Chúa Nhật II Phục Sinh Năm A
 
 


MỪNG ĐẠI LỄ CHÚA THƯƠNG XÓT

Tin Yêu Trong Tín Thác

Bàng hoàng và ngây ngất trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ của "Grand Canyon" thuộc bang Arizona, một thắng cảnh nổi tiếng trên thế giới, người du khách đã vô tình trượt chân và rơi xuống sườn đồi. May mắn cho ông, ông đã vội vàng nắm được một cành cây gần đó. Trong sự sợ hãi, ông la lớn tiếng: "Có ai ở trên đó không? Có ai giúp tôi được không?" Và ông đã nghe được một giọng nói thật vững vàng như đang trấn an tâm hồn rối loạn của ông: "Có Ta đây, Ta là Thiên Chúa đây!"

Vừa mừng vừa sợ, ông thổn thức trả lời: "May quá, cám ơn Chúa đã đến cứu con. Xin Chúa mau giúp con, con mỏi tay lắm rồi, không thể bám lâu hơn được nữa!" Chúa trả lời: "Trước khi Ta cứu con, Ta muốn biết con có tin Ta không?" Người đàn ông đáp: "Lậy Chúa con thật sự tin Chúa. Con đi nhà thờ mỗi Chúa Nhật, thỉnh thoảng đi lễ ngày thứ Tư nữa. Con đọc Thánh Kinh và cầu nguyện mỗi ngày, con bỏ tiền vào nhà thờ nữa." Chúa tiếp: "Nhưng con có thực sự tin tưởngnơi Ta không?" Người đàn ông khẩn khoản tha thiết: "Lậy Chúa, Chúa không thể tưởng tượng được niềm tin con dành cho Chúa. Con hoàn toàn tin tưởng nơi Chúa." Chúa tiếp: "Rất tốt, vậy bây giờ con hãy nghe ta và buông tay khỏi cành cây đi!" Người đàn ông lung túng: "Nhưng mà thưa Chúa..." Chúa lập lại lời yêu cầu: "Nếu thực sự tin Ta, con hãy buông tay khỏi cành cây đi!" Thinh lặng trong giây lát, người đàn ông tiếp tục cầu cứu: "Có còn ai khác ở trên đó nữa không? Giúp tôi với!"

Phúc âm tuần này đề cập đến niềm tin của Thánh Tôma Tông đồ. Ông nghi ngờ không tin Chúa đã sống lại và đòi phải có bằng chứng cụ thể thì ông mới tin. Chúa Kitô đã chiều ông, cho ông xem và đụng chạm đến con người Phục Sinh của Ngài, nhưng ngay sau đó, Chúa đã khẳng định: "Con tin vì con đã thấy Ta. Phúc cho những ai không thấy nhưng vẫn tin."

Đối với những sinh hoạt của con người trong xã hội ngày nay, thì đòi hỏi của Thánh Tôma là một điều bình thường, không có gì đáng trách, nhưng trên phương diện tình yêu, tình yêu dành cho con người hay tình yêu đối với thượng đế, thì thách đố đó đã nói lên một sự bất toàn, do đó tình yêu đã không được trọn vẹn. Nếu theo dõi những vụ kiện trong tòa án thời nay, chúng ta thấy rằng vụ kiện nào cũng cần phải có những chứng cớ cụ thể và rõ ràng thì mới có thể kết án phạm nhân được, thì mới phân định được ai đúng ai sai. Trong tình yêu chân thành cũng như trong niềm tin trọn vẹn thì không cần phải tranh luận đúng sai, chỉ cần một sự tín thác hoàn toàn. Niềm tin và tình yêu này đòi hỏi con người phải dám chấp nhận những hậu quả đem đến và kiên tâm, quyết tâm sống chết với hậu quả đó. Đây mới thật là một tình yêu trưởng thành.

Bài đọc một trích trong Công vụ Tông đồ đề cập đến sinh hoạt của các cộng đoàn tín hữu tiên khởi sau khi họ đã đặt niềm tin nơi Chúa Kitô: "Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dậy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng... Tất cả tín hữu hiệp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí... Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ (Acts 2:42-46). Cộng đoàn Kitô giáo tiên khởi nói trên đã có một niềm tin không nghi ngại nơi Chúa Kitô qua các Tông đồ. Niềm tin này đem đến một tình yêu trọn vẹn, không tính toán. Hậu quả là một cộng đoàn yêu thương hiệp nhất, trong đó, hết mọi người kính yêu Thiên Chúa, kính trọng và vângphục các Tông đồ. Họ lắng nghe, chia sẻ và nâng đỡ lẫn nhau. Điều này chỉ có thể xẩy ra khi mọi phần tử trong cộng đoàn có cùng một niềm tin, cùng một đối tượng yêu thương là chính Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô.

Lậy Chúa, xin hãy củng cố niềm tin nghi ngại của con, để con dám trao dâng không tính toán và quyết tâm xây dựng một cộng đoàn, một thế giới yêu thương và hiệp nhất.

Sr. Thanh-Thuỷ, LHC

 

Chúa Nhật II Phục Sinh A - 27-4-2014
Tin Mừng Phục Sinh (Ga 20:19 -31)

Tại một vùng kia của nước Pháp, dân chúng ở đây có tập tục, sáng sớm ngày Chúa Nhật Phục Sinh, khi những hồi chuông đầu tiên của nhà thờ nổi lên, tất cả dân chúng trong làng đều chỗi dậy chạy ra giếng của làng để rửa mắt trong giòng nước mát lạnh. Nhiều người ở làng khác không hiểu tại sao lại chạy ra giếng để rửa mắt như vậy, trong khi gia đình nào cũng có các vòi nước trong nhà. Họ đã giải thích rằng: hành động này là một hình thức cầu nguyện bằng tác động, qua đó dân làng cầu xin Thiên Chúa ban cho họ đôi mắt Đức Tin mới, mà họ gọi là đôi mắt Phục Sinh để thấy rõ hơn và cảm nghiệm sâu sa rằng: biến cố Phục Sinh đã thay đổi cuộc sống của họ, nhất là qua đó họ bày tỏ ước vọng được thấy Chúa Giêsu, Đấng không còn chết nữa, nhưng đang sống và hiện diện giữa làng và trong từng người.

Qua các câu chuyện được thuật lại trong Tin Mừng xoay quanh biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu, chúng ta biết được các tông đồ là những nhân chứng mắt thấy tai nghe, và cả kinh nghiệm của ông Tô Ma, là người đòi được thấy trước, sờ trước rồi mới tin. Chúa Giêsu đã chiều lòng ông, Ngài đã cho ông thấy để mời gọi ông tin, nhưng Ngài cũng cầu chúc: “Phúc cho những ai không thấy mà tin”.

Theo lý luận thường tình, có thấy mới tin. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta cũng thường hay nói như ông Tô Ma: Tôi không thấy thì tôi không tin, hoặc tôi thấy mới tin… nghĩa là chúng ta đều có xu hướng chỉ tin cái mình thấy, nhưng chúng ta không để ý, hay không biết rằng câu nói này, đòi hỏi hoặc yêu cầu của chúng ta là mâu thuẫn và vô nghĩa. Bởi vì bản chất của việc Tin là không thấy. Nếu thấy rồi thì không phải tin nữa. Bởi vì tin là chấp nhận một điều không thấy, không chứng kiến. Không thấy nhưng vẫn tin vì điều đó hợp lý, hợp tình, dựa vào một hay nhiều nhân chứng, sự kiện kể lại… Chẳng hạn, chúng ta có thấy ông cụ, ông kỵ, tổ tiên của chúng ta không, nhưng chúng ta vẫn tin chắc là chúng ta phải có ông cụ, ông kỵ, tổ tiên…

Sự kiện ông Tô Ma đòi phải kiểm chứng Chúa Giêsu phục sinh thì ông mới tin. Ông có đủ lý do chính đáng để nghi ngờ và đòi hỏi như vậy, vì ông chưa được thấy Chúa hiện ra rõ ràng như các môn đệ khác. Chúng ta cám ơn ông, vì việc đòi hỏi của ông có lợi cho chúng ta. Nói khác đi, từ sau khi ông Tô Ma đòi được sờ mó vào thân xác Chúa Giêsu phục sinh sẽ không bao giờ có được nữa. Từ đó, người ta tin vào Chúa Phục Sinh qua Thánh Kinh, qua Giáo Hội, quacác bậc tiền nhân. Ai tin qua đó là có phúc, nhưChúa đã nói: “Phúc cho aikhông thấy mà tin”.

Như vậy, đối với biếncố Phục Sinh của ChúaGiêsu, chúng ta có thể nói rằng: “Có tin mới có thấy”, nghĩa là những người tin mới được thấy, thấy là thấy với đôi mắt đức tin. Bằng đôi mắt đức tin chúng ta có thể kinh nghiệm được Chúa Giêsu đang hiện diện vàsống động giữa chúng ta. Thật vậy, chúng ta không thấy Chúa sống lại, nhưng chúng ta tin, vì Kinh Thánh đã nói về việc Người sống lại, qua các chứng nhân là các tông đồ. Lòng tin của Giáo Hội hai mươi thế kỷ qua đã minh chứng: Chúng ta tôn thờ Đấng bị đóng đinh trên thập giá, chúng ta tôn thờ Đấng ngự trong phép Thánh Thể… là chúng ta tin Chúa đang sống, Người đang điều hành vũ trụ. Ngài đang hiện diện và đồng hành với chúng ta ở khắp mọi nơi, mọi lúc, trên khắp mọi nẻo đường, ngõ ngách… đâu đâu cũng có Người. Người là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu.

Sự kiện Chúa Giêsu Phục Sinh là một trong những chân lý đức tin, một mầu nhiệm lớn trong đạo. Đây là chân lý nền tảng cho đời sống Đức Tin và niềm hy vọng của chúng ta. Chân lý đức tin này giúp chúng ta có cái nhìn mới về Thiên Chúa, về chính mình, về cuộc đời, về sự sống, sự chết, đời này, đời sau, về lịch sử, về những biến cố thăng trầm… những cái nhìn mới ấy không ai cho chúng ta được, mà phải là chính mỗi người cảm nghiệm được để hướng dẫn và giúp chúng ta cách sống đạo, sống Đức Tin ngày càng tốt đẹp hơn. Chính cách sống tốt đẹp của chúng ta là: thực hành các việc đạo đức, sống lòng bác ái yêu thương, công bằng và hài hòa với mọi người là chúng đang sống niềm tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh vậy.

Lạy Chúa, xin củng cố niềm Tin của chúng con còn yếu kém, non nớt. Xin cho niềm tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh trong chúng con ngày thêm mạnh mẽ và kiên cường, để thấy Chúa vẫn đang đồng hành và hiện diện trong đời sống hàng ngày.

Sr. Lệ Tâm

TÔMA

Một phần nào đó, tất cả chúng ta đều giống Tôma. Thực vậy, chúng ta chỉ tin một khi đã thấy. Tinh thần khoa học ngày nay làm cho chúng ta đặt lại tất tất cả các vấn đề. Chúng ta phê bình, chúng ta phân tích, chúng ta thí nghiệm, chúng ta kiểm chứng trước khi ưng thuận.

Rồi từ đó chúng ta bước sang lãnh vực đức tin. Chúng ta đòi hỏi đức tin phải có những lý lẽ hợp lý, xác thực như những sự kiện của khoa học. Vì thế, những chân lý mạc khải, đối với chúng ta thật khó mà chấp nhận.

Tuy nhiên, để khỏi lầm lẫn tai hại, chúng ta cần phải xác định: đối tượng của đức tin không phải là đối tượng của khoa học. Phạm vi của khoa học là vật chất, cho nên nó đòi hỏi những sự vật cụ thể, khả dĩ có thể thực nghiệm được. Còn phạm vi của đức tin là siêu nhiên, cho nên nó đòi hỏi những chân lý khả dĩ đem lại cho con người sự giải thoát. Và những chân lý ấy phải được dựa trên uy quyền và lời chứng của Đức Kitô. Khoa học chỉ có thể biến đổi cái thế giới vật chất bên ngoài, nhưng đức tin sẽ biến đổi cái thế giới tâm linh bên trong của mỗi người chúng ta.

Chúng ta thấy khi Chúa hiện đến, Tôma liền nhận ra Ngài và quỳ gối xuống tuyên xưng đức tin: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi”. Tất cả mọi nghi ngờ đều tan biến. Tôma chấp nhận toàn bộ thực tế và nhìn nhận Đức Kitô, người đã chết mà nay lại đang sống. Ông không cần sờ vào vết thương của Ngài, chỉ sự hiện diện của Ngài, một sự hiện diện đầy yêu thương và uy quyền đã củng cố niềm tin và thay đổi hẳn con người Tôma.

Và như thế, chúng ta sẽ rút ra được một bài học quý giá, đó là trong phạm vi đức tin, chúng ta cần tìm tòi, cần đào sâu để có được một đức tin kiên vững. Đó mới chỉ là bước thứ nhất. Bởi vì có đức tin mà thôi chưa đủ, điều quan trọng hơn là phải sống đức tin. Hay nói một cách khác liệu đức tin có đủ mạnh để làm chuyển biến cuộc đời, cũng như đổi thay chính con người chúng ta hay không?

Muốn được như thế, không gì hơn là hãy sống gắn bó và tiếp xúc thân mật với Đức Kitô. Sự tiếp xúc này, ngày xưa đã biến đổi các môn đệ từ những người u mê dốt nát, hèn nhát và sợ sệt trở thành những người thông suốt giáo lý Tin Mừng và nhất là can đảm loan truyền và làm chứng cho Tin Mừng đó. Lạy Đức Kitô phục sinh, xin hãy biến đổi và uốn nắn con người chúng con.

TIN- sưu tầm

Trong thành Giêrusalem, ai nấy đều rõ: Ông Giêsu, người làng Nagiaret, đã chết. Thế nhưng, việc Ngài đột ngột sống lại đã gây nên nhiều thái độ khác nhau: Tin và không tin, chấp nhận và chống đối. Chúng ta cùng nhau phân tích thái độ của Tôma, vì nó rất gần gũi với chúng ta, cũng như soi sáng cho chúng ta tin vào Đức Kitô Phục sinh hơn.

Trước hết tin là phải chấp nhận có một thế giới khác vượt ngoài tầm tay và suy tưởng của chúng ta. Trong thời đại khoa học này, chúng ta dễ bị cám dỗ, chỉ tin vào những gì thấy được và hợp lý mà thôi.

Chính vì thế một bác sĩ giải phẫu đã tuyên bố:

- Tôi đã mổ nhiều người nhưng chẳng thấy linh hồn ở đâu.

Hay như một phi hành gia sau lần bay quanh mặt trăng ba vòng cũng tuyên bố:

- Tôi đã lên thật cao mà chẳng thấy Chúa nào ở trên trời cả.

Tôma cũng đòi phải thọc chính tay mình vào cạnh sườn Chúa thì ông mới tin. Thường tình con người vẫn muốn coi mình là trung tâm điểm và bắt Thiên Chúa phải thế này thế nọ thì chúng ta mới tin.

Tiếp đến, tin vào Chúa Phục sinh đòi chúng ta phải dám liều. Hai người yêu nhau dù có tâm sự tính toán kỹ với nhau, nhưng rồi cuối cùng cũng vẫn phải dám liều. Biết ngày mai sẽ ra như thế nào. Nếu chắc chắn thì còn thề thốt làm chi.

Chẳng bao giờ con người có thể hiểu hết về Thiên Chúa cũng như về thế giới bên kia. Tin đây là tin Đấng đã chết mà nay sống lại, đồng thời Ngài đã hứa ban cho chúng ta đời sống vĩnh cửu sau khi chết.

Cũng như Tôma, chúng ta chỉ được nghe nói lại. Ngài là Đấng vô hình và dường như luôn vắng bóng và im tiếng, dù Ngài luôn ở bên cạnh chúng ta. Tin như vậy không phải là dám liều, dán trao cả cuộc đời và con người chúng ta vào tay Đấng vô hình đó sao. Với Tôma, tin Ngài sống lại có nghĩa là phải tiếp tục từ bỏ những dự định riêng tư để bước theo Ngài.

Sau cùng, tin đòi phải chiến đấu. Đức tin không đem lại sự yên ổn. Sở dĩ như vậy vì đức tin đòi phải phá hủy con người cũ trong chúng ta. Bởi đó chúng ta phải chiến đấu với chính mình. Con người vẫn có khuynh hướng ôm chắc lấy những gì có sẵn, không muốn đánh mất thế giới họ đã tạo ra như của cải, mạng sống.

Tin vào Chúa Phục sinh là hướng cả cuộc sống về đời sau Chúa hứa. Do đó, đức tin đòi chúng ta phải đặt lại giá trị tất cả những gì chúng ta đang có hay sẽ kiếm được, ngay cả đến mạng sống. Nhiều khi đức tin còn đòi chúng ta phải có thái độ dửng dưng và từ bỏ, nếu của cải, mạng sống ngăn cản Tin Mừng. Nếu không chiến đấu với những khuynh hướng đi xuống như vậy, chúng ta sẽ bị kéo ghì và ở lại mãi trong thế giới vật chất…

Hơn nữa, đó cũng chính là não trạng chung của những người chung quanh. Họ sẽ trấn an để chúng ta sống như thể chẳng có Tin Mừng Phục sinh. Sống ngược với não trạng trần thế ấy đòi chúng ta phải có một ý chí phấn đấu và mạnh mẽ. Đáp lại, Tin Mừng thường làm chúng ta có cảm giác lạc lõng và bơ vơ, không giống ai và bị thiệt thòi ở đời này.

Sống đức tin và đón nhận niềm vui của Đấng đã sống lại là điều khó khăn, chúng ta luôn bị cám dỗ đặt lại vấn đề đức tin, linh hồn, đời sau, giống như người Do Thái ngày xưa luôn muốn trở lại với kiếp nô lệ nhưng no nê, bảo đảm, và bàn tay khỏi lo lắng và đòi hỏi.

Hãy vững niềm tin vì Chúa đã sống lại, Ngài ở với chúng ta luôn mãi.

PHỤC SINH -sưu tầm

Chứng lý về sự Phục sinh của Chúa Kitô, không chỉ dựa vào sự kiện ngôi mộ trống, mà còn phải kể đến những lần Đấng Phục sinh hiện ra với nhiều người, cũng như phải quan tâm đến những lời chứng của những người đã tận mắt nhìn thấy Chúa Kitô sống lại. Trang Tin Mừng hôm nay sẽ cung cấp cho chúng ta những chứng lý quan trọng và sống động ấy.

Chúa Kitô Phục sinh hiện đến vào lúc thánh Tôma vắng mặt, cho nên ông đã không tin rằng Chúa Giêsu sống lại. Vì thế, ông đòi hỏi một sự kiểm chứng. Thử hỏi 10 vị tông đồ kia, nếu không tận mắt nhìn thấy và đích thân gặp gỡ Đấng Phục sinh, các ông có thể dễ dàng chấp nhận lời của anh em khác không? Chúng ta rất hồ nghi. Bởi lẽ, chuyện kẻ sống lại là chuyện rất khó chấp nhận. Và chính các ông đã không ít lần tỏ ra nghi ngờ, nao núng, kể cả sau khi đã gặp Đấng Phục sinh.

Chúng ta không nên trách Tôma, ngược lại phải biết ơn ngài. Bởi vì chính “sự cứng lòng” của ngài lại làm kiên vững cho niềm tin yếu đuối của chúng ta, khi Đấng Phục sinh đáp trả đòi hỏi sự kiểm chứng bằng giác quan của thánh Tôma: “Tôma hãy đặt ngón tay vào đây và hãy xem tay Thầy; đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy”. Điều này không chỉ để thỏa mãn đòi hỏi riêng của thánh Tôma, mà còn đáp trả cho yêu cầu của tất cả chúng ta, những kẻ “không thấy” mà được gọi là “tin”, nhất là trong thời đại khoa học thực nghiệm hôm nay.

Đồng thời, “sự cứng lòng” của thánh Tôma cũng làm cho lời chứng của cộng đoàn thêm mạnh mẽ. Ngày nay, chúng ta đều là những người không thấy mà tin dựa vào lời chứng của các tông đồ – những kẻ dám sống, dám chết cho niềm tin của mình.

Thánh Tôma là môn đệ cuối cùng tin Chúa sống lại, nhưng lại là người đầu tiên tuyên xưng đức tin. Sau khi được kiểm chứng về việc Phục sinh, ngài đã tin – một niềm tin đầy đủ nhất khi ông tuyên xưng: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con”. Khi ông tuyên xưng như thế, thì lời chứng của các tông đồ thật sự trở thành “đắt giá”, thật sự trở thành nền tảng vững chắc cho việc tuyên xưng đức tin của bao thế hệ Kitô hữu.

Hơn thế nữa, Đấng Phục sinh hiện ra không chỉ để chứng minh Người đã sống lại, nhưng còn để ban cho các ông sự sống mới “Người thổi hơi vào các ông…”

Con người vốn chỉ là bùn đất và chỉ có thể trở nên sống động qua việc “thổi hơi” của Thiên Chúa. Thì ở đây, chúng ta cũng nói được rằng chính Đấng Phục sinh đã thực hiện một cuộc sáng tạo mới, Ngài thổi hơi để biến đổi các tông đồ từ những con người yếu đuối, nhút nhát trở thành những con người mới với sức sống mới, trở thành những khí cụ sắc bén trong Thánh Thần để rao giảng Tin Mừng Phục sinh.

Đồng thời với việc ban sự sống mới là mệnh lệnh sai đi: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”. Tiếng “như” ở đây không phải là so sánh, mà là nền tảng và cội nguồn: nguồn cội của mệnh lệnh là chính Chúa Cha và nền tảng của mệnh lệnh là sứ vụ cứu thế mà Đấng Phục sinh hoàn thành. Các tông đồ được sai đi để làm chứng về Đấng Phục sinh và để nối dài hành động của Người trong thế giới. Hành động này giải thoát thế giới khỏi sự thống trị của tội lỗi, mà sức mạnh lớn nhất của nó là sự chết đã bị vượt qua.

Mỗi chúng ta, nhờ bí tích Thêm sức cũng được mời gọi trở nên những tông đồ hăng say làm chứng cho Chúa ngay trong môi trường sống của mình.

Trong thời đại hôm nay, chúng ta làm chứng cho Chúa Kitô Phục sinh không chỉ bằng lời rao giảng mà còn phải bằng chính cuộc sống của chúng ta. Cụ thể trong xã hội hôm nay, có rất nhiều người nhất là những người trẻ, họ luôn sống trong lo âu, sợ hãi, khủng hoảng hoặc không cần biết đến ý nghĩa cuộc sống, họ lao vào những tệ nạn xã hội mà không thoát ra được. Trước tình trạng đó, lẽ nào chúng ta ngồi yên? Là những con người của thiên niên kỷ mới này, chúng ta phải là những người đi bước trước đem sự bình an và đức tin sâu sắc giúp họ thoát khỏi thất vọng để tìm ra ý nghĩa cho cuộc sống.

Mỗi chúng ta cần phải mở rộng lòng dám đi sâu vào thế giới để tìm hiểu và đem Chúa Phục sinh vào mọi lãnh vực, không bo bo trong vỏ ốc nhưng phải mở rộng ra khắp thế giới.

Có một câu chuyện kể lại rằng, một nhà thông thái kia muốn sáng lập một tôn giáo mới. Ròng rã nhiều năm, ông đem tất cả sự khôn ngoan của mình ra thuyết phục thiên hạ mà chẳng thấy ai theo. Ông bèn than thở với một người bạn thì nhận được một lời khuyên: “Nếu anh muốn người ta theo anh thì dễ thôi, anh hãy làm thế này: Thứ năm anh ăn bữa tiệc cuối cùng, thì thứ sáu anh để người ta đóng đinh anh trên khổ giá rồi chôn cất, Chúa nhật anh sống lại! Chắc chắn người ta sẽ theo anh rất đông?”.

Quả là lời khuyên độc đáo, và lại càng lý thú hơn, khi tác giả của lời khuyên này chính là Napôlêon!

Điều mà Napôlêon muốn nhấn mạnh ở đây, đều có sức lôi cuốn người ta chính là sự sống lại.

Thực vậy, biến cố Chúa Kitô Phục sinh chính là nền tảng và trung tâm của đời sống đức tin Kitô giáo chúng ta.

Đấng Phục sinh đã chọn “ngày thứ nhất trong tuần” làm ngày gặp gỡ các tông đồ. Như thế, “Ngày thứ nhất trong tuần” đã trở thành ngày của cộng đoàn, ngày của gặp gỡ, ngày hát mừng niềm vui Phục sinh, và nhất là ngày của cuộc “sáng tạo mới”. Xin cho mỗi ngày Chúa nhật cũng trở thành một ngày giúp chúng ta sống thánh thiện, hiệp thông, yêu thương… Để mỗi chúng ta trở thành một bằng chứng cho sự hiện diện sống động của Đấng Phục sinh.

NIỀM TIN-sưu tầm

Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, tôi muốn suy nghĩ về thái độ của Tôma. Tôma không phải là một kẻ cứng lòng, ông chỉ muốn tin vào những gì là rõ ràng và hiển nhiên. Vì thế, khi nhìn thấy Chúa, ông đã vội vã kêu lên:

- Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi.

Và Chúa Giêsu đã nói một lời đem lại cho chúng ta nhiều an ủi và khích lệ:

- Phúc cho ai không trông thấy mà tin.

Có lẽ khi nói lời này Chúa Giêsu đã nghĩ tới hằng triệu triệu người tin tưởng và trung thành phụng sự Ngài, dù chưa một lần nhìn thấy.

Chúng ta cũng vậy. Chúng ta chưa một lần nhìn thấy Ngài, chưa một lần được đụng tới gấu áo Ngài, chưa một lần được nghe Ngài giảng, chưa một lần được chứng kiến phép lạ Ngài làm. Dầu vậy, chúng ta vẫn tin tưởng, yêu mến và thờ lạy Ngài.

Thế nhưng có kẻ đã bảo:

- Đó chỉ là một niềm tin tưởng mù quáng vào một người đã sống cách đây hơn 2000 năm, niềm tin tưởng ấy không còn thích hợp với não trạng của con người thời nay.

Tôi xin trả lời:

- Đức tin của chúng ta không mù quáng, nhưng dựa trên những cơ sở vững chắc.

Thực vậy, sự hiện diện của Chúa Giêsu là một sự kiện lịch sử như sự hiện diện của César, của Khổng Tử. Hàng ngàn năm về trước, các tiên tri đã loan báo và trong Tân Ước, cuộc đời Chúa Giêsu đã được xác định một cách rõ ràng và cụ thể, cùng với những lời Ngài đã dạy và những việc Ngài đã làm. Qua đó chúng ta thấy được rằng: Ngài là Thiên Chúa. Bởi vậy, chúng ta hãy tin tưởng vào lời Chúa, dù lời ấy nó không phù hợp với sở thích và nguyện vọng riêng tư của chúng ta.

Thế nhưng, có kẻ lại bảo:

- Nếu đó là những sự kiện cụ thể và hiển nhiên, tại sao không lôi kéo được hết mọi kẻ tài cao và học rộng?

Dĩ nhiên chúng ta không chối cãi, ngày nay có nhiều người trí thức vỗ ngực tự xưng mình là kẻ không tin tưởng. Để có một cái nhìn đứng đắn, chúng ta cần phải xác định: Những chân lý siêu nhiên không phải là những chân lý toán học như hai với hai là bốn. Để đón nhận, cần phải có một tâm hồn sẵn sàng. Đức tin mãi mãi vẫn là một hồng ân của Thiên Chúa. Những đam mê vẩn đục thường là những chướng ngại vật cản ngăn con đường đức tin.

Tôi xin lấy một thí dụ: Chúa Giêsu đã làm cho Lagiarô chết bốn ngày sống lại. Đó là một sự kiện lạ lùng, thế nhưng, những kẻ chứng kiến đã có phản ứng như thế nào? Phúc âm đã kể lại:

- Có những người đã tin vào Chúa, nhưng có những kẻ lại hậm hực tức tối, để rồi tìm mọi cách để giết Chúa. Trước một sự kiện hiển nhiên như thế, người thì bảo: Ngài thực là Thiên Chúa hãy tin vào Ngài. Kẻ thì bảo: Ông ta là một tay nguy hiểm, cần phải khử trừ.

Ngày nay cũng thế. Có những nhà bác học Công giáo thì cũng có những nhà bác học vô thần. Và đây chính là vai trò của tác dụng ơn Chúa trong tâm hồn mỗi người. Người thì công nhận, kẻ thì từ khước và làm cho ơn Chúa trở nên vô hiệu quả, như một câu danh ngôn đã nói:

- Chính trái tim làm cho đầu óc bị hư hỏng.

Cho đến tận cùng thời gian, nhân loại này luôn luôn chia thành hai giới tuyến: Giới tuyến của những người tin tưởng vào Chúa và giới tuyến của những kẻ chối bỏ Ngài. Cũng như trên thiên đàng vào thời nguyên thủy đã có những thần lành và thần dữ. Vậy thì chúng ta thuộc về giới tuyến nào? Hãy tuyên xưng đức tin như Tôma ngày xưa: Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa tôi.

SỐNG VỚI NHAU NHƯ ANH EM MỘT NHÀ

sưu tầm

A. ĐẠI Ý

Thánh lễ hôm nay diễn tả hai việc Phục sinh : Việc Phục si    nh lịch sử của Chúa Ki-tô và việc Phục sinh tinh thần của những người tân tòng.

Chúa Ki-tô như phiến đá bị thợ xây loại bỏ, bị xô đẩy cho ngã quỵ, những đã biến thành tảng đá góc tường do quyền năng của Thiên Chúa hùng mạnh, đã thực hiện những điều kỳ diệu lạ lùng, làm cho Ngài chiến thắng (Đáp ca) : nghĩa là làm cho Ngài từ cõi chết sống lại (Bài đọc II) ; sau khi sống lại Ngài đã hiện ra với các Tông đồ, và hôm nay, sau tám ngày, Ngài còn hiện ra với họ để củng cố đức tin cho một người trong bọn họ là Tô-ma (Tin Mừng).

Những người tân tòng là những người nhờ lượng từ bi của Đức Chúa Cha và nhờ sự Phục sinh của Đức Ki-tô, được tái sinh, được hy vọng sống vĩnh cửu, được thừa hưởng gia nghiệp không hư nát. Sự tái sinh của họ không khác gì sự Phục sinh của Chúa Ki-tô. Niềm hân hoan vui sướng vì được tái sinh và Phục sinh, nhất là vì hy vọng vào vinh quang bất diệt khi Đức Ki-tô lại đến, làm cho mạnh dạn can đảm đương đầu với những sầu khổ thử thách hiện tại (Bài đọc II) ; đồng thời khiến họ sống hòa hợp với nhau, đồng tâm nhất trí trong việc cầu nguyện cũng như trong nghi lễ Bẻ bánh ; hơn nữa họ còn sống một nếp sống cộng đồng thật vui vẻ, tương tự như nếp sống tu trì vậy (Bài đọc I).

Do đó chúng ta thấy sự Phục sinh của Chúa có một ảnh hưởng thật sâu đậm, không phải chỉ trong nếp sống của những người đương thời được tiếp xúc với Đức Ki-tô Phục sinh, mà còn ảnh hưởng đến nếp sống của các tín hữu tân tòng ở mỗi thời đại ; dĩ nhiên trong đó phải có ta, tuy dù ta không phải tân tòng theo nghĩa thông thường.

B. SUY NIỆM

“Đặt ngón tay vào đây, …

Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20,27)

1. Nhân từ nhưng cương quyết

Chúa Ki-tô như một người cha, hơn nữa như một người mẹ, vì nhân từ thương yêu, hầu như đã “chịu thua” sự thách thức của đứa con ngỗ nghịch, đã hạ mình nhận cho nó thử nghiệm theo lối lý luận thực tế nhưng quá tầm thường, và đầy tính cách vật chất, xác thịt, giác quan. Một người khác, đâu dám đòi một sự thử nghiệm kiểu đó : “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”. Thực là táo bạo, thực là sống sượng và trơ trẽn.

Tình thương của Chúa thật bao la, coi như đã thua cuộc thách đố nhưng đã thắng sự táo bạo trắng trợn của Tô-ma. Chúa chỉ cần hiện ra trước mặt Tô-ma, chắc chắn là ông phải hàng phục rồi và sự nghi ngờ của ông đã tan ra như mây khói, đã chảy ra như sáp ong gặp lửa. Thế nhưng Chúa chấp nhận sự thách đố tới cùng và mời Tô-ma, nếu còn can đảm thì hãy thi hành lời thách đố : “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy …”. Tất cả các nhà chú giải Kinh Thánh đều đồng ý rằng : Tô-ma không thể còn đủ can đảm, hay đúng hơn còn đủ trơ trẽn mà xỏ ngón tay vào lỗ đinh, hay thọc bàn tay vào vết thương cạnh sườn Thầy. Nguyên một sự hiện diện của Chúa đã đủ để cho Tô-ma phải kêu lên : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !”.

Chúa nhân từ thương xót có vẻ nhân nhượng trước đòi hỏi quá đáng của người môn đệ đa nghi nhưng thành thực ; người môn đệ này cách đó ít bữa, khi thấy không thể can ngăn Thầy đừng dấn thân vào chốn nguy hiểm, đã nói với các bạn : “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy !” (Ga 11,16). Tuy nhiên Chúa cương quyết không lùi bước trước sự đa nghi và đòi hỏi quá đáng đó : Ngài đã đích thân đến và thách thức hay kêu mời người môn đệ đó thi hành ý định để lấy lại niềm tin.

2. Đừng cứng lòng

Chúng ta cảm thấy như Chúa có vẻ “khổ sở” khi thấy những người thân tín nhất không chịu tin vào việc Ngài sống lại. Ngài đã phải “trá hình” làm một người giữ vườn để đánh đổ thành kiến của Ma-đa-la cho rằng xác Ngài bị mất trộm, tương tự như kẻ thù đã phao vu. Ngài cũng đã “tàng hình” theo hai con chiên rơi đàn trong cuộc hành trình bất đắc dĩ hằng ba chục cây số, để khuất phục họ. Và Ngài đã hơn một lần quở trách công khai vì có nhiều người còn nghi ngờ chưa chịu tin. Rồi lần này Ngài đã đích thân đến để làm cho người môn đệ khó tính nhưng chân thành và có thiện chí, phải “đầu hàng vô điều kiện” trước sự thật hiển nhiên.

Tất cả những lo lắng và công phu của Ngài đều nhắm tới việc đập tan những tảng băng nghi ngờ cứng lòng không chịu tin : Sự nghi ngờ cứng lòng đó không phải chỉ ở nơi những người đương thời, mà còn ở nơi mọi người thuộc mọi thời đại và chủng tộc.

Ở đâu còn một chút thiện chí thì thế nào ơn Ngài cũng chiến thắng. Cuồng tín và hung hăng như Sao-lô rồi cũng phải quy hàng trước sự tấn công của ơn Chúa.

Có lẽ không phải Chúa chỉ nói với một mình Tông đồ Tô-ma rằng : “Đừng cứng lòng”, mà Chúa muốn nhắc lại câu ấy với mọi người ! Tình trạng thiếu thiện chí, thiếu sự thành thực, tình trạng ác ý muốn bóp méo hết mọi sự như người Biệt phái : đó là tình trạng đáng sợ nhất, vì đóng hết các cửa ngõ tâm hồn không cho ơn Chúa thấm nhập vào.

Ngày nay, một số người ỷ vào tài cán trí thức của mình, muốn giải thích tín điều Phục sinh theo một đường lối mà họ cho là khoa học, là thông thái, là hợp lý … Vô tình hay hữu ý họ đang đi vào con đường lầy lội tăm tối, đi vào những ngõ cụt của những người Biệt phái thiếu thiện chí, thiếu thành thực, chuyên môn bóp méo sự thật, để rồi cuối cùng họ sẽ đi đến chỗ cứng lòng không tin hay chối bỏ tín điều Phục sinh, hoặc coi Phục sinh như một kết quả của suy tư, của ước vọng thầm kín chủ quan nơi con người, chứ không phải một sự kiện lịch sử có thật, đã xảy ra trong không gian và thời gian.

3. Nhưng hãy tin

Đứng trước sự kiện tỏ tường Chúa Phục sinh “bằng xương bằng thịt” (Lc 24,39), Tô-ma đã khỏi được bệnh cứng lòng. Nhưng Tô-ma đã mất công phúc của Đức tin thực thụ là chấp nhận những chân lý mà mình không thấy. Theo kiểu nói của Chúa Ki-tô mà cũng là quan niệm thông thường, thì Tô-ma đã tin vì đã thấy tận mắt. Nhưng việc tin của Tô-ma lúc đó chỉ là chấp nhận một sự thật quá hiển nhiên mà mình không còn cách nào chối bỏ được nữa. Cũng như việc chấp nhận chân lý toán học “hai với hai là bốn” không thể coi như việc tin, vì không ai nói : “tôi tin hai với hai là bốn”. Đức tin thực thụ, đức tin được chúc phúc, được kể là hạnh phúc, là chấp nhận một chân lý khi mình không thấy, khi mình không thể hiểu hết, khi mình không thể kiểm chứng được hết ; tuy nhiên mình vẫn chấp nhận là đúng, là thật, vì mình tín nhiệm vào thế giá của người chuyển đạt, loan truyền chân lý đó cho mình …

Tôi tin Chúa Ki-tô đã sống lại thật, không phải vì tôi đã chứng kiến việc Chúa sống lại, cũng không phải tôi đã gặp thấy Chúa Phục sinh, nhưng vì tôi tín nhiệm vào Kinh Thánh và Giáo Hội, mà Kinh Thánh và Giáo Hội đã dạy tôi rằng : Chúa Ki-tô thực sự đã từ cõi chết sống lại.

Lời Chúa Ki-tô thật là thâm thúy : “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. Ít nữa là hãy có một sự tin tưởng tầm thường mộc mạc của những kẻ thấy rồi mới tin. Ít nữa là như thế, chớ đừng cứng lòng như những kẻ Biệt phái đầy ác ý : mù quáng trước sự thật hiển nhiên và chúng cố tình giải thích để phủ nhận, để chối bỏ sự thật đó. Ít nữa là con đừng cứng lòng như thế.

“Vì đã thấy Thầy, nên anh tin”, tuy đã tốt hơn nhóm Biệt phái, nhưng còn thua xa những kẻ không thấy mà tin. Họ mới thực là những người hạnh phúc ! Phải,

“Phúc thay những người không thấy mà tin !”

GIỮ NGÀY CHÚA NHẬT

-sưu tầm

Một em bé mới 10 tuổi,  làm việc cho một tờ nhật báo Newyork  như một người học nghề. Mọi sự  đều trôi chảy, cho đến một ngày thứ bảy, khi em được trao một công việc phải làm xong trước ngày thứ hai. Như vậy là em phải làm việc cả ngày Chúa nhật. Chú bé đến phòng ông giám đốc và nói lắp bắp : “Thưa ông, cháu chỉ làm việc đến 12 giờ đêm nay” Ông giám dốc càu nhàu : “Cháu không thể làm xong đêm nay đâu”.

Anh bạn trẻ cố gắng hết sức nhưng đến nửa đêm mà công việc vẫn chưa xong. Thế là chú bé run rẩy cầm những tờ giấy trong tay đến nói với ông giám đốc : “Thưa ông, cháu phải nghỉ thôi, cháu không thể làm việc xác ngày Chúa nhật. Cháu không thể phá bỏ lề luật Chúa”.

Ông chủ cố gắng thuyết phục chú bé rằng : vài giờ làm việc vào ngày Chúa nhật cũng không xấu lắm đâu. Nhưng chú bé đã được mẹ dạy dỗ, cứ đứng yên và chờ đợi cho đến khi ông chủ vỗ vai chú bé mỉm cười và bảo : “Được lắm, cháu có đức tính rất tốt, cháu là người cần có ở đây. Cháu có thể làm xong công việc đó vào ngày thứ hai. Cháu hãy đi nhà thờ, làm bổn phận thờ phượng Chúa. Xin Chúa chúc lành  cho cháu”.

Anh bạn trẻ đó tiến bộ vững chắc trong việc in ấn. Tên anh ta là John Harper, người sáng lập một nhà xuất bản “Harper and Brothers” nổi tiếng trên thế giới.

Ở đây, chú bé đã được ân thưởng vì việc tuân giữ lề luật Chúa : “Con hãy nhớ thánh hóa ngày hưu lễ”. Đối với người Do thái, ngày hưu lễ là ngày thứ bảy. Còn đối với người công giáo chúng ta thì ngày hưu lễ là ngày Chúa nhật.

Khi nào và tại sao ngày Chúa nhật được chuyển đổi từ ngày cuối tuần sang ngày đầu tuần ?

Sự chuyển đổi này đã được thực hiện ngay từ những ngày đầu của Kitô giáo.

1. Vì Chúa Giêsu sống lại ra khỏi mồ ngày Chúa nhật.

2. Vì Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các tông đồ vào ngày Chúa nhật.

3. Vì chúng ta muốn dành những gì trước hết cho Thiên Chúa, nên chúng ta dâng Ngài ngày đầu tuần.

“Ngày thứ nhât trong tuần” được nhắc tới bảy lần trong Tân ước. Tin Mừng hôm nay tường thuật cho chúng ta một điều xảy ra “Vào ngày thứ nhất trong tuần”. Toma nghi ngờ rồi tin thật vào sự phục sinh của Chúa Kitô.

Ngày thứ nhất trong tuần quan trọng đối với người công giáo chúng ta, là vì chúng ta phải tham dự thánh lễ các ngày Chúa nhật, gia đình của Thiên Chúa đã đặt định ngày này cho các phần tử ngay từ thuở ban đầu, vì những lý do chúng ta vừa nhắc đến. Một lát nữa chúng ta sẽ đọc Kinh Tin kính – bản kê khai các tín điều chính yếu – được chỉ định đọc vào ngày Chúa nhật. Tại sao vậy ? Thưa, bởi vì nhiều chân lý chính yếu của đức tin đã xảy ra vào ngày Chúa nhật. Như việc tạo dựng mới của thế giới sa ngã, đã xảy ra vào ngày thứ nhất trong tuần. Có một số người còn nghĩ rằng Chúa Giêsu Giáng sinh vào ngày Chúa nhật, và Ngài chịu cắt bì cũng vào ngày Chúa nhật.

Vì những lý do này, ngày Chúa nhật là ngày thánh, nhưng đặc biệt vì nó làm mới lại sự phục sinh của Chúa Kitô: mỗi ngày Chúa nhật là ngày lễ phục sinh. Mỗi thánh lễ là một cuộc phục sinh. Nếu có ai than thở rằng: “Tại sao tôi phải đi tham dự thánh lễ” thì bạn hãy nhắc cho họ những lý do này. Bạn hãy làm mới lại niềm tin vào sự phục sinh.

Xin Chúa chúc lành  cho các bạn.

Chúa Sống Lại Củng Cố Niềm Tin

(Cv 2, 42-47; 2Pr 1, 3-9; Ga 20, 19-31)

- Dẫn vào Thánh Lễ:

Hôm nay là Chúa Nhật thứ 2 Phục Sinh. Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết. Người đang sống giữa chúng ta, ban cho chúng ta bình an thật, niềm vui thật của Người, nhất là củng cố niềm tin cho chúng ta, chúng ta trung thành phụng sự Người, làm chứng cho Người.

Chúng ta phấn khởi dâng Thánh Lễ, hân hoan mừng Chúa chúng ta sống lại vinh hiển, và tạ ơn Người vì những ơn lành người thương ban cho chúng ta hôm nay. Xin cho chúng ta biết đáp lại ơn Người, bằng đời sống chứng tá của chúng ta.

- Dẫn vào Bài Ðọc 1: Cv 2, 42-47

Sách Tông Ðồ Công Vụ hôm nay thuật lại các tín hữu sơ khai tin Chúa sống lại, nên chuyên cần cầu nguyện dự lễ, sống bác ái, nên nhiều người tin theo Chúa. Ðó là ý nghĩa bài đọc sau đây.

- Dẫn vào Bài Ðọc 2: 1Pr 1, 3-9

Thánh Phêrô chúc tụng Chúa sống lại đã ban cho chúng ta niềm tin, niềm tin đó sẽ đem lại cho chúng ta hạnh phúc, mặc dầu chúng ta còn phải chịu gian khổ ở đời nầy. Ðó là ý nghĩa đoạn thư sau đây.

- Dẫn vào Bài Tin Mừng: Ga 20, 19-31

Tin Mừng hôm nay thuật lại Chúa sống lại hiện ra hai lần với các tông đồ, để ban bình an và Thánh Thần, trao sứ mạng truyền giáo, và củng cố đức tin cho các ông cũng như cho chúng ta.

- Cầu Nguyện cho mọi người:

Chúa Giêsu sống lại củng cố niềm tin, và sai chúng ta đi làm chứng cho Người. Chúng ta hân hoan cảm tạ Chúa và phấn khởi cầu xin.

1. Trên đường làm chứng Chúa Giêsu phục sinh, Hội Thánh luôn gặp gian nan thử thách. Xin cho Hội Thánh vượt qua mọi khó khăn trở ngại, để đem tin vui Phục Sinh đến cho mọi người.

2. Nhân loại ngày càng tin theo của cải vật chất hơn là tin Chúa. Xin cho mọi người tin theo Chúa là nguồn sống, và là nguồn hạnh phúc muôn đời.

3. Ðời sống bác ái và đạo đức của các tín hữu sơ khai là chứng tá tuyệt vời Chúa Giêsu Phục Sinh. Xin cho các Kitô hữu biết hy sinh giúp đồng loại, và siêng năng cầu nguyện dự lễ để làm chứng cho Chúa.

4. Chúa đã nhờ các tông đồ làm chứng Chúa sống lại. Xin cho các tín hữu họ đạo chúng ta biết làm chứng cho Chúa, bằng đời sống bác ái và gương mẫu hằng ngày.

Chủ tế: lạy Chúa, Chúa biết chúng con hèn kém tội lỗi. Xin ban thêm đức tin cho chúng con, để chúng con trung thành tin theo Chúa và làm chứng Chúa sống lại.

BÌNH AN CHO CÁC CON

-radio Veritas

Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh là Chúa Nhật kết thúc tuần bát nhật Lễ Phục Sinh. Bài Phúc Âm hôm nay trích từ Phúc Âm thánh Gioan có thể được xem như là một tổng kết về mầu nhiệm Phục Sinh và hơn nữa là một tổng kết cho con đường đức tin của các Tông đồ, của các đồ đệ Chúa.

Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra cho các Tông đồ, củng cố đức tin của họ với hồng ân Thánh Thần và sai các ngài ra đi với sứ mạng mà Chúa đã chuẩn bị các ngài trong suốt thời gian đến Phục Sinh: "Như Cha đã sai Thầy, thì giờ đây Thầy cũng sai các con ra đi".

Con đường đức tin của các Tông đồ từ ngày được gọi theo Chúa cho đến giây phút quan trọng được củng cố bởi quyền năng của Chúa Phục Sinh. Chọn theo con đường đức tin này như được gợi lại cho chúng ta chiêm ngắm nơi đoạn Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay, trước hết chúng ta nhìn thấy các Tông đồ lo sợ thu mình lại trong căn phòng đóng kín, lo sợ trước những chống đối của những kẻ không tin Chúa, lo sợ trước mầu nhiệm thập giá mà Chúa đã trải qua và các ngài cũng sẽ phải trải qua, lo sợ trước sứ mạng tương lai mà họ đã nghe Chúa nói đến và đã được chuẩn bị để thi hành nhưng cảm thấy chưa đủ sức để thi hành. Nếu không có mầu nhiệm Phục Sinh, nếu không có quyền năng Chúa Phục Sinh đến đổi mới con người họ thì đức tin của các Tông đồ chưa được trưởng thành hoàn toàn đúng mức Chúa mong muốn để có thể làm chứng cho Chúa, chu toàn sứ mạng Chúa trao phó cho.

Trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta được chứng kiến một cuộc thay đổi quan trọng trong đời sống các Tông đồ, chứng kiến một cuộc đổi mới và kiện cường đức tin nơi các Tông đồ, từ lo sợ đến được củng cố để ra đi bắt đầu sứ mạng. Trước khi Chúa Phục Sinh hiện đến, các Tông đồ đang sống trong lo sợ, đóng kín nơi chính mình và đóng kín trong căn phòng. Ai trong chúng ta đã không trải qua một giai đoạn thử thách này và cũng có thể là đang trải qua thử thách đức tin, đó là những giây phút đen tối bị cám dỗ mất đức tin vào Chúa về những nghịch cảnh xảy ra trong đời sống, về mầu nhiệm thập giá trong đời sống của mỗi người chúng ta.

Trong bộ phim có tựa đề là Dấu Ấn Thứ Bảy, có một đoạn đối thoại thật ý nghĩa:

Thần chết hiện ra trong dung mạo của một người phàm và đã đối thoại với một dũng sĩ, cuộc đối thoại đó như sau:

Trước hết Dũng sĩ bắt đầu:

Tại sao Thiên Chúa lại ẩn mình? Tại sao Ngài không xuất hiện mạc khải chính mình cho chúng ta biết? Tại sao Thiên Chúa không đưa tay Ngài ra và chạm đến chúng ta? Tại sao ít ra là Ngài nói vài lời với chúng ta?

Thần chết trả lời:

Nhưng Thiên Chúa đâu có làm điều đó được, không phải vậy sao? Ngài không chạm đến chúng ta, Ngài không nói, Ngài chỉ giữ im lặng.

Dũng sĩ tiếp:

Đành vậy, Thiên Chúa không làm điều gì như vậy, Ngài không chạm đến chúng ta, Ngài không nói chuyện với chúng ta. Đôi khi tôi nghi ngờ không biết Ngài có thật sự hiện hữu ở bên kia nữa không?

Thần chết trả lời:

Có thể Ngài không hiện hữu ở bên kia, có thể không ai hiện hữu bên kia cả, có thể là tất cả chúng ta chỉ hiện diện một mình nơi cõi đời này mà thôi. Dũng sĩ có bao giờ nghĩ như vậy hay không? Có lẽ Thiên Chúa không có đâu, chỉ có chúng ta sống cô đơn lẻ loi một mình trong thế giới này mà thôi.

Anh chị em thân mến!

Mẫu đối thoại trên đây có thể làm chúng ta suy nghĩ thêm. Các Tông đồ ngày xưa là những kẻ duy nhất được nghe Chúa nói, được sống với Chúa như với một con người cụ thể bằng xương bằng thịt, nhưng không phải vì thế mà các Ngài không bị thử thách, không bị lạc mất niềm tin vào Chúa khi Chúa trải qua cuộc khổ nạn, các Ngài phải tin vào Chúa là Con Thiên Chúa, là Đấng đã chết và đã phục sinh.

Chúa cho các Tông đồ và đặc biệt là Tôma, cũng như chúng ta đã đọc qua trong bài Phúc Âm hôm nay, được dịp may kiểm chứng một cách cụ thể: "Tôma, con hãy xỏ tay con vào đây". Chúng ta ngày hôm nay không thể nào được diễm phúc kiểm chứng như vậy, như cuộc đối thoại tưởng tượng giữa Dũng sĩ và Thần chết, nhưng như các Tông đồ ngày xưa, chúng ta cần tin vào Chúa để không còn sống trong lo sợ, để có đủ sức chu toàn sứ mạng của Chúa. Lời Chúa phán với Tôma cũng như cho chúng ta ngày hôm nay đó là: "Phúc cho những ai không thấy mà tin".

Xin Chúa ban cho chúng ta hồn ân Chúa Thánh Thần, xin Chúa ban cho chúng ta sự bình an của Ngài để củng cố chúng ta trong đức tin. Amen.

April 26, 2014

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)