? Hay, xin phép lạ để làm gì?
            Nhiều khi chúng ta vẫn đòi những điều lạ lùng hơn, lớn lao hơn. Như người Pharisêu, chúng ta chẳng hề mãn nguyện. Chúng ta vẫn muốn thử Thiên Chúa, bởi lẽ chúng ta không tin Ngài. Thương thì chúng ta vẫn dễ rơi vào trạng thái xin cho tôi thấy được sự kỳ diệu của Tình Yêu nơi những điều tưởng như là tự nhiên của cuộc sống.
            Ai trong chúng ta cũng dễ bị hấp dẫn bởi cái lạ thường, cái khác thường. Còn cái bình thường, như thường, thì ít hấp dẫn, lắm khi tẻ nhạt.Chỉ cần nghe đâu đó có hiện tượng khác thường là người ta đổ xô đến, lắm khi chẳng cần suy nghĩ để biết có thực không, có đáng tin không.Thật vậy, ta hãy xin Chúa cho ta tĩnh lặng để ta thấy tình yêu Chúa trao ban cho chúng ta trong chuỗi ngày sống chính là sự hiện diện của Chúa và cũng chính là dấu lạ mà Chúa tỏ bày cho mỗi người chúng ta.

 

THỨ BA TUẦN 6 THƯỜNG NIÊN,
Mc 8, 14-21
TRÁNH MEN XẤU
            Tin Mừng hôm nay liên quan đến phép lạ hóa bánh ra nhiều mà thánh sử Marcô đã tường thuật trước đó (Mc 8,1-10). Phép lạ ấy chứng tỏ uy quyền của Chúa Giêsu. Ngài chính là Môisen mới, ban lương thực nuôi dưỡng muôn dân. Dẫu vậy, những người Pharisêu vẫn không tin vào Chúa. Họ còn đòi hỏi Chúa cho thấy một dấu lạ từ trời (Mc 8,11).
            Phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu không chỉ muốn thể hiện uy quyền nhưng quan trọng hơn, Chúa Giê-su muốn hướng lòng dân chúng tới một thứ bánh “thiêng liêng” hơn là đơn thuần là thứ bánh vật chất. Thế nhưng, những người biệt phái và ngay cả các môn đệ thân cận với Chúa cũng mang thật nặng chất “con người”. Sau phép lạ bánh hóa nhiều, điều còn dư âm lại trong trí các môn đệ chỉ là... bánh, thứ bánh ăn rồi vẫn đói, không có gì hơn! Các môn chỉ nghĩ đến những cái trước mắt, những cái vật chất của thế giới trần tục này.
            Các ông chưa biết đi từ dấu chỉ ấy để vươn lên tới chỗ nhận ra uy quyền của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu muốn hướng các ông có cái nhìn cao hơn, khát khao những điều vĩ đại hơn thuộc thế giới thần thiêng. Vì quá quan tâm vướng bận đến tranh cải về việc thiếu mang bánh vật chất, Chúa Giêsu định hướng lại cho các môn đệ sự hiện diện của chính Chúa là Đấng quyền năng có thể biến cái không thành có.
            Các môn đệ chưa nhận ra Chúa Giêsu là ai và quyền năng của Ngài qua các phép lạ. Đây cũng là tình trạng của các tín hữu thời sơ khai và tình trạng của mỗi chúng ta trong thời đại hôm nay. Vì thế trình thuật này cũng soi sáng cho chúng ta nhận ra quyền năng của Chúa để chúng ta tín thác vào Người. Lời quở trách các môn đệ cũng là lời quở mắng chính mỗi người chúng ta hôm nay nhằm giúp chúng ta hiểu đúng về Chúa Giêsu để chúng ta mở tai và mở lòng đón nhận Người.
            Mỗi người chúng ta cần nhận biết Chúa Giêsu là ai, lời Chúa cũng giúp chúng ta hiểu để chúng ta đón nhận quyền năng của Người. Lời Chúa cũng là lời cảnh báo để chúng ta hiểu và sống tín thác cho sự quan phòng của Chúa hơn.
            Với những người thuộc phái Hêrôđê, họ chỉ lo những chuyện chính trị và quyền lợi vật chất, nên phép lạ hóa bánh ra nhiều của Chúa Giêsu cũng chẳng có ý nghĩa gì đối với họ. Bởi thế, Chúa Giêsu đã khuyến cáo các môn đệ: "Các con hãy coi chừng và giữ mình cho khỏi men biệt phái và men Hêrôđê" (Mc 8, 15).
            Men là chất xúc tác thường được dùng trong công nghệ thực phẩm để làm bánh, sữa chua.... Men, cũng có loại nhiều loại: có loại men tốt và loại men xấu, có loại men có ích và loại men có hại. Giáo huấn của Chúa Giêsu hôm nay đề cập đến loại men xấu làm tổn thương người khác, chỉ biết quy hướng về mình, men làm cho người ta phồng lên theo chiều hướng xấu.... Men đó Chúa Giêsu gọi là men Phariseu và men Hêrode, là những người luôn chống đối Ngài, chống đối những việc làm và lời rao giảng của Ngài. Họ không công nhận Chúa Giêsu, họ luôn luôn đòi Ngài làm dấu lạ để thỏa mãn thị hiếu của họ. Họ sợ sự xuất hiện của Chúa Giêsu làm cho chỗ đứng của họ bị lung lay, ảnh hưởng của họ bị chìm vào quên lãng.
             "Men biệt phái" là thói giả hình, đạo đức giả, kiêu căng, phô trương,…; "men Hêrôđê" là thói háo danh, tham lam, yêu lợi lộc, quyền bính,… Tất cả những nết xấu này của những người Pharisêu và phái Hêrôđê đã bị Chúa Giêsu nhiều lần lên án. Thế nên, lời Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ năm xưa cũng là điều mà chúng ta - những Kitô hữu hôm nay phải cẩn thận đề phòng.
            Đam mê của cải là một đam mê nổi bật nhất trong thời đại chúng ta; người người đều chạy theo của cải tiền bạc Lợi nhuận là trên hết Vì lợi nhuận là trên hết nên con người sinh ra giả dối lừa đảo nhau cũng vì lợi nhuận; thuốc giả, hàng giả, ăn gian nói dối, đến nỗi người ta cảm thấy khó tin nhau nữa Nói đến tàn ác, tán tận lương tâm thì có lẽ cũng không thời nào như thời này: vũ khí tối tân chừng nào thì giết người lại nhiều chừng ấy Nạn khủng bố đang lan rộng khắp nơi, chiến tranh ác liệt, giết người hàng loạt cử xảy ra như cơm bữa Đó là chưa nói đến các tệ nạn xã hột như ma túy, băng đảng, cướp giật, buôn phụ nữ, trẻ em Có những người tán tận lương tâm, sống thiếu lương tri, hình như chỉ nghĩ đến cái ác để thủ lợi cho mình mà thôi
            Vượt lên trên cái “bình thường” của con người để tin tưởng tuyệt đối nơi Thiên Chúa luôn luôn là một thách đố đối với các môn đệ xưa và cũng là của mỗi người bước theo Chúa Giê-su hôm nay. Chất “men biệt phái” trong mỗi người luôn trội lên trong  rất nhiều sự kiện: một chút thiếu thốn ập đến, hay một ơn lành nào xảy ra, hoạn nạn xảy ra…dường như rất nhiều lần ta thường dừng lại ở sự kiện đó mà quên mất ý nghĩa hay thánh ý bên trong những sự kiện tưởng là tình cờ.
            Trước một sự việc không may xảy ra, nhiều lần ta cũng như các môn đệ xưa việc đầu tiên là loay hoay xoay sở đủ cách, tìm mọi cách giải quyết và để Thiên Chúa “ngoài cuộc” và quên mất sự hiện diện của Chúa ở giữa cuộc sống của mỗi người và của sự vận hành của vũ hoàn. Rất nhiều lần ta hành xử như là ta có thể tự mình lo liệu mọi việc. Chúa hoàn toàn đứng bên lề cuộc đời.
            Xã hội xô bồ thời hiện tại, ta thấy con người bị lôi cuốn bởi lối sống hưởng thụ, chạy theo danh-lợi-thú,… Không tỉnh táo, người môn đệ của Chúa Giêsu cũng dễ bị "lây nhiễm" những thứ "men" này. Để khỏi bị lây nhiễm những thứ "men xấu" trên, người môn đệ cần luyện tập một lối sống được tác động bởi những "men tốt". Đó là một đời sống luôn kết hiệp với Chúa Giêsu qua việc chuyên chăm đọc và suy gẫm Lời Chúa; qua việc năng lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể và Hòa Giải; qua việc thanh luyện bản thân mỗi ngày. Nhờ vậy, chúng ta sẽ trở nên những Kitô hữu nhiệt thành và góp phần làm cho thế giới hôm nay nồng thắm "men Giêsu". 
            Ta sống trong xã hội xô bồ hiện tại, con người bị lôi cuốn bởi lối sống hưởng thụ, chạy theo danh vọng, lợi lộc và thú vui trần thế. Để khỏi bị lây nhiễm những thứ "men xấu" trên, người môn đệ cần luyện tập một lối sống được tác động bởi những "men tốt". Đó là một đời sống luôn kết hiệp với Chúa Giêsu qua việc chuyên chăm đọc và suy gẫm Lời Chúa; qua việc siêng năng lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể và Hòa Giải; qua việc thanh luyện bản thân mỗi ngày. Nhờ vậy, chúng ta sẽ trở nên những kitô hữu nhiệt thành và góp phần làm “dậy men” Tin mừng cho thế giới hôm nay.

 

THỨ TƯ TUẦN 6 THƯỜNG NIÊN

Mc 8, 22-26

XIN ĐƯỢC CHỮA LÀNH

            Trong đời sống thường ngày, ước muốn bình an, hạnh phúc vẫn là nỗi khát khao của con người. Chính vì lẽ đó mà con người thường sợ đau khổ, bệnh tật, chết chóc xảy đến với mình.

            Mù lòa là một tình trạng bất hạnh, người mù bị ngăn cách với vạn vật, khó liên đới với những người xung quanh. Những ai bị mù lòa cũng khao khát ánh sáng, ước mong được thấy. Bác sĩ, lương y nào có thể chữa lành bệnh mù lòa là họ tốc tả tìm đến. Ai chữa được bệnh mù lòa cho họ thì được xem như là vị cứu tinh, vị đại ân nhân của họ suốt đời. Họ chấp nhận mọi đòi hỏi của lương y hay bác sĩ. Họ nhẫn nại trong quá trình chữa bệnh, miễn sao họ được sáng mắt là đủ.

             Tin Mừng hôm nay, người ta đem đến cho Chúa Giêsu một người mù và xin Ngài chữa lành cho anh. Hành động này chứng tỏ lòng tin của họ không chỉ được biểu lộ trong lòng là tin Chúa Giêsu là Đấng có uy quyền, mà đức tin còn được diễn tả bằng một hành vi cụ thể là xin Ngài “sờ” vào anh ta.

            Chúa Giêsu không chữa lành ngay, nhưng Ngài chữa bằng hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất giống cách Chúa đã chữa người câm điếc (Mc 7, 32 – 37 ): Ngài dắt anh ta ra khỏi đám đông, lấy nước bọt bôi vào mắt anh và đặt tay lên anh, Ngài hỏi: “Anh có thấy gì không?”. Anh đáp: “Tôi thấy người ta như cây cối, họ đi đi lại lại”. Rồi Ngài lại đặt tay lên anh một lần nữa, anh ta mới thấy mọi sự rõ ràng.

            Như vậy, lần thứ nhất đức tin anh còn yếu ớt, vì phép lạ và đức tin có một tương giao chặt chẽ với nhau. Chúa Giêsu tỏ hiện lòng từ bi thương xót đối với anh mù, nên Ngài đặt tay thêm một lần nữa trên mắt anh, để giúp anh có lòng tin trọn vẹn vào Chúa, thì phép lạ sẽ được thể hiện. Thật vậy, lần thứ hai anh mù thấy rõ ràng, chứng tỏ anh đã tin vào Chúa cách vững vàng mạnh mẽ, và anh được mãn nguyện. Chúa Giêsu đã ban cho anh mù ánh sáng vật lý và ánh sáng đức tin một cách tiệm tiến, ban cho anh quyền tiếp xúc với vạn vật và liên đới với mọi người. Ngài chính là Đấng cứu độ nhân loại.

            Khi Chúa đặt tay vào mắt anh ta, người mù được thấy dần dần. Chúa hỏi người mù: “Con có thấy gì không?” (c. 23). Người này ngước mắt trả lời: “Dạ, thấy người ta đi lại như cây cối?” (c. 24). Có tác giả như Lagrange, Huby cho rằng như vậy thì hắn không thể có quan niệm về cây cối và con người được. Nhưng cha Prat lại cho đó là người mù lúc mới sinh vì con người ta nhìn ra được đồ vật cách rất lờ mờ, chỉ có thể phân biệt vật đứng im và vật di chuyển nên anh này so sánh như thế mà thôi. Dù thế nào cũng là một phép lạ đặc biệt của Thiên Chúa.

            Cuộc hành trình tìm ánh sáng của anh mù, tương tự như cuộc hành trình tìm kiếm đức tin của các tông đồ. Họ phải ý thức họ đang mù về thiêng liêng, họ cần được Chúa Giêsu chỉ dạy và mạc khải. Các tông đồ cũng được Chúa tách riêng ra để thuận tiện cho việc chỉ dạy.

            Rồi Ngài cũng hỏi các ông: “Các con nghĩ gì về Ta?” Ban đầu các ông cũng chưa nhận thức được cách rõ ràng thân thế và sứ mạng của Chúa Giêsu, cái biết của các ông còn mù mờ, các ông nhận ra Đấng Cứu Thế trong con người Chúa Giêsu, nhưng đức tin họ chưa phân biệt được tất cả các chiều kích Con Thiên Chúa trong Chúa Giêsu, nên khi Chúa Giêsu hỏi: “Theo dư luận quần chúng, thì Thầy là ai?”.

            Họ đáp: Là Gioan Tẩy Giả, là Êlia, hay một trong các Tiên tri, một vĩ nhân của Israel. Rồi có lần Chúa khiển trách các ông về việc lo thiếu bánh, tuy đã hai lần thấy Chúa làm phép lạ nhân bánh ra nhiều. Chúa nói: “Có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe”. Qua nhiều lần Chúa giáo dục mạc khải, Phêrô mới đại diện cho các tông đồ, tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Chúa Giêsu đem lại đức tin cho các tông đồ cách tiệm tiến, dần dần, và nhẫn nại như Chúa đã ban ánh sáng cho anh mù với lòng yêu thương nhân ái.

            Với sức mạnh quyền năng của Ngài, Ngài đã cầm lấy tay anh mù dắt ra khỏi làng, nhổ nước miếng và đặt tay trên người bệnh và hỏi: “anh có thấy gì không?”. Với cách chữa bệnh của Chúa Giêsu, xét về nguyên tắc vệ sinh thì quả là một điều kinh tởm. Nhưng trong thời cổ đại, người ta cho rằng nước miếng có vài đặc tính chữa bệnh. Chúa Giêsu cũng dùng phương thức này như những thầy thuốc thời xưa, nhưng Ngài đã làm cho cử chỉ này một hiệu quả lạ lùng mà người phàm không thể làm được.

            Điều lạ lùng là Chúa Giêsu phải đặt tay trên anh mù tới hai lần: lần đặt tay thứ nhất thì anh chỉ thấy “người ta như những cây cối đi đi lại lại”, còn lần thứ hai thì anh mới trông thấy rõ và lành hẳn. Có tác giả cho rằng thánh sử Mác-cô giúp chúng ta khám phá một Chúa Giêsu gần gũi, sống động và là người hơn. Ngài luôn ở với chúng ta và sẵn sàng chữa lành cho chúng ta khi chúng ta chạy đến xin Ngài chữa lành. Nhưng bản văn cũng còn cho thấy một ý nghĩa khác về sự thiếu hiểu biết của chúng ta trong khi Ngài cố gắng mở “con mắt đức tin” để chúng ta nhìn nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa như trong trình thuật kế tiếp mà thánh sử Máccô muốn nói tới (Mc 8, 29).

            Con người chúng ta nơi trần gian bước đi về trời giữa ánh sáng và bóng tối. Con người luôn sẵn trong mình một khả năng bị mù. Chúng ta có thể bị mù vì dục vọng, bởi tham sân si, bởi tiền của, danh vọng, tự cao. Chúng ta có thể bị thu hẹp cái nhìn như kiểu ếch ngồi đáy giếng. Chúng ta thu hẹp sự thật cũng là một loại bệnh mù trên phạm vi siêu nhiên. Có khi chúng ta chỉ thành công trên một phương diện mà cứ tưởng trên mọi phương diện khác. Hơn được một người, cứ tưởng là hơn mọi người, cũng là bệnh quáng hay cận thị, viễn thị siêu nhiên. Trường hợp ấy, chúng ta cần nhìn về Chúa để thấy được mình và thấy rõ sự thật.

            Qua Tin Mừng hôm nay, ta thấy người mù được sáng mắt và tìm đến với Chúa. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có mù lòa về con mắt đức tin không? Hãy cùng nhau chạy đến với Chúa đế Chúa “đụng chạm” và “chữa lành” những bất toàn, những yếu yếu đuối trong đời sống đức tin của mỗi người.

 

 

thứ sáu tuần 6 thường niên,

Mc 8, 34, 9,1

ĐIỀU KIỆN ĐỂ THEO CHÚA

            Bất cứ ai muốn thành công về một lãnh vực nào đều phải trải qua một giai đoạn gọi là “thử thách”để tiến tới mục tiêu của mình. Lời Chúa hôm nay cũng mời gọi mỗi người lên đường, bước theo Đức Kitô, vì Ngài là hạnh phúc đích thực dẫn đưa chúng ta tới Nước Thiên Chúa.

             Ai muốn làm môn đệ Chúa Giêsu, muốn thực sự làm Kitô hữu, thì cần phải biết các điều kiện được đề ra, và phải suy nghĩ xem mình có khả năng đáp ứng chăng. Nếu dừng lại giữa đường rồi bỏ cuộc, thì chẳng nghĩa lý gì. Chúa Giêsu muốn người ta đi theo Người cách ý thức và có cân nhắc. Các điều kiện được nêu ra không chỉ có giá trị cho một thiểu số ưu tuyển, nhưng cho mọi người. Bước theo Chúa Giêsu có nghĩa là tuyệt đối không bám víu vào các của cải vật chất, và phải sử dụng chúng tùy theo dây liên kết chúng ta với Chúa Giêsu.

            Chúa đòi buộc người theo Chúa phải từ bỏ, nghĩa là đặt tất cả dưới Người, yêu Người trên mọi sự. Đưa ra đòi hỏi này và biết đó là một chọn lựa khó khăn nên Chúa Giêsu căn dặn nên biết tính toán cẩn thận rồi mới chọn lựa dứt khoát. Muốn xây tháp cần tính toán có đủ tiền. Muốn thắng trận cần có lính. Muốn theo Chúa phải từ bỏ.

            Từ bỏ của cải bằng cách chỉ coi mình như người quản lý thôi; từ bỏ tình cảm, ngay cả với những người thân thiết nhất bằng cách không bao giờ ưu tiên cho họ hơn Chúa; từ bỏ chính bản thân, những ý thích cá nhân, từ bỏ ý riêng, từ bỏ sự tự do, từ bỏ những điều mình ưa thích khi những điều ấy đi ngược lại với lời dạy của Chúa hay làm cho bản thân xa cách Người.

            Vậy, làm thế nào để có thể thành công trong việc đi theo Ngài? Tin mừng thánh Maccô thuật lại: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”(c. 34).

            Nói đến từ bỏ, dù chỉ là một thói quen không tốt nho nhỏ, cũng không mấy ai ưa thích. Vì nói đến“từ bỏ”là đụng chạm đến “hy sinh”, mà hy sinh thì phải chịu đau đớn, thiệt thòi, mất mát.... Cũng như nói đến “tình yêu”thì đụng đến “tự do”, mà muốn được tự do thì phải dấn thân, mạo hiểm... Chính sự mạo hiểm này nói lên sự bấp bênh trong chọn lựa của chúng ta, nhưng càng bấp bênh bao nhiều thì sự hy sinh và từ bỏ chính mình càng cao quý bấy nhiêu, nhất là khi chúng ta “từ bỏ chính mình” cho một lý tưởng,  một tình yêu nào đó hoặc cho một Ai đó rất đặc biệt, rất quan trọng trong cuộc đời của chúng ta.

            Chúa đã từng nói:“Ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”là vậy (Mc 8, 35). Tuy nhiên, từ bỏ chính mình để theo Chúa Giêsu không phải chỉ quyết tâm một lần là đủ, mà là một thái độ luôn sẵn sàng từ bỏ trong từng phút giây của cuộc sống.

            Như thế, việc “từ bỏ chính mình”vì Chúa, thì chúng ta chẳng thua lỗ tí nào. Trái lại, chúng ta từ bỏ cái mau qua để có được sự sống vĩnh hằng; từ khước cái tương đối để được cái Tuyệt Đối là chính Đức Kitô; và từ bỏ cái thân xác tội lỗi để có được sự sống đời đời.

            Sự từ bỏ như thế thật đáng trân trọng. Ai cũng ngại từ bỏ, nhất là từ bỏ những gì gắn liền với mình nhất, cam go hơn cả là chính con người mình. Bằng hy sinh và tình yêu ai cũng sẽ làm được tất cả để cuộc sống ngày càng đạt “chất lượng cao”. Từ bỏ giống như cuộc leo núi. Leo núi là một cuộc mạo hiểm, đó không phải là một cuộc dạo chơi nhàn hạ; nó đòi hỏi sức khoẻ, sức chịu đựng dẻo dai, tài khéo léo, lòng can đảm. Càng lên cao, người leo núi càng hưởng nhiều niềm vui, càng tắm mình trong ánh sáng chan hoà và được chiêm ngưỡng cảnh trời đất bao la hùng vĩ.

            Đối với các tín hữu Do Thái ngày xưa, thập giá chính là án tử hình nặng nhất, nhục nhã và khủng khiếp nhất của luật hình La mã. Những tín hữu đã bị bắt bớ và lãnh án xử tử thập giá, thì quả là một chuyện khủng khiếp đối với họ. Vậy mà Chúa Giêsu lại mời gọi chúng ta vác cái ô nhục đó để đi theo Ngài!

            Ai muốn đi theo Chúa Giêsu, phải đặt sự trung thành với thánh ý Thiên Chúa trên tất cả mọi sự. Vì trân trọng ý muốn của Ngài, người ta phải chấp nhận đau khổ, tủi nhục, bị khinh bỉ và tất cả những gì đối lập lại với một cuộc đời thú vị, thậm chí đến chỗ mất mạng sống mình. Hẳn là chúng ta muốn tạo ra một hình thái Kitô giáo vừa tầm với chúng ta, làm chúng ta vui thích. Chúa Giêsu nói với người ta rằng họ chỉ có thể bước theo Người theo những điều kiện của Người. Ai muốn thuộc về Chúa Giêsu, thì phải quyết định theo Chúa Giêsu toàn thể, với trọn con đường của Người.

            Lời mời gọi của Chúa Giêsu xem ra là một nghịch lý cho cuộc đời, nhưng đối với Thiên Chúa, đó không phải là một ô nhục hay là sự điên rồ mà họ lầm tưởng; trái lại, đó là một dấu chỉ chiến thắng của tình yêu mà chính Đức Kitô đã đón nhận đau khổ trên thập giá bằng một giá rất đắt, một thái độ vâng phục và phó thác cho thánh ý Chúa Cha để trở nên máng chuyển thông ơn cứu độ cho loài người chúng ta.

            Vì vậy, khi nhìn lên cây thánh giá có Chúa Giêsu hiện diện, nhắc nhở chúng ta ý nghĩa của sự đau khổ mà Chúa Giêsu đã chịu để chúng ta được tham dự vào mầu nhiệm cứu độ và phục sinh vinh quang của Người. Ước gì tình yêu thập giá chiếu sáng những ai muốn làm môn đệ của Chúa Giêsu vác lấy mà đi theo Người.   

            Ai muốn làm môn đệ Chúa Giêsu phải đặt tình yêu Chúa lên trên hết mọi thứ tình yêu, hay nói cách khác tình yêu Chúa phải thấm nhuần và hướng dẫn mọi tình yêu: tình yêu gia đình, bạn bè và bản thân mình.Thập giá của Chúa Giêsu là dấu chỉ cụ thể về tình yêu và sự trung thành vô điều kiện của Người đối với thánh ý Chúa Cha.

Huệ Minh 2020

 

THỨ BẢY TUẦN 6 THƯỜNG NIÊN,

Mc 9, 2-13

BIẾN ĐỔI NHƯ CHÚA

            Chúa biến hình trên núi nhằm củng cố niềm tin cho các tông đồ.

            Thật vậy, đứng trước thập giá, khổ đau và cái chết, chẳng có ai lại không lo sợ, hoang mang, thậm chí thất vọng. Sợ rằng các tông đồ không thể đứng vững để chứng kiến cái chết tủi nhục đau thương của mình, Chúa Giêsu đã cho các ông nếm trước vinh quang phục sinh. Được chứng kiến Chúa biến hình trên núi cao, Phêrô đã cảm nghiệm được hạnh phúc lớn lao nên quên tất cả mọi thứ. Ông nói với Chúa: “Lạy Chúa, chúng con ở đây thật là hay! Nếu Ngài muôn con xin dựng tại đây ba cái lều: một cho Chúa, một cho Môsê, và một cho Êlia”.

            Và khi dừng lại, ta thấy thật ra ông nói thế, nhưng ông chẳng hiểu mình nói gì bởi niềm hạnh phúc đã làm cho ông quên đi thực tại. Hy vọng niềm hạnh phúc lớn lao được chiêm ngưỡng trước vinh quang của Chúa phục sinh sẽ giúp các ông vượt qua khó khăn để đặt trọn niềm tin vào Chúa.

            Và rồi ta thấy việc Chúa biến hình trả lời cho ý nghĩa của đau khổ, thập giá và cái chết. Quả vậy, nhiều người cho rằng đau khổ, thập giá và cái chết hoàn toàn vô nghĩa, thậm chí là thất bại thảm hại nhất của con người. Tuy nhiên, đối với Chúa Giêsu, đau khổ, thập giá, vài cái chết không phải là đường cùng ngõ cụt, nhưng là cánh cửa mở ra cho sự phục sinh vinh quang. Chính Chúa Giêsu đã tiên báo cuộc khổ nạn và phục sinh vinh quang cho các tông đồ: “Con người sẽ phải chịu đau khổ nhiều, bị các kinh sư loại bỏ, chịu đau khổ và chịu chết, sau ba ngày mới sống lại”.

            Chúa Giêsu hẳn nhiên là biết trước con đường đau khổ phải chịu và tự nguyện đón nhận đau khổ, cho dù Ngài có thể từ chối thập giá và cái chết: “Lạy Cha, xin cho con khỏi uống chén này, nhưng đừng theo ý con, một theo ý Cha” và rồi Chúa đã chấp nhận vâng lời Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá vì tội lỗi của nhân loại. Chứng kiến đau khổ, thập giá và cái chết của Chúa Giêsu, các tông đồ hiểu được rằng: phải trải qua đau khổ, thập giá, và cái chết mới đạt tới vinh quang phục sinh.

            Sau hết, ta thấy Chúa biến hình mời gọi các tông đồ không ngừng biến đổi cuộc đời nên giống Chúa Giêsu làm đẹp lòng Chúa Cha, biến đổi bằng việc tuân giữ lời của Chúa Giêsu như Chúa Cha đã căn dặn: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người.” Như thế, để được biến đổi, các tông đồ phải cố gắng nên giống Chúa Giêsu, sống sao cho đẹp lòng Thiên Chúa; nỗ lực vâng nghe lời Chúa Giêsu.

            Thật vậy, Chúa Giêsu đã làm đẹp lòng Chúa Cha ở thái độ hoàn toàn vâng phục, vâng phục trong điều tốt lành, thuận lợi; vâng phục trong khó khăn thử thách và thậm chí là cái chết. Biết rõ thập giá, khổ đau và cái chết đang chờ, Chúa Giêsu vẫn can đảm đón nhận thánh ý Chúa Cha. Ngài không chạy trốn thập giá, khổ đau và cái chêt. Ngài chấp nhận mọi sự để cho thánh ý Chúa Cha dược thực hiện. Trên thập giá trước khi tắt thở, Chúa Giêsu đã thân thưa với Chúa Cha: “Mọi sự đã hoàn tất”. Các tín hữu cũng phải noi gương Chúa Giêsu vâng phục Chúa Cha. Cách vâng phục tốt nhất là sống theo lời dạy và gương sáng của Chúa Giêsu.

            Chúa Giêsu biến hình mời gọi ta cũng cần phải được biến đổi để nên giống Chúa Giêsu hơn.

        Cuộc biến hình nào cũng là một cuộc ra đi, một cuộc đổi đời. Cuộc sống của người Kitô hữu là một chuỗi những ra đi, những cái chết từng giây từng phút. Ðó là điều Chúa Giêsu đòi hỏi nơi chúng ta: "Ai đã tra tay vào cày mà còn ngó lại sai, thì không xứng đáng là môn đệ Ta".

        Nhân chi sơ tính bản thiện. Con người ban đầu là tốt, là thiện. Bản chất đích thực của con người trước khi sa ngã là tốt đẹp, thánh thiện, là con cái của Thiên Chúa, vì được tạo dựng giống hình ảnh Chúa.

            Tuy nhiên, sau khi nguyên tổ sa ngã phạm tội, con người đã đánh mất tất cả sự thiện nơi bản thân và cuộc sống. Vì thân phận tội lỗi, yếu đuối, con người phải chết. Con người đã phá hủy khuôn mặt của chính mình, và đánh mất đi chức vị làm con cái Thiên Chúa.

            Qua Bí tích Rửa tội, Chúa đã biến đổi ta trở nên tạo vật mới, nhờ việc Chúa chịu chết và sống lại.

            Tuy nhiên, ta mang thân phận loài người, ta đã sa ngã nhiều lần trong đời. Vì thế, ta cần phải sám hối về những tội lỗi, thiếu sót của ta.

            Phải sám hối, vì nhiều lần ta sống thờ ơ nguội lạnh với Chúa, không đi nhà thờ dự lễ, không cầu nguyện tối sớm. Vì nhiều lần ta sống chưa trung thực, ta gian dối, lừa đảo, chiếm đoạt của người khác cách bất công. Vì nhiều lần ta chưa có lòng bác ái yêu thương anh chị em, mà còn tỏ ra độc ác, kiêu căng, khinh bỉ, thiếu lòng khoan dung, tha thứ cho người khác, nhỏ nhen, ích kỷ với nhau,…Sám hối để được ơn biến đổi và canh tân đời sống.

            Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nghiêm chỉnh tự đặt cho mình câu hỏi: Tôi có thực sự muốn được biến hình không? Tôi có thực sự muốn sống sự sống thần linh của Chúa không? Tôi có thực sự muốn làm môn đệ của Chúa không? Ðức tin của tôi có đủ mạnh để biến đổi cuộc sống của tôi không? Mỗi quyết định của tôi trong cuộc sống có là một bước tiến để đưa tôi đến gần cuộc sống vĩnh cửu không?

            Nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa, và nhờ công trình cứu chuộc của Chúa Giêsu, mà ta được biến đổi. Ngài sẽ làm cho ta trở thành con cái của sự sáng chứ không còn ở trong tăm tối nữa.

Huệ Minh 2020

February 17, 2023