Suy Niệm của Huệ Minh
Chúa nhật 18 thường niên, năm A
CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN NĂM A-2020
Is 55, 1-3; Rm 8, 35. 37-39; Mt 14, 13-21
ANH EM HÃY CHO HỌ ĂN
Trình thuật Chúa hóa bánh ra nhiều được lặp lại trong Tiệc Thánh Thể: "Chúa Giêsu cầm lấy bánh, ngước mắt lên trời, tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ". Chúa vẫn tái diễn phép lạ ấy hằng ngày để nuôi dưỡng chúng ta và cả thế giới. Tại sao từ bàn Tiệc Thánh này chúng ta lại không biết chia sẻ với người nghèo đói? Thế giới hôm nay còn có những kẻ đói, còn có những dân tộc đói, vì có những cái bánh được giữ riêng cho cá nhân và không hề được bẻ ra chia sẻ. Hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta, khi đã lãnh nhận Bánh của chúa thì cũng biết cạnh lòng thương và chia sẻ cơm bánh cho người nghèo đói, để Chúa có thể nuôi sống tất cả anh chị em chúng ta trên thế giới.
Ta thấy Chúa Giêsu làm phép lạ cho bánh hoá nhiều từ 5 chiếc bánh và 2 con cá. Theo thánh Gioan, thì số thực phẩm ít ỏi này là của một em bé. Em bé này đã trao cho Chúa tất cả và rồi hàng ngàn người đã được ăn uống no nê. Giá như em bé này đã không trao cho Chúa, thì có lẽ đám đông đã không được nuôi ăn giữa nơi hoang vắng khi trời đã về chiều. Từ hành động của em bé, chúng ta đi tới một kết luận, đó là hãy cộng tác với Chúa để xoa dịu nỗi đớn đau của người khác, cũng như để đem lại cho họ niềm vui mừng và hy vọng.
Khi chúng ta cảm thấy đói và khát, chúng ta sẽ không chỉ nghĩ đến bữa ăn kế tiếp mà cả lần rước lễ kế tiếp nữa. Khi chúng ta vui hưởng một bữa tối với gia đình hoặc với bạn bè chúng ta sẽ cho phép những ngày lễ hội hướng tâm trí chúng ta đến việc cử hành hy tế Thánh Thể. Khi chúng ta mua một miếng bánh hay một chai rượu vang, chúng ta sẽ nhớ đến Chúa Giêsu đã lấy những yếu tố bánh và rượu thế nào để biến đổi chúng ta thành Thịt và Máu Người trong thánh lễ. Khi chúng ta đọc thấy những món ăn thường ngày, chúng ta sẽ nhận ra rằng Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta một của ăn nuôi dưỡng hoàn hảo cho đời sống thiêng liêng chúng ta trong bí tích Thánh Thể.
Thánh Thể giá trị như thế đối với chúng ta vì đó là của ăn vô giá. Nói cách khác, giá trị của Thánh Thể chúng ta không thể đo lường được. Tiếp đây, chúng ta sẽ nghe lời mời gọi của tiên tri Isaia: "Các bạn là những người không tiền, hãy đến, hãy lấy bánh mà ăn". Đây là một lời mời gọi dân chúng ta đang từ cuộc lưu đày trở về để dự phần vào tình yêu Thiên Chúa. Thông thường trong Cựu Ước hay dùng hình ảnh ăn hay uống với nhau, như là một dấu hiệu Giao ước của Thiên Chúa, giao ước tình yêu của Người.
Tin Mừng không nói Đức Giêsu đã làm phép lạ để có một đống bánh và cá thật to, rồi các môn đệ cứ đến lấy mà phân phát. Tin Mừng chỉ nói Ngài bẻ bánh trao cho họ, rồi chắc họ phải bẻ ra để chia cho đám đông, và có lẽ những người trong đám đông cũng đã bẻ tấm bánh của mình để chia cho người khác. Chẳng mấy chốc, ai cũng có bánh ăn.
Như thế, những tấm bánh từ tay Đức Giêsu đã được bẻ ra, trao đi và hoá nhiều. Đó là cốt lõi của phép lạ.
Có thể các môn đệ và dân chúng đã góp phần của họ: bẻ ra, trao đi và hoá nhiều.
Đây là phép lạ quan trọng vì có đông người chứng kiến, vì được cả bốn sách Tin Mừng kể lại, và vì Chúa muốn nó được kéo dài đến tận thế: bẻ ra, trao đi và hoá nhiều.
Chúa Giêsu không đi quyên góp bánh để phát cho người nghèo. Ngài cũng không khiến bánh tự nhiên từ trời xuống cho họ ăn, nhưng Ngài đã chia sẻ mấy cái bánh mà môn đệ có sẵn trong tay cho tất cả mọi người. Đó là một thách đố: dám nuôi bằng ấy ngàn người với năm chiếc bánh của người nghèo. Năm cái bánh đã được nhân lên bằng tình thương của Chúa Giêsu cộng với niềm tin và lòng vâng phục của các môn đệ. Bài học mọi người. Đó là một thách đố: dám nuôi bằng ấy ngàn người với năm chiếc bánh của người nghèo. Năm cái bánh đã được nhân lên bằng tình thương của Chúa Giêsu cộng với niềm tin và lòng vâng phục của các môn đệ. Bài học của phép lạ hóa bánh ra nhiều là ở chỗ đó: Chúa dạy chúng ta là hãy vâng lời Ngài mà thực hiện điều răn yêu thương. Yêu thương là chia sẻ.
Khi chúng ta chia sẻ chính là làm cho tình yêu được nhân lên. Tấm bánh đáng lẽ chỉ nuôi được một vài người, đã có thể nuôi cả ngàn người. Tình yêu có thể làm được chuyện mà đống tiền, đống của không làm được. Người ta thường nghĩ phải có nhiều, có dư thì mới cho. Tình yêu không đợi phải có đủ, có dư mới cho, nhưng còn sẵn sàng cho cả cái chính mình đang thiếu, và thậm chí, cả khi không có gì, vẫn có thể cho, đó là chính mình: công sức, tài năng, thời giờ... bởi vì tình yêu cao cả nhất, trọn vẹn nhất, là dâng hiến chính mình cho người mình yêu (Ga 15,13) và đó là tình yêu của Chúa Giêsu. Chính tình yêu này mới khiến Ngài chạnh lòng thương trước cảnh đói khổ, bệnh tật của dân nghèo và ra tay cứu giúp.
Với niềm tin tưởng và phó thác vào Chúa, dù chỉ là một cá nhân, nhưng hành động của chúng ta vẫn có một tầm mức quan trọng và đáng kể, nếu chúng ta biết chia sẻ những gì mình có với Chúa, thì Ngài sẽ làm phần còn lại, là biến cái ít ỏi, nhỏ nhoi ấy trở thành hữu ích, đem lại hoa trái vượt quá điều chúng ta mong ước. Chúng ta hãy dâng cho Chúa mọi khả năng, vật chất cũng như tinh thần để tuỳ Ngài sử dụng. Và rồi Ngài có thể dùng chúng để làm những phép lạ.
Chúa nhật tuần XVIII TN CHÚA HIỂN DUNG (2017)
Mt 17, 1-9
HÃY LẮNG NGHE LỜI NGƯỜI
Cả ba Tin Mừng nhất lãm đều đề cập đến biến cố biến đổi hình dạng của Chúa Giêsu tại núi Tabor. Với một sự tương đồng đáng chú ý, cả ba đều kể lại biến cố này sau khi ông Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, và sau lần đầu tiên Đức Giêsu nói về sự thống khổ và cái chết của Ngài.
Đức Giêsu đem ông Phêrô, Giacôbê và Gioan cùng đi với ngài lên trên một núi cao, tại đó Ngài biến đổi dung nhan trước sự ngỡ ngàng của các ông. Sự chiếu sáng rạng ngời của Ngài phát xuất từ thần tính của Ngài. Bằng việc tỏ hiện vinh quang của mình, Ngài nhằm củng cố lòng tin của cả ba môn đệ đi theo Ngài và chuẩn bị cho họ đối diện với những thử thách sắp tới, bằng cách ban cho họ nếm hưởng trước vinh quang và niềm vui thần linh qua những đau khổ trong đời sống của người môn đệ.
Sự hăng hái của Phêrô trong việc dựng lều nơi Chúa hiển dung đưa ra giả sử rằng, biến cố đó xảy ra trong dịp lễ lều kéo dài một tuần lễ trong mùa thu.
Mặc dù cả ba văn bản đều rất giống nhau, theo các học giả Kinh Thánh, thật khó để diễn lại cảm nghiệm của các tông đồ. Chắc chắn là Phêrô, Giacôbê và Gioan đã thoáng nhìn thấy được thiên tính của Đức Giêsu, nhưng ấn tượng ấy đủ mạnh để tạo nên sự sợ hãi in sâu trong tâm hồn họ. một cảm nghiệm như vậy không thể nào diễn tả được, do đó các ngài dùng cách diễn đạt thông thường trong kinh sách để diễn tả. Tuy nhiên, Đức Giêsu cũng đã cảnh báo họ về sự vinh hiển và sự thống khổ của Ngài liên hệ mật thiết với nhau một cách chặt chẽ.
Tin Mừng hôm nay kể lại với chúng ta rằng: ông Mô sê và ông Êlia hiện ra đàm dạo với Chúa Giêsu về cuộc xuất hành vượt qua của Ngài tại Giêrusalem. Chúng ta cũng dư biết cuộc xuất hành đó như thế nào: Con Người sẽ phải chịu nhiều đau khổ, chịu các kỳ lão thượng tế bắt nộp cho dân ngoại, chịu đánh đòn, chịu chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Tức là sao? Đức GiêSu đã bị giết chết, và chính khi Ngài bước vào cái chết Ngài đã đánh bại tử thần,hay là Ngài đã xuất hành vượt qua cái chết để bước vào cõi sống. Nếu hạt lúa mì gieo xuống đất mà không thối đi thì nó trơ trọi một mình nhưng nếu nó thối, nó sẽ sinh nhiều bông hạt cho cuộc sống mai sau.
Chỉ khi Đức Kitô Ngài mới đánh bại được tử thần, chỉ khi Đức Kitô Ngài mới vượt qua được cái chết để bước vào cõi sống muôn đời. Hơn thế nữa, Chỉ khi Đức Kitô chết đi và sống lại, thì như lời thánh Phaolo đã trở nên hoa quả đầu cho những kẻ an giấc. Ngài (thánh Phaolô) còn khẳng định nếu Đức Kitô không sống lại thì chúng ta (những tín hữu) là những kẻ đáng thương hại nhất. vì nếu chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi, khỏi đam mê xác thịt rồi khi chết lại cũng chỉ trở về hư vô trống rỗng thì chẳng đáng thương hại quá hay sao. Nhưng Đức Ki tô đã sống lại và đã trở nên căn nguyên cứu rỗi đời đời cho những ai được tuyển chọn
Với vẻ uy nghi rực rỡ tràn ngập ánh sáng bởi trời, rực rỡ mà không chói lọi khiến các tông đồ nhìn mà say mê, mà tràn ngập hoan lạc .Và hai gương mặt nổi bật nhất trong thời cựu ước xuất hiện: Môsê và Êlia. Họ đàm đạo với Chúa Giêsu. Những tưởng họ nói về vinh quang, nói về cuộc khải hoàn vẻ vang, nói về chiến thắng, đang trong cuộc hiển dung đầy vinh quang mà. Ấy thế mà họ lại nói về cuộc xuất hành, nói tới cuộc tử nạn, nói đến cái chết ô nhục trên thập giá của Chúa Giêsu. Phải chăng chỉ là tình cờ khi mà cả hai nhân vật cựu ước xuất hiện chỉ vì họ đại diện cho nhà lập pháp và cũng như đại diện cho các ngôn sứ? Thực ra hai nhân vật cực kỳ quan trọng trong cựu ước này cũng gắn liền với những cuộc xuất hành hay còn gọi là vượt qua.
Matthêu muốn nhắn nhủ chúng ta về những cuộc xuất hành của đời mình: một cuộc đời với những cuộc xuất hành vượt qua để có thể đến được hay đạt được hạnh phúc nước trời. Cuộc xuất hành khởi đi từ cuộc xuất hành của Môsê vượt qua biển đỏ; cuộc xuất hành vượt qua của Êlia vượt qua những thần Baal; và cuộc xuất hành vượt qua cuối cùng của Chúa Giê su vượt qua tất cả, vượt qua cái chết cuối cùng để vào nơi hằng sống muôn đời. Đó phải chăng cũng là những cuộc xuất hành vượt qua của mỗi người chúng ta, và từ đó chúng ta cũng được như Chúa Giêsu vượt qua cái chết để vào nơi hằng sống. Chúng ta cùng nhau rảo qua những cuộc xuất hành vượt qua của cả ba đấng để tìm mối tương quan giữa cuộc đời chúng ta và của các Ngài .
Khi chứng kiến cảnh vinh quang Chúa Biến Hình và đàm đạo với Môi-sen và Elia thì các môn đệ đã vui mừng sung sướng và muốn dựng lều ở lại trên đó. Nhưng sau khi được chứng kiến giây phút vinh quang ấy, các ông nín thinh, không kể cho bất cứ ai về những gì các ông đã xem thấy vinh quang nước Chúa. Và các ông xuống núi trở lại với những công việc bổn phận trước khi họ được vĩnh viễn hưởng dung nhan vinh quang với Ngài.
Để có thể leo lên tới đỉnh Núi Thánh của Chúa trong niềm vui hoan lạc, chúng ta cũng phải bỏ xuống khỏi đôi vai, thân xác và ra khỏi lòng chúng ta những cồng kềnh, lỉnh kỉnh của mọi điều gian trá bất nhân. Bằng không chúng ta sẽ khó lòng leo lên tới được đỉnh núi Taborê. Mà sợ còn gẫy gánh dọc đường khi chỉ mới ngang lưng sườn núi vì bị những cồng kềnh, lỉnh kỉnh đó đè bẹp chúng ta ngã quỵ.
Trong một thế giới thực dụng, hưởng thụ và dung tục, cuộc hành trình theo Chúa của Ki-tô hữu rất cam go. Người môn đệ cần phải làm một cuộc lột xác, thanh tẩy trí não để có thể chấp nhận uống chén đắng cùng với Đức Ki-tô và con đường thập giá của Người như là một tất yếu có thể cứu độ con người và đem lại sự sống đời đời. Như bóng điện trở nên sáng láng khi được nối kết với nguồn điện, chúng ta đã được trở nên tạo vật mới xinh đẹp, sáng láng, được làm con Thiên Chúa khi lãnh nhận bí tích thanh tẩy và xứng đáng hưởng sự sống đời đời.
Vì vậy, chúng ta cần luôn liên kết mật thiết với Thiên Chúa trong đời sống cầu nguyện để sự sống, ánh sáng của người nuôi dưỡng đời sống chúng ta, hầu chúng ta có thể chiếu dãi ánh sáng Chúa cho trần gian. Hơn nữa, trong cuộc hành trình theo Chúa, thỉnh thoảng chúng ta cũng được Chúa cho thưởng nếm ‘sự ngọt ngào vinh quang’ của Người, nhưng chủ yếu chúng ta vẫn phải bước đi trên con đường thập giá là một con đường hẹp, gồ ghề lắm chông gai, nếu không có sức mạnh của Chúa chúng ta không thể kiên trung bước đi cho tới cùng. Do đó như Đức Ki-tô, chúng ta vẫn luôn cần nối nguồn với Thiên Chúa trong mọi nơi mọi lúc để được ánh sáng Ngài hướng dẫn và sức sống của người thánh hóa và dưỡng nuôi đời ta.
Mừng Kính Lễ Kính Chúa Giêsu Hiển Dung hàng năm, Hội Thánh mời gọi chúng ta suy niệm và sống ý nghĩa của sự cần thiết ‘Hiển dung’ và ‘biến đổi’ cuộc sống hàng ngày của chúng ta nơi dương thế. Nghĩa là, Chúa thách đố chúng ta ‘biến hình’ để rồi được ‘hiển dung’ với Chúa trên Núi Thánh. Ước chi mỗi người chúng ta luôn biết cố gắng thanh luyện và biến đổi đời sống của chúng ta nên tươi tốt và đẹp đẽ hơn trong mọi hoàn cảnh. Ðồng thời trút bỏ mọi cồng kềnh và lỉnh kỉnh vô ích hầu chúng ta có thể nhẹ nhõm bước đi và lên đến đỉnh Núi Thánh trên Nước Chúa Vĩnh Hằng.
Mừng lễ Chúa Giêsu Hiển Dung nhắc lại cho chúng ta nhớ con đường dẫn tới vinh quang Nước Trời là con đường Đức Kitô đã đi. Chúng ta không thể đi con đường khác được. Lời Thiên Chúa Cha nhắn nhủ trên núi vẫn còn được vang lên cho con người chúng ta thời đại hôm nay, đó là "Hãy nghe lời Ngài."
Huệ Minh
1 tháng 8, Thánh Alphongsô Maria Liguori, giám mục, tiến sĩ
Rm 8, 1-4; Mt 5, 13-19
NÊN MUỐI MEN CHO ĐỜI NHƯ CHA THÁNH ANPHONGSÔ
Hôm nay mồng 1 tháng 8 Dòng Chúa Cứu Thế trên Toàn Cầu Mừng Lễ Thánh Tổ Anphongsô Maria Liguori: Thánh Anphongsô sinh tại Marianella ngày 27-12-1696. Vào đại học hoàng gia năm 12 tuổi, nhận thanh kiếm hiệp sĩ lúc lên 14 tuổi, đậu hai bằng tiến sĩ luật đạo và đời năm 16 tuổi, làm luật sư và chánh án khi 20 tuổi, “Hãy bỏ thế gian và hiến toàn thân cho Ta”. Ngày 19 tháng 8 năm 1723 người rút thanh gươm nhà quý tộc thường đeo, đặt trước bàn thờ Đức Mẹ; rời bỏ pháp đình để đi theo tiếng Chúa “Hỡi thế gian, ta đã biết ngươi rồi!” Ngày 21-12-1726, Anphongsô được thụ phong linh mục. Ngài thường nói: “Chính Đức Mẹ đã cứu tôi khỏi thế gian và đưa tôi vào hàng giáo sĩ”.
Tháng 11 năm 1732, Anphongsô ngồi trên lưng một con lừa, từ biệt thủ đô Naples để lên đường đi lập Dòng và ngày 9 thánh 11 năm 1732, trong chính ngày lễ Chúa Cứu Thế, tại Scala, Dòng Chúa Cứu Thế được chính thức thành lập với năm Tu Sĩ đầu tiên….
Ngày 1 tháng 8 năm 1787, trong khi chuông nhà thờ Pagfani báo hiệu Kinh Truyền Tin thì Anphongsô qua đời, trong tay cầm mẫu ảnh Đức Mẹ, nguồn hy vọng. Theo truyền thống của Dòng, ngày một anh em qua đời là ngày nghỉ, ngày vui, ngày sinh nhật của Anphongsô trên trời. Thánh Anphongsô hưởng thọ 91 tuổi, và ngài được tôn phong hiển thánh năm 1839 và Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1871.
Sống trong một thế giới, trong một xã hội mà con người đua đòi, chạy theo con đường ăn chơi, xa xỉ, phung phí tiền của. Sống trong một giai đoạn mà ngay cả giới nhà tu cũng tranh nhau qui tụ về chốn đô thị để hưởng thụ, thỏa hiệp và sống dễ dãi. Đời sống đạo đức ở nhiều nơi bị sa sút trầm trọng, bè rối hoành hành giữa lòng Hội Thánh. Con người tưởng chừng không đâu tìm ra lối thoát giữa một xã hội xem ra bị chìm lỉm, ngụp lặn trong tội lỗi. Anphongsô đệ Liguoriô xuất hiện.
Chàng Anphongsô có mặt như vị anh hùng của thế kỷ. Với bầu nhiệt huyết sẵn có, với lòng đạo đức, thánh thiện, với thiện chí và lòng tin sắt đá, Anphongsô đã như hừng hực lửa Thánh Thần, bằng những tác phẩm giá trị và qua những lời giảng đầy lửa, đanh thép, Anphongsô đang vực dậy cả một Giáo Hội đang lâm nguy. Con người của Anphongsô sở dĩ có được tinh thần ấy và cảm nghiệm ấy bởi Anphongsô đã say mến Thiên Chúa. Ngài đã say mê Thiên Chúa với tất cả con người, với tất cả con tim rực cháy của mình. Mà chúng ta không xem Ngài như một con người kỳ diệu sao được khi Ngài có đủ điều kiện, đủ tài đức để sống vinh thân phì gia trong đất nước Ý Đại Lợi lúc đó: nhà giầu, cha mẹ quí phái, có chức có quyền trong triều đình, Anphongsô lại học giỏi mau chóng thành đạt với tuổi rất trẻ, mới 16 tuổi đời, Anphongsô đã đậu cả hai bằng tiến sĩ đời và đạo. Với một tương lai rực sáng như thế, Anphongsô quả có đầy đủ tất cả để hưởng thụ một đời sống xa hoa, phú quí với nhà lầu, danh vọng, vợ đẹp, con khôn…
Thánh Anphongsô quả là ngọn lửa say mến Chúa Giêsu và từ ngọn lửa say mến ấy, Ngài đã đốt lên, đốt mãi không ngừng trong tâm hồn các sĩ tử của Ngài và cũng ngọn lửa ấy luôn được thắp lên trong mọi tâm hồn những người thành tâm tìm kiếm Chúa.
Thánh Anphongsô dù đã là Giám Mục, Ngài vẫn luôn sống khó nghèo và nơi Ngài luôn tỏa sáng ngọn lửa say mến Thiên Chúa. Thánh Anphongsô có lòng yêu mến Đức Mẹ, Ngài đã thực hành và truyền lệnh cho các sĩ tử của Ngài luôn phải sùng kính Đức Mẹ và rao truyền về Đức Mẹ. Ngài đã làm gương cho các sĩ tử và mọi người về việc lần chuỗi Mân Côi, Ngài nói:”Chuỗi Mân Côi là giây bền đỗ…”.
Quan đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ phải trở nên muối ướp và đèn soi. Bằng hai hình ảnh cụ thể này, Ngài phác hoạ một luật sống mà các môn đệ phải tuân theo khi Ngài gởi họ đi vào đời.
Muối là vật dụng thường thức dùng trong việc nấu nướng. Không có muối, đồ ăn thiếu hương vị và lạt lẽo. Nhưng người Do Thái còn dùng muối làm phân bón. Vì vậy mà Ngài bảo: Các con là muối đất. Trong Kinh Thánh, muối là hình ảnh được nhắc lại nhiều lần. Từ vụ vợ ông Lót nhìn lại đàng sau mà biến thành tượng muối, đến chút muối mà thánh Phaolô căn dặn nên đặt vào trong lời ăn tiếng nói cho có hương vị khi giao tiếp với anh em.
Các con là muối, nghĩa là chúng ta hãy sống đạo dức, thực thi những điều Ngài dạy, để thánh hoá bản thân, nêu gương sáng cho người khác, hâm nóng những cõi lòng đã nguội lạnh. Nếu chúng ta không sống Lời Chúa trọn vẹn, thì chúng ta như muối đã nhạt, không ích lợi gì, chỉ đáng đem đổ ra ngoài đường cho người ta dày đạp. Người Do Thái ngày xưa đổ rác cả ra đường phố cho khách qua lại dẫm lên.
"Chính anh em là ánh sáng cho trần gian"(Mt 5,13). Đây là lời mời gọi tuyệt vời dành cho người Kitô, bởi lẽ chỉ Thiên Chúa mới là Ánh Sáng (1Ga 1,5). Chỉ Chúa Giêsu mới dám nhận mình là Ánh Sáng (Ga 8, 12). Vậy ta muốn trở thành ánh sáng như Chúa Giêsu, ta phải ở gần Ngài: gần đèn thì ta được toả sáng.
Ánh sáng không thiên vị một ai, không thích người này và cũng không chê người kia. Ánh sáng của mặt trời lan tỏa khắp nơi, chiếu sáng mọi người và mọi nhà. Ánh sáng của người Kitô cũng vậy,"ánh sáng của anh em phải ở trên cao, vượt trên mọi danh vọng, tiền tài, lạc thú. Không phải để khoe khoang, tự kiêu, nhưng là để tôn vinh Cha, Đấng ngự trên trời" (Mt 5, 16).
Ánh sáng của cây nến tuy nhỏ bé nhưng cũng đủ toả sáng cả một căn phòng, làm cho bóng tối phải lùi bước. Một khi ánh sáng của ngọn nến bừng lên, đó cũng là lúc ngọn nến bị đốt cháy, bị tan biến đi. Người Kitô cũng vậy, phải mất đi cho chính mình, phải tan biến đi để "Ánh Sáng Chúa Kitô" được loan toả khắp nơi, khắp mọi nhà, khắp mọi tâm hồn.
Xin Chúa qua lời chuyển cầu của Thánh Anphongsô để rồi mỗi người chúng ta cũng trở nên muối cho đời và ánh sáng cho trần gian như lòng Chúa mong muốn.
Thứ hai tuần XVIII Thường niên
Jr 30, 1-2. 12-15. 18-22; Mt 14, 22-36
ĐỪNG SỢ !
Sợ hãi như là một bản năng sinh tồn và hầu như không ai tránh khỏi. Bản tính tự nhiên con người “tham sống sợ chết” nên lo sợ đủ điều. Có người sợ sâu bọ, gián, chuột, rắn rết; có người sợ bóng tối, sợ hồn ma chước quỷ. Nói chung, sợ hãi xuất hiện khi ta cảm thấy nguy hiểm, nhưng cũng khiến ta cảnh giác hơn.
Biển cả ở đây không chỉ là biển đời như đã nói ở trên mà còn là biểu trưng cho nơi ẩn náu của ma quỷ. Chúa Giê-su muốn chứng tỏ cho các môn đệ thấy rằng trong cơn gian nan hoạn nạn, Người luôn hiện diện: “Thầy đây, đừng sợ”. Một lời trấn an bảo đảm mạnh mẽ rằng Người luôn đồng hành với họ trên bước đường loan báo Tin Mừng, mặc dầu sóng biển ầm ầm, thủy triều sóng nước dâng cao… con thuyền có bị sóng đánh dập vùi, nhưng hãy yên tâm vì có Người ở bên.
Lời trấn an “Thầy đây đừng sợ” chúng ta chỉ gặp thấy hai lần trong các Tin Mừng, đó là lúc các môn đệ vật lộn giữa biển khơi và lúc sợ hãi thu mình trong nhà Tiệc Ly khi Chúa chịu chết: lần này thì vừa sợ sóng biển xô chết vừa sợ ma, còn lần cuối thì cũng sợ các thượng tế tìm giết và cũng “sợ ma” nữa. Hai sự kiện nói lên hai điều sợ căn bản của chúng ta là sợ bị người đời bách hại và sợ ma quỷ tấn công. Nhưng nếu có một đức tin đủ mạnh, thì chúng ta không sợ gì vì có Chúa luôn đồng hành với lời trấn an “có Thầy đây, đừng sợ”
Tin Mừng kể lại Chúa Giêsu truyền cho các môn lên thuyền qua bên kia bờ và một cơn bão ập đến đe dọa họ. Với kinh nghiệm của những ngư phủ, họ cảm nhận đây là cơn bão lớn có thể cướp đi tính mạng. Trong khi đó, Chúa Giêsu lại không ở với họ trong thuyền. Việc có Chúa hiện diện sẽ giúp họ vững tin hơn. Khi Chúa Giêsu nhận thấy sự an nguy cho các môn đệ của mình, lập tức Ngài đến với họ.
Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hồn mà nói rằng: “Ma kìa” và các ông sợ hãi kêu la lớn tiếng. Lập tức, Chúa Giêsu nói với các ông rằng: “Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ”. Phêrô thưa lại rằng: “Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy”. Chúa phán: “Hãy đến”. Phêrô xuống khỏi thuyền bước đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa Giêsu. Khi thấy gió mạnh, ông sợ hãi và sắp chìm xuống nên la lên rằng: “Lạy Thầy, xin cứu con”. Lập tức, Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy ông mà nói: “Người hèn tin, tại sao lại nghi ngờ?” Khi cả hai đã lên thuyền thì gió liền yên lặng. Những người ở trong thuyền đến lạy Người mà rằng: “Thật, Thầy là Con Thiên Chúa!”
Câu chuyện “vượt biển” này được tiếp tục sau sự kiện Chúa Giêsu hoá bánh ra nhiều, các môn đệ ăn xong chưa kịp nghỉ đã bị Chúa hối thúc xuống thuyền vượt biển hồ Galilêa, còn Chúa Giê-su thì lại lên núi cầu nguyện.
Câu chuyện trên biển hồ Galile một lần nữa cho thấy tính cách của Phêrô: một người hành động mạnh mẽ, lập tức và có khi hơi bốc đồng. Và hậu quả là là ông đang dần chìm xuống nước. Ngược lại, Chúa Giêsu luôn kiên nhẫn dạy dỗ các môn đệ của mình. Đôi khi trong đời sống Kitô hữu một số người có phản ứng “bốc đồng” như Phêrô và hậu quả là “chìm dần xuống nước”. Với Phêrô thì trong khoảnh khắc thấy mình thất bại dần chìm, ông lại bám chặt lấy Chúa Giêsu và Ngài sẽ giúp ông đứng vững trở lại. Mỗi lần Phêrô ngã xuống, Chúa lại nâng ông lên vì ông luôn tin tưởng vào Chúa. Sự thất bại của Phêrô hôm nay lại càng cho thấy lòng yêu mến của Chúa dành cho ông.
Việc đi qua hồ được Chúa Giêsu yêu cầu. Chúa Giêsu truyền cho các Môn đệ lên thuyền và đi qua bờ biển bên kia, nơi có vùng đất của dân ngoại. Ngài lên núi cầu nguyện. Chiếc thuyền tượng trưng cộng đoàn. Nó có sứ mệnh đi đến dân ngoại và cũng loan báo cho họ Tin Mừng Nước Trời. Đó là cách sống mới trong cộng đoàn. Nhưng việc vượt qua thật mệt mỏi và dài. Con thuyền lay mạnh vì sóng, vì gió ngược. Cho dù đã chèo chống suốt đêm, vẫn còn quãng đường xa trước khi tơi đất liền. Còn thiếu nhiều điều nơi cộng đoàn để có thể vượt qua và đi đến dân ngoại. Chúa Giêsu không đi với các môn đệ. Họ phải học cùng nhau đối diện với các khó khăn, được hiệp nhất và kiện cường trong niềm tin vào Chúa Giêsu là Đấng sai phái họ. Sự khác biệt rất lớn : Chúa Giêsu ở trong bình an với Thiên Chúa, cầu nguyện trên đỉnh núi, còn các Môn đệ hầu như mất hút ở dưới, trong biển động.
Việc vượt qua bên kia bờ hồ cũng tượng trưng việc cộng đoàn vượt qua trong cuối thế kỷ thứ nhất. Họ phải đi ra khỏi thế giới đóng kín trong việc tuân giữ luật để qua cách tuân giữ Luật mới là Tình Yêu, được Chúa Giêsu truyền dạy; họ phải từ bỏ sự hiểu biết mình thuộc về Dân Riêng, được Thiên Chúa ưu tuyển nơi các dân tộc khác, để xác tín rằng trong Chúa Kitô mọi dân tộc được hiệp nhất thành một Dân Duy nhất trước mặt Thiên Chúa; họ phải ra khỏi sự cô lập và sự không khoan dung để đi và thế giới rộng mở cho sự đón nhận và biết ơn. Ngày nay cũng vậy, chúng ta đang thực hiện một cuộc vượt qua đầy khó khăn để hướng tới việc trở nên Giáo Hội cách mới mẻ. Một cuộc vượt qua khó khăn, nhưng cần thiết. Trong đời sống có những lúc chúng ta bị sự sợ hãi tấn công. Thiện chí không thiếu, nhưng không đủ. Chúng ta như chiếc thuyền đang đối diện với gió ngược.
Chúa vẫn đang dõi theo chúng ta trong mọi lúc, và đặc biệt là trong những thời điểm chúng ta gặp thử thách và khó khăn. Bạn có trông cậy vào sức mạnh và sự trợ giúp của Chúa không? Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta rằng chúng ta không phải hoảng sợ nếu chúng ta tin tưởng vào tình yêu của Ngài dành cho ta. Với niềm tin và hy vọng vào tình yêu Chúa luôn nhìn đến chúng ta, chúng ta hãy ký thác đời mình cho Chúa.
Sứ điệp Tin Mừng hôm nay là: Chúa không muốn các môn đệ an thân ỷ lại, hưởng thụ và ngủ quên trên sự tôn vinh của con người hoặc chỉ nhìn Chúa Giê-su dưới khía cạnh quyền năng sau sự kiện hoá bánh ra nhiều, mà nghĩ sai về sứ mạng của Người. Chúa Giê-su cũng muốn môn đệ phải ra đi, bỏ lại tất cả, dám đương đầu với bão tố phong ba của biển đời. Đồng thời, Chúa muốn các môn đệ an tâm vì luôn có Chúa đồng hành. Đặc biệt với Tông Đồ trưởng Phêrô qua biến cố “suýt chìm” là một kinh nghiệm nhớ đời, huấn luyện ngài vững mạnh hơn cho việc dẫn lái con thuyền Giáo hội mà Chúa Giê-su sẽ trao phó cho ngài sau này.
Trên hết, Chúa mời gọi chúng ta đặt tất cả niềm tin vào quyền năng của Chúa. Ngài có chương trình cho mỗi người chúng ta. Ðiều quan trọng không phải là chúng ta bắt Thiên Chúa làm theo ý chúng ta, để rồi khi không được như ý nguyện, chúng ta tỏ ra buồn phiền, than trách Chúa. Trái lại, chúng ta hãy đặt hết tin tưởng vào Chúa, Ngài vẫn hiện diện để sẵn sàng cứu giúp chúng ta. Hãy phó thác vào quyền năng yêu thương của Ngài và như thế tâm hồn chúng ta sẽ được bình an.
4 tháng 8, Thánh Gioan Maria Vianney, linh mục
Ez 3, 16-21; Mt 9, 35 – 10, 1
CHÚA CÓ CÁCH CỦA CHÚA
Linh mục Gioan Vanney sinh tại Dardilly, gần Lyon, Nước Pháp năm 1786, là con thứ ba trong 6 người con. Cha mẹ ngài đạo đức, thương người, không ngại lén đi lễ ở nơi xa, giữa thời kỳ cấm cách và phá đạo năng nề tại nước Pháp. Gioan được rước lễ lần đầu năm 13 tuổi, và cho tới khi chịu thêm sức, ngài phải chứng kiến cảnh cử hành Thánh lễ, dạy giáo lý đầy can đảm của các linh mục trước bất cứ đe dọa nào từ chính quyền. Chính từ đó phát sinh ơn gọi linh mục của Gioan.
Năm 1802, lúc 20 tuổi, Gioan Vianney mới bắt đầu việc học chuẩn bị vào chủng viện, dưới trướng của cha Balley. Dù Gioan chỉ thông minh ở mức bình thường, nhưng các thầy dạy anh không bao giờ nghi ngờ về ơn gọi linh mục của anh. Anh gặp rất nhiều khó khăn trong việc học Latinh. Bạn học của anh, sau này làm Giám mục Dubuque, giúp anh cách riêng trong việc học Latinh.
Chiến tranh Pháp – Tây Ban Nha nổ ra, Gioan Vianney phải ngưng học, và được gọi nhập ngũ. Nhưng buổi sáng lên đường nhập ngũ, vì Gioan Vianney đến nhà thờ cầu nguyện, nên đến trễ, và các tân binh đã lên đường. Sau đó người dẫn đường cho cậu tới trại lính lại dẫn lầm lên nơi làng hẻo lánh có những người trốn lính tập trung. Cậu phải lưu lại đó, lấy tên giả, làm giáo viên dạy trẻ nghèo. Sau này nhờ em cậu đi lính thay, cậu mới được thoát khỏi cảnh trốn lánh và trở lại với việc học.
Năm 1812, gia nhập chủng viện, với tuổi 30, cậu buộc phải học triết học bằng tiếng Pháp, thay vì Latinh. Có lần thi trượt, cậu lại phải thi lại và may là qua được kỳ thi thành công. Ba năm sau, cậu được thụ phong linh mục.
Một con người được ơn thấu thị (vision) để nắm chắc ơn gọi của mình thì thắng vượt các trở ngại và hoàn thành được những việc xem ra là không thể làm được. Thánh Gioan Baotixita Vianney (còn được gọi là cha sở họ Ars) là một người có có ơn “thấy và thấu hiểu” này: Ngài muốn trở nên một linh mục. Nhưng ngài phải vượt thắng được nền học vấn trường lớp nghèo nàn không chuẩn bị thích đáng cho ngài tiếp thu các môn học của chủng viện.
Việc ngài không hiểu được tiếng Latinh buộc ngài phải gián đoạn việc học tại chủng viện. Nhưng ơn thấu thị về ơn gọi linh mục của ngài thúc đẩy ngài tìm kiếm sự dạy kèm riêng tư, cách riêng là của cha Balley, người đã dạy dỗ ngài xưa kia. Sau một cuộc chiến đấu dài với các sách vở, Gioan đã được thụ phong linh mục.
Các hoàn cảnh đòi hỏi những hành vi “ngoài sức tưởng tượng” đi theo ngài ở khắp nơi. Trong tư cách mục tử xứ Ars, một giáo xứ hẻo lánh, chỉ có 40 gia đình nhưng có đến 4 quán rượu. Khi ngài đến tỉnh Ars nước Pháp, lúc ấy đã 31 tuổi, hầu như chẳng ai thèm lưu ý. Tỉnh này nổi tiếng là nơi đầy ải các linh mục. Giáo dân thì thờ ơ với việc đạo đức và thoải mái với nếp sống cố hữu của họ. Sự thấu thị về ơn gọi linh mục của ngài dẫn ngài đến những việc ăn chay nhiệm nhặt và những đêm ngủ ít. (Có những thứ quỷ chỉ có thể đuổi đi nhờ cầu nguyện và chay tịnh.)
Không bao lâu họ thấy có những thay đổi. Khi nhìn trộm qua cửa sổ họ thấy cha sở gầy gò ốm yếu cầu nguyện suốt đêm. Có người thấy ngài vất bỏ các bàn ghế đắt tiền và thay chiếc giường nệm êm ấm bằng các khúc gỗ sần sùi. Cũng có người thấy ngài chia sẻ quần áo cho người ăn xin, và chính ngài chỉ ăn có hai củ khoai mỗi ngày. Một vài người tò mò đến nhà thờ nghe giảng, và họ thấy tiếng nói của ngài như xé vào tai nhưng có sức đánh động tâm hồn. Từ tò mò dẫn đến nghi vấn. Có thể nào đây là một linh mục đích thực? Và nhà thờ bắt đầu đông người trở lại.
Cha Gioan đã trở nên một phần tử của cộng đồng nhỏ bé ấy. Mỗi ngày ngài đi thăm các giáo dân và lắng nghe những ưu tư của họ. Ngài không hiểu tiếng Latinh nhưng ngài rất hiểu các nỗi khó khăn của đời sống người dân. Do đó, sau mười hai năm, hầu như mọi người trong tỉnh đều tham dự Thánh lễ hàng ngày và các nông dân vừa lần chuỗi vừa cày cấy nơi đồng áng.
Và rồi hôm nay trong ngày mừng lễ Thánh Gioan M. Vianney ta thấy trang Tin Mừng hôm nay ghi : “Chúa Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền”. Chính sự ra đi mà Chúa Giêsu đã thấy được một bức tranh tổng thể của cuộc sống, vì thế Ngài đã thao thức thốt lên: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”.
Thật thế, trong suốt hành trình rao giảng, trên những nẻo đường, nơi đâu Ngài cũng thấy được những con người lầm than vất vưởng, họ không tìm thấy được mục đích của cuộc sống, không tìm thấy được một nơi để nương tựa, một chân lý để sống. Chúa đã chạnh lòng trước đám đông, và thôi thúc Ngài một chương trình mục vụ: “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”.
Ta thấy chính Chúa đã đốt lên trong lòng nhóm mười hai ngọn lửa hy vọng, để các ông trở thành đôi tay và trái tim của Chúa, mang lửa tình yêu và hy vọng đến các hang cùng ngõ hẻm. Mảng đen của bức tranh cuộc sống đã được tô sáng lên bởi những tông đồ nhiệt thành. Nơi mảng tối của Calcutta giờ đã có mẹ Têrêsa, nơi kia thì có nhà Dòng nọ, nơi khác thì có cộng đoàn giáo xứ . . . Tất cả đều chung một lời mời gọi của Chúa Giêsu, xóa đi mảng đen của cuộc sống.
Ta thấy Chúa Giêsu đã đến trền gian hơn hai ngàn năm, những mảng đen tối vẫn còn đó, điều này không có nghĩa Ngài bất lực trước nhân loại, không có nghĩa là Ngài kém toàn năng. Nhưng Ngài đang hướng đến nhân loại một niềm hy vọng phổ quát. Thánh Augustinô nói: “Thiên Chúa tạo dựng con người Ngài không cần con người, nhưng để cứu chuộc con người Ngài cần con người”.
Chính vì lẽ đó con người cần được thanh luyện và dạy dỗ như lời loan báo của tiên tri Isaia: “Thiên Chúa sẽ ban cho ngươi chút bánh đau thương, ít nước khốn cùng, nhưng Đấng dạy dỗ người sẽ không lìa bỏ ngươi, và mắt ngươi sẽ thấy Đấng dạy dỗ ngươi”. Kitô hữu phải kỳ vọng vào Thiên Chúa tình thương, để được Ngài sửa dạy trước khi có trái tim và đôi tay như Ngài. Ngài sẽ thức tỉnh lương tâm con người, phải làm gì cho vũ trụ, cho môi trường, để hạt giống được nẩy mầm, đất đai sinh lương thực béo tốt, gia sức có cỏ non, biển xanh có cá, khe núi có mạch nước mát trong lành, cho những người anh em đau khổ.
Tất cả những điều này chỉ có thể làm được khi con người biết quay trở về với Thiên Chúa, và như thế nhân loại sẽ bước vào mùa hy vọng phổ quát trong niềm vui và bình an, chứ không phải trong sự đau thương và hoảng loạn.
Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để mỗi người quay về với Chúa và nhất là nhìn thấy ơn cứu độ của Chúa để đi tìm. Ta cũng hãy nhìn lên gương của Cha Thánh Gioan Vanney hôm nay chúng ta mừng Lễ cho chúng ta biết hăng say đi tìm và cứu các linh hồn như Ngài. Chúng ta cũng không quên cầu nguyện cho các Cha Sở vì hôm nay là ngày mừng bổn mạng của các Ngài.
5 tháng 8, Cung hiến Đền thờ Đức Bà Cả
Kh 21, 1-5a; Lc 11, 27-28
HÃY ĐỂ TÂM HỒN TA LÀ ĐỀN CHÚA NGỰ
Đền thờ đầu tiên được cung hiến để kính Đức Trinh Nữ ở Roma, ngày nay gọi là đền thờ Đức Bà cả. Truyện kể lại rằng, có hai vợ chồng không con nuôi nấng, muốn dâng gia tài của mình cho Đức Mẹ. Trong khoảng đêm 4 hay 5 tháng 8, Đức Trinh nữ đã hiện ra với họ, cùng một lúc với Đức Thánh Cha Libêriô, bày tỏ ý muốn được thấy mọc lên trên núi Esquilin, một thánh đường dâng kính Ngài.
Hôm sau, Đức Thánh Cha cùng với hàng giáo sĩ ở Roma đi lên núi Esquilin. Lúc ấy trời nóng nực nhưng tuyết vẫn còn phủ đầy một góc núi. Theo ý Đức Trinh Nữ, Đức Thánh Cha phác họa một thánh đường, xây cất bằng tiền của cặp vợ chồng không con dâng cúng, lấy tên là đền thờ Đức Bà xuống tuyết để ghi nhớ phép lạ trên.
Truyện kể lại như vậy, nhưng tính chất chân thực của câu chuyện vẫn còn bị nghi ngờ, thực sự ở Roma đã có một đền thờ Đức Bà cổ, còn cổ kính hơn cả đền thờ Đức Thánh Cha Libêriô (352 - 366) cho xây cất nữa. Và đền thờ này được Đức Sixtô Israel (436 - 440) tái thiết. Ngài đặt tên là đền thờ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, chắc chắn là để ghi nhớ công đồng Ephêsô (431) biến cố dẫn tới tín điều Đức Bà Maria Mẹ Thiên Chúa.
Ngoài danh xưng là đền thờ Đức Bà xuống tuyết và đền thờ Đức Bà Maria Mẹ Thiên Chúa, ngôi đền này còn mang tên đền thờ Đức Bà Máng cỏ, vì nơi đây lưu giữ máng cỏ Chúa Giêsu sinh ra. Máng cỏ được đặt trong một cái hộp bằng bạc. Vào ngày lễ Giáng sinh, máng cỏ được đưa ra cho mọi người kính viếng.
Ngày nay, người ta thường gọi là đền thờ Đức Bà cả. Danh hiệu nầy nhắc nhớ thứ bậc của đền thờ này trong các các thánh đường dâng kính Đức Maria tại kinh thành muôn thuở. Đối với Giám mục Roma, đây cũng chính là nhà thờ chính tòa thứ hai.
Nhiều đền thờ trong số những đền thờ này đều ghi nhớ một giai thoại đạo đức như một ảnh lạ, vài ơn phúc đặc biệt mà tình yêu của Đức Trinh nữ đã thực hiện. Các tín hữu đến đây cầu nguyện để bày tỏ niềm cậy trông chân thành với Thiên Chúa và Đức Trinh nữ Maria.
Nhận thấy quyền năng và sự khôn ngoan nơi các phép lạ cũng như lời nói và việc làm của Chúa Giêsu, một người phụ nữ trong đám đông không thể cầm mình được. Bà đã lên tiếng ca ngợi Chúa Giêsu cách gián tiếp bằng cách ca ngợi người mẹ đã cưu mang Ngài: "Hạnh phúc thay bà mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm". Nhưng Chúa Giêsu đáp lại: "Ðúng hơn phải nói rằng: "Hạnh phúc thay kẻ lắng nghe và giữ Lời Thiên Chúa".
Chúa Giêsu đã chỉnh lại : “Đúng ra phải nói : Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa”. Trả lời như vậy Chúa Giêsu đã hướng những người nghe vào điều trọng tâm của việc nghe Người giảng đó là : phải đón nhận lời của Thiên Chúa và đem ra thực hành, chứ không chỉ coi những lời Người chỉ là những lời nói hay và thích thú theo kiểu thế gian. Chính thái độ lắng nghe như thế mới đem lại hạnh phúc cho mỗi chúng ta.
Chúa Giêsu không có ý phủ nhận vai trò của Mẹ Maria trong việc cưu mang, sinh hạ và nuôi dưỡng Ngài; nhưng qua những lời trên đây, Ngài mạc khải mối tương quan sâu xa giữa Ngài và Mẹ Maria; mối tương quan ấy không chỉ dừng lại ở huyết nhục, nhưng hơn ai hết, Mẹ là người đã triệt để lắng nghe và giữ Lời Thiên Chúa: cả cuộc đời Mẹ, từ biến cố Truyền tin cho đến khi đứng dưới chân Thập giá, Mẹ đã đón nhận Lời Chúa, qua tiếng Xin Vâng.
Chúa Giêsu không phủ nhận sự nâng niu, nuôi dưỡng của Mẹ Ngài và còn gián tiếp ca ngợi Đức Maria nữa vì Mẹ nghe lời và tuân giữ lời Chúa hơn ai hết. Câu trả lời của Chúa Giêsu còn nhắc nhở cho những người đang nghe Chúa nói và cho mỗi người chúng ta hôm nay, khi nghe lời Chúa, chúng ta có để cho lời Chúa vào tâm hồn mình rồi đem ra thực hành không hay chỉ nghe lời Chúa như lời người bình thường, chỉ thấy đó như là những lời hay ý đẹp của người phàm, chỉ thấy đó làm điều thích thú.
Một đời sống đạo đức gương mẫu vẫn luôn là một hấp lực và tác động người khác hơn cả những gì được viết trong sách vở. Mẹ Maria đã nêu gương cho chúng ta trong việc lắng nghe và thực thi Lời Chúa. Ðó là mối phúc mà ai trong chúng ta cũng có thể đạt được. Ước gì chúng ta tìm được hạnh phúc trong việc cưu mang Lời Chúa: cưu mang bằng cách lắng nghe, đón nhận và tuân giữ, để rồi một khi Lời Chúa đã trở thành sức sống, chúng ta có thể đem sự sống đó đến cho những người xung quanh.
Tin mừng hôm nay Chúa tiếp tục dùng “liệu pháp sốc” để mọi người ý thức về sự cao cả của người biết lắng nghe và thực hành lời Chúa như mẹ của Ngài. Chắc chắn Chúa không bao giờ hạ giá mẹ Ngài, vì hơn ai hết Chúa biết rõ Mẹ là người hằng lắng nghe và thực hành lời Chúa hơn ai hết.
Lắng nghe bài Tin mừng hôm nay, bạn và tôi có thể bị sốc trước lời của Chúa, nhưng Chúa muốn vậy để lay tỉnh tâm hồn ta. Chúa muốn ta suy gẫm về cuộc đời của Mẹ Ngài – một con người luôn lắng nghe và thực hành Lời Chúa và trở thành người có phúc nhất trần gian! Bạn và tôi cũng lại có cơ hội trong thánh Mân côi này suy gẫm cuộc đời của Mẹ gắn với cuộc đời của Chúa qua những mầu nhiệm được suy niệm trong kinh Mân Côi. Ước gì chúng ta luôn biết noi gương Mẹ trong việc lắng nghe và thực hành Lời Chúa để chúng ta cũng được hưởng lời chúc phúc của Chúa như Mẹ: “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.”
6 tháng 8
Chúa Hiển Dung
Đn 7, 9-10. 13-14; 2Pr 1, 16-19; Mt 17, 1-9
HIỂN DUNG NHƯ CHÚA
Cuộc Hiển Dung là cuộc tôn vinh được sống trước của Chúa Giêsu. Người đã xuất hiện trong tất cả những phẩm tính của Người: Con Người, tôi trung của Đức Chúa, Messiah, Con Thiên Chúa, và với tất cả các liên hệ của Người trong lịch sử cứu độ. Cuộc Hiển Dung vừa tăng cường uy tín cho sứ mạng của Đức Giêsu vừa củng cố quyền bính của các tông đồ. Nếu quyền hành của Phêrô (16,18) và của Nhóm Mười Hai (Mt 18,18) lên tới trời là bởi vì ở dưới thế này, Đức Kitô đã đăng quang, nhằm xác nhận các quyết định của các ông.
Tin Mừng thánh Luca trình bày quang cảnh Chúa Giêsu Hiển Dung để tỏ bày vinh quang của Người. Qua đó, Người khích lệ và nâng đỡ cho niềm tin của các môn đệ cũng như của mỗi người chúng ta.
Chúa Giêsu Hiển Dung khi Người đang “cầu nguyện”, trong sự kết hợp thân mật với Chúa Cha “dung mạo của Người bỗng đổi khác”. Chúa Cha đã làm cho vinh quang của Chúa Con được chiếu tỏa trên núi thánh, để xác nhận về sứ mạng đã giao phó cho Người: “Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người!”. Tin Mừng Luca sử dụng thuật ngữ “người được tuyển chọn” từ bài ca thứ hai về Người Tôi tớ, trong lúc Hiển dung và khi trên thập giá (x. Lc 23,35), để nhấn mạnh mối liên hệ giữa cuộc khổ nạn và phục sinh vinh quang của Chúa Giêsu. Người chính là “Đấng Thánh của Israel” bị “người đời khinh chê” (Is 49,7).
Dung mạo Thiên Chúa được hiển dung nơi Chúa Giêsu Na-da-rét trên ngọn núi cao đã làm cho tâm hồn ba môn đệ ngất ngây trong niềm hạnh phúc vô biên. Vì thế, Phêrô muốn sống mãi giờ khắc tuyệt vời ấy và không muốn rời bỏ khung cảnh thần tiên đó. Ông đề nghị dựng lều ở lại lâu dài trên núi: "Bấy giờ ông Phêrô thưa với Chúa Giêsu rằng: "Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia."
Sau khi biến hình sáng chói, Chúa Giêsu và các tông đồ phải đi xuống núi và trở về cuộc sống thực tế hằng ngày. Chúa Giêsu không muốn đi theo con đường tắt dễ dàng. Ngài muốn đi trọn con đường và sứ mệnh mà Cha đã trao phó. Sứ mệnh cứu độ không chỉ qua sự giảng dạy và thực hành các phép lạ, nhưng là chấp nhận đau khổ và cái chết. Không có một hy lễ nào cao trọng hơn hy tế của Chúa Giêsu trên thập giá. Con Thiên Chúa đã đi đến cùng tận trong tất cả mọi trạng huống của cuộc đời. Từ khi Chúa hạ thân nghèo hèn trong máng cỏ cho tới lúc thân trần treo trên thập giá. Không có một con người nào dám bươc xuống thẳm sâu như Chúa. Chúa đã bước xuống và cứu con người lên.
Chúng ta không thể đi con đường tắt để đến ơn cứu độ. Chúng ta hãy cố gắng sống tốt từng phút giây mà Chúa đã ban. Hoàn tất tốt giây phút hiện tại trong yêu thương tha thứ và chia sẻ bác ái. Hãy ngước nhìn lên thập giá của Chúa để tìm nguồn ủi an và gắn kết yêu thương. Chúa sẽ dẫn chúng ta đến nguồn ơn cứu độ. Chúng ta biết rằng phải qua thánh giá mới đạt tới vinh quang.
Đồng thời, chúng ta thấy ý nghĩa sâu xa hơn nơi biến cố Hiển Dung của Chúa Giêsu: Người đến để hoàn thành toàn bộ lời hứa của Thiên Chúa trong Cựu ước. Sự hiện diện của ông Môsê đại diện cho Lề luật và của ông Êlia đại diện cho các Ngôn sứ nhằm mục đích làm sáng tỏ công trình cứu độ Chúa Giêsu thực hiện. Các ngài nói về sự “chết của Người sẽ thực hiện tại Giêrusalem”; hình ảnh “núi” và “mây che phủ”, cùng với nỗi sợ hãi của các môn đệ, nhắc nhớ về biến cố Thiên Chúa hiện ra trên núi Sinai. “Lều” mà Phêrô xin được dựng gợi lại hình ảnh dân Israel ngày xưa đi trong sa mạc tiến vào đất hứa. Chúa Giêsu chính là Môsê mới, hướng dẫn dân Israel mới là toàn thể nhân loại đi về Đất hứa là Nước Trời; Ngài cũng tiếp tục công việc của ngôn sứ Êlia là đưa con người ra khỏi tình trạng thờ ngẫu tượng để quay về với Thiên Chúa.
Lễ Hiển Dung hôm nay mời gọi chúng ta hãy tìm lại hình ảnh ban đầu của tạo dựng. Hãy gạn đục khơi trong để hình ảnh của Chúa luôn tỏ hiện ra nơi bản thân của chúng ta. Hãy tìm lại hình ảnh tinh tuyền ban đầu của mình, một hình ảnh chưa bị lòng ham muốn danh lợi thú làm hoen ố, mới thấy phẩm giá cao đẹp của con người thật cao qúy hơn muôn loài. Có ý thức được sự cao qúy nơi phẩm giá làm người mới biết trân trọng và gìn giữ cho mình và cho anh em. Phẩm giá con người cao qúy hơn mọi danh lợi thú trần gian, thế nên đừng bao giờ vì một chút bổng lộc trần gian, một chút vui sướng mau qua mà đánh mất phẩm giá của mình và làm tổn thương đến phẩm giá của tha nhân.
Qua biến cố Hiển Dung, Chúa Giêsu muốn khích lệ và nâng đỡ cho niềm tin của các môn đệ. Chính ba môn đệ này cũng chứng kiến đau khổ của Đức Giêsu trong vườn cây dầu sau này (x. Mt 26,37). Cả hai trường hợp các ông đều ngủ. Sức nặng của những khổ đau đã đè nặng các ông. Vì thế, biến cố Hiển Dung của Chúa Giêsu cho các môn đệ cảm nếm trước vinh quang thần linh của Người, giúp các ông hiểu rằng để đến vinh quang phục sinh phải qua đau khổ thập giá.
Như thế, cuộc Hiển Dung của Chúa Giêsu giúp chúng ta ý thức về một nguy hiểm: đó là sự chán nản, nhụt chí, thất vọng khi gặp những khó khăn thử thách và đau khổ trong đời sống đức tin. Để vượt qua mối nguy hiểm này và để trung tín đến cùng với Thiên Chúa, chúng ta cần biết lắng nghe và thực thi Lời Chúa trong đời sống hằng ngày, để sống xứng đáng là người được Thiên Chúa tuyển chọn.
August 5, 2020