| |
Cuộc Tìm Thấy và Tìm Kiếm cần Trao Đổi
Tiếp
theo loạt dụ ngôn về Triều Đại Thiên Chúa từ tuần trước, tuần
này bài Phúc Âm cũng có các dụ ngôn khác về mầu nhiệm Nước Trời.
Nếu tuần trước có ba dụ ngôn, nhưng chỉ có dụ ngôn đầu là dụ ngôn
được Giáo Hội nhấn mạnh thế nào, thì trong bài Phúc Âm tuần này,
dù có 3 dụ ngôn, Giáo Hội cũng chỉ nhấn mạnh đến hai dụ ngôn đầu
mà thôi, đó là dụ ngôn “Triều đại Thiên Chúa giống như một kho
tàng có người tìm thấy trong một thửa ruộng”, và dụ ngôn “Nước
Trời giống như người thương gia đi tìm kiếm những viên ngọc quí”.
Còn dụ ngôn thứ ba Giáo Hội không buộc đọc, đó là dụ ngôn “Triều
đại Thiên Chúa cũng giống như một rọ lưới được thả dưới hồ để
thu góp đủ mọi thứ”. Phải chăng Giáo Hội chỉ nhấn mạnh vào hai
dụ ngôn đầu trong bài Phúc Âm hôm nay là vì hai dụ ngôn này hợp
với chủ đề Chứng Tá Giáo Hội của Mùa Phụng Vụ Thường Niên Hậu
Phục Sinh? Vậy chủ đề Chứng Tá Giáo Hội trong hai dụ ngôn đầu
của bài Phúc Âm này như thế nào và ở chỗ nào?
Ở
đây Chúa Giêsu không cắt nghĩa rõ ràng cho các tông đồ nghe về
hai dụ ngôn này, như Người đã làm với dụ ngôn “người gieo giống”
ở bài Phúc Âm Chúa Nhật hai tuần trước, và dụ ngôn “Triều Đại
Thiên Chúa giống như người kia gieo giống tốt trong thửa ruộng
của mình” ở bài Phúc Âm tuần vừa rồi, vì Người muốn đáp lại lời
yêu cầu của các tông đồ. Phải chăng không hỏi gì về các dụ ngôn
khác có nghĩa là các tông đồ đã hiểu được ý nghĩa của các dụ ngôn
vắn gọn ấy rồi chăng? Không biết các tông đồ đã hiểu ra sao về
hai dụ ngôn này, nhưng, xét về ý nghĩa, đây là một cặp dụ ngôn
có ý nghĩa giống nhau, như cặp dụ ngôn “hạt cải” và “nắm men”
ở bài Phúc Âm tuần trước vậy. Nếu cặp dụ ngôn “hạt cải” và “nắm
men” có ý nghĩa giống nhau ở chỗ tác dụng của chúng từ bên trong
thế nào, thì cặp dụ ngôn “kho tàng trong ruộng” và “hạt ngọc quí
giá” cũng có ý nghĩa giống nhau ở chỗ trị giá trao đổi như vậy.
Và, nếu cặp dụ ngôn tuần trước, nói đúng hơn nếu cả ba dụ ngôn
của bài Phúc Âm tuần trước, nhấn mạnh đến vai trò của người ban
phát, như người gieo giống tốt trong ruộng của mình, người lấy
hạt cải gieo trong ruộng của mình, và người đàn bà lấy men vùi
vào ba đấu bột, thì cặp dụ ngôn tuần này lại nhấn mạnh đến vai
trò của người nhận lãnh, người tìm được kho tàng chôn giấu trong
ruộng, và người tìm được viên ngọc trai quí giá. Như thế, Triều
Đại Thiên Chúa hay Vương Quốc của Thiên Chúa chẳng những là Mạc
Khải Thần Linh, liên quan đến Thiên Chúa, đến Đấng tỏ mình ra,
mà còn là “Đức Tin Tuân Phục” (x Rm 1:5, 16:26), liên quan đến
con người lãnh nhận Mạc Khải Thần Linh của Ngài nữa.
Đức
Tin Tuân Phục, theo tinh thần Phúc Âm, được thể hiện ở chỗ bỏ
mình, ở chỗ trao đổi, thậm chí ở chỗ hy sinh trao đổi cả mạng
sống mình vì đức tin nữa (x Mt 16:25; Jn 12:25). Đó là lý do cặp
dụ ngôn chính của bài Phúc Âm hôm nay nhấn mạnh đến việc trao
đổi giữa con người với những sự vật đáng giá, như với thửa ruộng
và với viên ngọc quí. Tuy nhiên, trong cặp dụ ngôn trao đổi của
hèn lấy của trọng ở bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy ít là hai
chi tiết cần chú ý sau đây liên quan đến ý nghĩa của chính những
gì Chúa Giêsu muốn mạc khải cho chúng ta biết về mầu nhiệm Nước
Trời: chi tiết thứ nhất đó là vấn đề liên quan đến tác động của
Đức Tin Tuân Phục nơi thành phần lãnh nhận Mạc Khải Thần Linh,
và chi tiết thứ hai liên quan đến đối tượng cần phải được con
người lãnh nhận Mạc Khải Thần Linh trao đổi.
Về
tác động của Đức Tin Tuân Phục nơi thành phần lãnh nhận Mạc Khải
Thần Linh. Nếu ở dụ ngôn thứ nhất, dụ ngôn “kho tàng trong ruộng”,
tác động của con người lãnh nhận Mạc Khải Thần Linh là “tìm thấy”,
tức bất ngờ khám phá ra những gì đã có sẵn ở đâu đó, thì ở dụ
ngôn thứ hai, dụ ngôn về “hạt ngọc quí giá”, tác động của con
người lãnh nhận Mạc Khải Thần Linh là “tìm kiếm”, tức phải mất
công tìm mới thấy, chứ không phải tự nhiên mà vớ được như trường
hợp của người trong dụ ngôn “kho tàng trong ruộng”. Tuy nhiên,
dù bất ngờ “tìm thấy” (find), hay phải vất vả “tìm kiếm” (search
for) đi nữa, tác động chung của thành phần lãnh nhận Mạc Khải
Thần Linh cần phải thực hiện cũng hoàn toàn giống hệt như nhau,
đó là việc họ cần phải trao đổi, là việc họ cần phải “bán đi tất
cả những gì mình có mà mua lấy” những gì đáng giá và quí giá ấy.
Vậy những gì cần phải được trao đổi ấy đáng giá và quí giá ra
sao mà con người lãnh nhận Mạc Khải Thần Linh cần phải thực hiện
cách tương xứng mới có thể chiếm hữu?
Về
đối tượng cần phải được con người lãnh nhận Mạc Khải Thần Linh
trao đổi. Hai báu vật cần phải được trao đổi một cách tương xứng
đây là “thửa ruộng” ở dụ ngôn thứ nhất, và “ngọc quí” ở dụ ngôn
thứ hai. Chúng ta nên lưu ý là, ở dụ ngôn thứ nhất, vật cần phải
được trao đổi không phải là chính “kho tàng được chôn giấu trong
ruộng” mà chỉ là “thửa ruộng”. Vậy “thửa ruộng” đây là gì, trước
hết, nếu không phải (có thể được hiểu) là nhân tính Chúa Kitô,
thửa ruộng chất chứa kho tàng thần tính vô cùng cao quí của Người,
mà “nếu ai chấp nhận Người thì Người ban cho họ quyền làm con
cái Thiên Chúa” (Jn 1:12). Sau nữa, còn (có thể được hiểu) là
các vị thừa sai, thửa ruộng chất chứa trong mình kho tàng Tin
Mừng Sự Sống hay Sứ Điệp Cứu Rỗi được Chúa Kitô trao phó cho họ
“trong tăm tối”, “trong âm thầm” (Mt 10:27), để rồi “ai chấp nhận
các con là chấp nhận Thày… ai tiếp nhận một tiên tri vì là tiên
tri thì lãnh nhận phần thưởng của tiên tri”, như lời Chúa Giêsu
khẳng định với các tông đồ trước khi sai các vị đi rao giảng ở
Phúc Âm Chúa Nhật XIII cách đây 4 tuần về thái độ của thành phần
lãnh nhận Mạc Khải Thần Linh.
Còn
“ngọc quí” ở dụ ngôn thứ hai đây là gì, trước hết, nếu không phải
(có thể được hiểu) là thành phần “chiên lạc nhà Yến Duyên”, đối
tượng được Chúa Kitô sai các tông đồ đi loan báo “Triều đại Thiên
Chúa đã tới”, trong Phúc Âm Chúa Nhật XI các đây 6 tuần; sau nữa,
(còn thể thể được hiểu) là thành phần “chiên chưa thuộc về đàn”
(Jn 10:16) là chung nhân loại hay Dân Ngoại cũng vậy, thành phần
cao quí đến nỗi “Thiên Chúa đã không tiếc Con Mình, song đã phó
nộp Người vì tất cả chúng ta” (Rm 8:32). Chưa hết, “hòn ngọc quí
giá” đây cũng có thể hiểu được là con chiên thứ 100, con chiên
lạc duy nhất trong đàn 100 con (x Lk 15:4-7), là đồng bạc bị rơi
mất song được tìm thấy (x Lk 15:8-10), là đứa con thứ phung phá
gia tài của cha trở về (x Lk 15:11-24), là đứa con cả hoang đàng
vì gần cha mà lại chẳng hiểu cha mình gì cả (x Lk 15:25-32), là
tên thu thuế tội lỗi lên đền thờ đấm ngực cầu nguyện ra về được
công chính hóa (x Lk 18:13-14), là người phụ nữ tội lỗi có tiếng
trong thành song yêu nhiều nên được tha nhiều (x Lk 7:36-50),
là một trưởng ban thu thuế Zakêu nhận lỗi và đền trả gấp bốn những
gì mình đã làm thiệt hại người khác (x Lk 19:1-10), là người trộm
lành thống hối và bênh chữa Chúa Kitô trên thập giá (x Lk 23:40-43)
v.v.
Căn
cứ vào tác động bất ngờ “tìm thấy” và vất vả “tìm kiếm” này, cũng
như căn cứ vào vị trí (gần gũi và xa cách) của đối tượng cần phải
được trao đổi một cách tương xứng, chúng ta có thể suy đoán ý
nghĩa về dụ ngôn “kho tàng trong ruộng” và “hòn ngọc quí giá”
trong bài Phúc Âm hôm nay như thế này.
Trước
hết, tác động bất ngờ “tìm thấy” là tác động của thành phần Dân
Do Thái, vì họ chỉ cần lấy đức tin chân chính do cha ông họ để
lại, được ghi nhận trong bộ Thánh Kinh (Cựu Ước) của họ, là họ
có thể nhận ra ngay được Đấng Thiên Sai họ đợi trông (x Jn 1:19-22;
Mt 11:3), Vị được Gioan Tẩy Giả nói với họ rằng “có một Đấng ở
giữa các người mà các người không biết” (Jn 1:26). Tác động “tìm
thấy” còn có thể áp dụng cho cả thành phần Kitô hữu nữa, thành
phần cũng phải sống Đức Tin Tuân Phục mới có thể nhận ra “Thiên
Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1:23), mới có thể nhận ra “Lời đã hóa
thành nhục thể và ở giữa chúng ta” (Jn 1:14), để nhờ đó, như tông
đồ Phêrô trước Con Người sống động, họ có thể tuyên xưng “Thày
là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16:16), hay như tông
đồ Tôma trước Con Người phục sinh: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa
tôi” (Jn 20:28).
Còn
tác động vất vả “tìm kiếm” xa xôi là tác động của thành phần Dân
Ngoại, như của trường hợp ba chiêm tinh gia đạo sĩ từ Đông Phương
đến để triều bái Vua Dân Do Thái mới sinh (x Mt 2:1-2, 9-11),
hay của người Samaritanô nhân lành đã vội vàng tận tình ra tay
cứu giúp kẻ lạ mặt đang ngấp ngoái nửa sống nửa chết bên đường
vì bị bọn thổ phỉ ra tay cướp đoạt (x Lk 10:30-37). Tác động “tìm
kiếm” này còn có thể áp dụng cho cả thành phần Kitô hữu chứng
nhân tông đồ, thành phần sau khi “tìm thấy” kho tàng Lời Chúa
được chôn giấu” trong thửa ruộng Thánh Kinh, “tìm thấy” kho tàng
Thánh Thể được chôn giấu nơi Phụng Vụ, đã dấn thân lên đường để
“tìm kiếm” và phục vụ những viên ngọc quí là thành phần “những
người anh em bé mọn nhất” của Chúa Kitô được Người đồng hóa với
chính Người trong hoàn cảnh sống khốn khó nhất trên đời của họ
(x Mt 25:40, 45).
Vậy,
qua cặp dụ ngôn “kho tàng trong ruộng” và “hòn ngọc quí giá” trong
bài Phúc Âm hôm nay, chiều hướng Chứng Từ Giáo Hội có thể được
hiểu theo ý nghĩa “tìm kiếm” sau khi “tìm thấy” là như vừa được
cảm nhận và chia sẻ. Chung Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay cũng cho
thấy, theo chiều hướng của bài đọc một, “kho tàng trong ruộng”
đây là đức khôn ngoan, một kho tàng ở ngay trong bản thân Salomon,
được bộc lộ qua lời nguyện cầu của vua, một kho tàng vua đã phải
trao đổi bằng các phúc lộc trường thọ, giầu sang và thắng trận
mà vua có thể được Thiên Chúa ban cho nếu vua xin; và theo chiều
hướng của bài đọc hai, “hòn ngọc quí giá” đây đó là hình ảnh Con
Thiên Chúa, một hình ảnh vô cùng cao cảù được “những ai Thiên
Chúa biết trước thì Ngài cũng tiền định cho được chia sẻ”, một
hình ảnh họ cũng cần phải trao đổi bằng việc sẵn sàng chấp nhận
tất cả những gì xẩy ra ngoài ý muốn của họ, ở chỗ, họ chẳng những
chấp nhận đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa, mà nhất là còn để
cho Thiên Chúa tự do công chính hóa họ “theo ý định của Ngài”,
nhờ đó, họ mới có thể thực sự là chứng từ sống động của “hình
ảnh Con Ngài”.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
|
|