July 8, 2024

 

23 tháng 6 năm 2024 Chúa Nhật 12 thường niên, năm B-2024

G 38:1,8-11; Tv 107:23-24,25-26,28-29,30-31; 2 Cr 5:14-17; Mc 4:35-41

THỬ THÁCH VÀ NIỀM TIN

Trong đời ta gặp nhiều trường hợp giả vờ rất đáng yêu. Chẳng hạn bà mẹ trẻ giả vờ trốn đứa con nhỏ, để nó phải lo âu đi tìm. Và khi thấy nó đã lo âu đến độ tuyệt vọng, sắp khóc đến nơi, bấy giờ bà mẹ mới xuất hiện. Vừa thấy bà mẹ xuất hiện, đứa trẻ vui mừng khôn xiết. Và nó càng yêu mến, càng bám chặt lấy mẹ nó hơn nữa.

Chúa Giêsu cũng có nhiều lần giả vờ như thế. Lần giả vờ được minh nhiên ghi lại trong Tin Mừng là khi Người cùng hai môn đệ đi trên đường Emmaus. Khi đã đến nơi, Người giả vờ muốn đi xa hơn, làm cho các môn đệ phải tha thiết nài nỉ Người mới chịu ở lại. Khi Người ở lại, các môn đệ vui mừng khôn xiết. Và niềm vui lên đến tuyệt đỉnh khi các môn đệ nhận ra Người lúc bẻ bánh.

Hôm nay tuy Tin Mừng không minh nhiên ghi lại, nhưng ta có thể đoán biết Chúa Giêsu đang giả vờ. Vì sóng to gió lớn dập vùi làm cho thuyền chòng chành nghiêng ngả, nước tràn vào đến nỗi thuyền có nguy cơ bị chìm đắm, trong khi đó các tông đồ xôn xao chạy ngược chạy xuôi, hò hét nhau tìm cách tát nước ra. Giữa khung cảnh như thế, làm sao có thể nằm ngủ ngon lành được. Chỉ có thể là giả vờ. Việc giả vờ của Chúa phát xuất do tình yêu.

Con thuyền của các môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay chính là hình ảnh cuộc đời chúng ta. Thực vậy, cuộc đời chúng ta với bao nhiêu phong ba bão táp, đó là những thất bại của bản thân, những khó khăn của cuộc sống, của xã hội, những khổ đau của những người xunh quanh, làm cho chúng ta nhiều lúc chán nản tuyệt vọng.

Tại sao lại có những sóng gió trong cuộc đời? Phải chăng Thiên Chúa đã bỏ rơi chúng ta? Có người cho rằng chính Thiên Chúa thử thách để rèn luyện và củng cố niềm tin nơi chúng ta. Có người lại cho rằng do trình độ hạn chế của con người trước sức mạnh của thiên nhiên. Nhưng có lẽ nguyên nhân trực tiếp nhất vẫn là do cách đối xử của con người đối với con người trong cuộc sống.

Thực vậy, chính thái độ vô trách nhiệm của những người làm cha làm mẹ đã dẫn đến tình trạng tuổi trẻ lang thang, bụi đời. Chính sự ích kỷ tàn nhẫn của một số người đã tước đoạt đi những phương tiện sống và phẩm giá của những người khác.

Nghịch cảnh và sóng gió như vẫn tồn tại song song với số phận và lịch sử con người. Các môn đệ cũng như chúng ta phải đương đầu, phải đối phó với cuồng phong. Thế nhưng chúng ta sẽ tìm thấy niềm an ủi nơi Thiên Chúa bởi vì dưới bàn tay quyền năng và yêu thương của Ngài, sóng gió cũng phải khuất phục và sự bình an sẽ trở lại với chúng ta.

Sự dữ tuy tràn lan, nhưng ơn sủng của Ngài vẫn dư đầy, bởi vì Ngài luôn yêu thương chúng ta, Ngài không hề bỏ rơi con người. Bằng chứng là Đức Kitô đã đến, Ngài tìm mọi phương cách, thậm chí cả đến cái chết của mình để cho chúng ta thêm xác tín vào tình thương của Ngài. Một vị Thiên Chúa nhân lành như vậy, nhất định sẽ không bao giờ muốn cho con người phải đau khổ, nhất định Ngài sẽ cứu chúng ta.

Làm sao chúng ta có thể thất vọng và chán nản khi Ngài vẫn ở bên chúng ta và vẫn yêu thương chúng ta. Mặc dù ngày nay Thiên Chúa không còn trực tiếp làm phép lạ để truyền cho sóng gió phải yên lặng, nhưng Ngài dùng bàn tay của những người nhiệt tâm làm vơi giảm những nghịch cảnh, những bất công trong cuộc sống. Và cũng không ít những con người đang đấu tranh cho công bằng xã hội. Nhiều khi họ cũng đã phải trả giá cho những đấu tranh ấy bằng chính mạng sống của mình.

Đọc kỹ bản văn Mátthêu, chúng ta thấy có sáu lần Chúa Giêsu dạy chúng ta đừng quá lo lắng đến mất tin cậy vào Thiên Chúa. Khi nói thế, Ngài muốn chúng ta đừng tìm bảo đảm vào của cải nay còn mai mất, mà phải tìm cái cốt yếu cho cuộc đời trước đã, rồi mọi sự khác sẽ được thêm cho. Lo lắng quá cũng chẳng giải quyết được gì: “Dù có lo lắng đi nữa, hỏi có ai trong các con kéo dài đời mình thêm được một vài gang tấc không?” Tín nhiệm hoàn toàn vào Thiên Chúa không có nghĩa là sống trong thụ động, mà là cộng tác với công việc của Thiên Chúa tùy ơn gọi của mỗi người: hãy giúp mình rồi trời sẽ giúp cho.

Đừng quá lo lắng về những nhu cầu của cuộc sống thể xác (của ăn, áo mặc, tuổi thọ), vì đã có Chúa lo cho ta những thứ đó. Điều cần lo trước hết là tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài.

Sở dĩ con người lo lắng thái quá mà mất đi cả hạnh phúc trong cuộc sống, là vì con người không tin ở sự hiện diện và quan phòng của Thiên Chúa. Chim trời không gieo vãi mà vẫn có ăn, hoa cỏ đồng nội không canh cửi mà vẫn xinh đẹp rực rỡ. Con người còn hơn chim trời cũng như hoa cỏ đồng nội bội phần. Nếu con người biết tin ở tình yêu quan phòng của Thiên Chúa, biết đón nhận từng giây phút hiện tại Ngài ban cho, thì con người sẽ tìm được niềm vui và hạnh phúc cho cuộc sống của mình. Ngược lại, con người sẽ phải vất vả cực nhọc và cuối cùng, cũng chỉ là người bắt bóng.

Đời sống không thể thiếu thử thách. Hãy biết rằng Chúa cho phép thử thách vì yêu thương ta, để rèn luyện ta nên người. Hơn nữa Chúa luôn ở bên ta. Vì thế ta hãy vững tin, hãy cậy trông phó thác và hãy biết tận dụng những khó khăn để đức tin thêm vững mạnh. Thử thách rồi sẽ qua đi. Nhưng cách ta phản ứng trước thử thách lại tồn tại và tạo thành giá trị đời ta. Ước gì mọi thử thách ta gặp trong đời đều biến thành cơ hội cho ta được thêm lòng, lòng cậy và lòng mến Chúa.

25.6.24  Thứ Ba trong tuần thứ Mười Hai Mùa Quanh Năm

2 V 19:9-11,14-21,31-36; Tv 48:2-3,3-4,10-11; Mt 7:6,12-14

KHUÔN VÀNG THƯỚC NGỌC

Chúa Giêsu đưa ra khuôn vàng thước ngọc về bổn phận của mọi người đối với tha nhân. Sự độc đáo nơi nguyên tắc của Ngài: không chỉ không làm những điều tiêu cực, mà còn phải làm những điều tích cực, điều tốt cho anh em, nghĩa là sống bác ái, cho đi với tất cả với lòng quảng đại và yêu mến.

Qua hình ảnh con đường hẹp, cửa hẹp, Chúa Giêsu dạy ta phải khước từ những quyến rũ bất chính của cuộc sống để được vào Nước trời. Muốn theo Chúa Giêsu, chúng ta phải phấn đấu với chính mình và đi trên con đường Ngài đã đi, đó là con đường khổ giá.

Chớ phạm thánh: “Của thánh, đừng quăng cho chó; ngọc trai, chớ liệng cho heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi quay lại cắn xé anh em”. Với lời dạy này Chúa Giêsu, trước hết, được hiểu là Bí tích không thể phát bừa bãi cho kẻ không tin và không có ý ngay lành. Lời này cũng là một sự nhắc nhở cho chúng ta sự cẩn trọng đối với đồ thánh, nơi thánh và tất cả những gì liên quan tới phụng tự. Vì những gì dành cho việc phụng thờ Thiên Chúa là Đấng chí thánh thì cần được trân trọng và gìn giữ. Đặc biệt, mọi Kitô hữu luôn ý thức mình đã được hiến thánh khi chịu các Bí tích, thì hãy luôn giữ mình trong sạch để xứng đáng là nơi thánh cho Thiên Chúa ngự, và xứng đáng đến tham dự cử hành các mầu nhiệm thánh trong đạo.

Khuôn vàng thước ngọc. Trước Chúa Giêsu, sách Tôbia cũng đã viết: “Điều gì con không thích thì cũng đừng làm cho ai cả” (Tb 4, 15). Khổng Tử cũng trả lời cho một đệ tử: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”, nghĩa là điều gì con không muốn thì đừng làm cho người ta. Triết gia Aristote cũng dạy: “Đừng làm lại những điều người khác làm cho ngươi nổi giận”.

Tuy nhiên, các hiền nhân xưa chỉ nói theo mặt tiêu cực. Còn Chúa Giêsu khuyên bảo theo cách tích cực: “Điều gì các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì chính các ngươi hãy làm cho họ trước”. Đó là khuôn vàng thước ngọc của Kitô giáo và là “kim chỉ nam” cho những ai theo Chúa. Thật vậy, đừng làm điều ác mà thôi thì chưa đủ, nhưng chỉ khi nào mọi người bắt tay làm điều thiện, làm điều mình muốn người khác làm cho mình, lúc đó xã hội mời hy vọng tốt đẹp được (Hiền Lâm).

Phải đi qua cửa hẹp. Có những con đường chẳng ai muốn đi, bởi vì nó chật hẹp, đầy chông gai. Bởi vì thường người ta muốn đi trên những con đường thênh thang, êm ái, muốn hưởng thụ một cuộc sống đầy tiện nghi, thoải mái. Biết bao nhiêu phát minh khoa học kỹ thuật đều nhằm thỏa mãn khát vọng đó. Thế mà Chúa Giêsu giới thiệu với chúng ta con đường hẹp, con đường ít người muốn đi: “Cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 6, 14).

Cửa hẹp và đường chật chẳng ai thích đi, trừ phi họ được Thiên Chúa dẫn vào. Thời Xuất hành, nếu dân Israel không trải qua cảnh cùng cực bên Ai cập, làm sao họ chịu vào sa mạc để tìm về Đất hứa? Kể cả Chúa Giêsu, Ngài cũng từng được Thần khí dẫn vào sa mạc để chịu thử thách (Mt 4, 1), Ngài cũng xin Chúa Cha cất cho Ngài khỏi chén đắng (Mt 26, 42).

Phải cộng tác với Chúa. Để có được những thiện hảo đời này hẳn nhiên không thể thiếu sự cố gắng nỗ lực. Cũng vậy để có hạnh phúc vĩnh cửu thì sự nỗ lực hoàn thiện bằng đời sống đạo đức càng phải trổi vượt hơn gấp bội. Thật thế, Thiên Chúa chuẩn bị cho ta ơn cứu độ, dọn sẵn cho ta Nước trời, nhưng Thiên Chúa muốn con người cộng tác để đạt cùng đích ấy, như thánh Augustinô nói: “Thiên Chúa dựng nên ta Ngài không cần ta, nhưng để cứu chuộc ta Ngài cần ta cộng tác”.

Dĩ nhiên để đạt tới ơn cứu độ và hưởng Nước trời không phải chỉ do sức riêng chúng ta tự nỗ lực, nhưng cần đến sự trợ giúp của ơn Chúa (khác với tự thân nỗ lực giải thoát trong Phật giáo). Việc đi qua cửa hẹp chính là sự hy sinh mỗi ngày, vừa dành thời gian cho Chúa để được trợ lực, vừa thực hành sống đạo đức và bác ái giữa đời.

“Tất cả những gì các con muốn người ta làm cho các con, thì hãy làm cho người ta“. Đây là khuôn vàng thước ngọc để ta thi hành đức ái theo thánh ý Chúa.

Thật vậy, chẳng ai muốn điều xấu đến với mình bao giờ. Vì thế, không có lẽ gì lại mong muốn điều xấu đến với anh chị em mình. Chỉ có ai nuôi lòng hận thù, hay vì ích kỷ thì mới làm điều bất chính cho tha nhân và muốn điều tốt cho riêng mình mà thôi.

Hôm nay, Đức Giêsu đã đưa ra kim chỉ nam cho các môn đệ và cũng cho mỗi người chúng ta là: hãy muốn và làm điều tốt cho tha nhân trước khi thi hành điều tốt cho chính mình. Phải quên đi bản thân để mưu cầu hạnh phúc cho tha nhân trước. Hãy đặt mình vào hoàn cảnh của anh chị em và hãy đối xử với họ như chính mình muốn được đối xử khi ở địa vị của họ.

Lời Chúa hôm nay không chỉ kêu mời chúng ta “hãy làm cho người khác những điều mình muốn họ làm cho mình” mà Ngài muốn chúng ta đi xa hơn nữa là hãy cư xử với tha nhân tốt hơn là họ đáng được cư xử. Không chỉ “yêu tha nhân như chính mình” mà hãy “yêu tha nhân như Chúa đã yêu thương chúng ta”. Đó là yêu vô điều kiện, yêu đến mức hy sinh cả mạng sống.

Huệ Minh 2024

 

Thứ Tư tuần 12 TN-2024

2 V 22:8-13; Tv 119:33,34,35,36,37,40; Mt 7:15-20

HÃY TRỞ NÊN “QUẢ TỐT”

Chúa Giêsu bảo các môn đệ phải coi chừng tiên tri giả: bề ngoài thì họ giả bộ hiền lành như con chiên, nhưng thật sự họ ác ôn như sói dữ. Muốn biết họ thật giả, cần phải xem cách sống họ có phù hợp với giáo huấn của Chúa không? Vì cây tốt thì sinh trái tốt, cây xấu thì sinh trái xấu. Cũng vậy, người tốt thì lời nói việc làm của họ cũng tốt, còn kẻ bê tha thì lời nói việc làm của họ cũng bê bối. Vì lòng đầy tràn thì sẽ thổ lộ ra bên ngoài bằng lời nói, việc làm và đời sống hằng ngày.

Lời Chúa hôm nay dạy cách nhận định khách quan. Nhưng trước hết ta cần lưu ý rằng lời dạy này không mâu thuẫn với lời dạy hôm thứ hai là đừng đoán xét người khác. Đoán xét là chỉ mới thấy một số hiện tượng đã vội kết luận và kết án. Còn nhận định khách quan là căn cứ vào kết quả để biết con người. Đoán xét dễ chủ quan, còn nhận định thì phải khách quan. Đoán xét đưa đến việc lên án người khác, còn nhận định chỉ để rút ra suy nghĩ và chọn lựa cho chính mình. Trong cuộc sống, ta không nên đoán xét nhưng phải khôn ngoan nhận định cách khách quan. Nhận định khách quan dựa trên tiêu chuẩn “Xem quả biết cây”.

Tiên tri theo đúng nghĩa là người nói thay Thiên Chúa, là người chỉ nói những gì Thiên Chúa truyền, và đôi khi biến cả đời mình thành sứ điệp của Thiên Chúa. Đó là trường hợp của Giêrêmia khi ông khoác vào người một cái ách và đi giữa phố chợ, để gây ý thức nơi dân Israel về cái ách tội lỗi đang đè nặng trên họ. Đó cũng là trường hợp của Hôsê khi ông cưới một cô gái điếm để tố cáo sự bất trung của dân chúng.

Tiên tri giả là người nhân danh Thiên Chúa để nói những gì không phải là của Chúa và có cuộc sống không phù hợp với sứ điệp của Chúa. Chúa Giêsu đã so sánh tiên tri giả với một thứ cây xấu, cây xấu chỉ có thể sinh trái xấu, và người ta có thể xem quả để biết cây.

Để phân định ai là tiên tri giả, ai là tiên tri thật, chúng ta hãy dựa vào tiêu chuẩn này: Có tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa như đức tin tông truyền từ các Tông đồ dạy không? Càng ngày càng xuất hiện nhan nhản những kẻ xưng mình là “thị nhân”, là “con gái yêu”, là “tiên tri thật”, là “được Chúa sai đi” rồi tự cho mình được “mạc khải”, nhưng thực tế lại rao truyền điều đi ngược lại với đức tin tông truyền mà Chúa Giêsu giao cho các Tông đồ truyền lại cho Giáo hội. Chẳng hạn, trong những năm gần đây có cái gọi là “Sứ điệp từ trời” của một phụ nữ tự xưng là “con gái yêu” của Chúa, rao truyền những điều nghịch đức tin, dựa theo những con số tượng trưng trong Thánh kinh rồi giải thích theo nghĩa đen, lên án Giáo hội trong công đồng Vatican II, bất phục và không tin vào sự kế vị hợp pháp của Đức Thánh Cha... Như thế, chính cái gọi là sứ điệp ấy tự mâu thuẫn với lời Chúa dạy.

Người Kitô hữu nhờ phép rửa cũng tham dự vào chức vụ tiên tri của Đức Kitô. Một cách nào đó, qua ngôn từ và hành động, cuộc sống của họ cũng phải là một sứ điệp của Thiên Chúa cho những người chung quanh. Nếu cuộc sống người Kitô hữu không đủ sức là một sứ điệp của Thiên Chúa, thì hẳn người đó cũng có thể bị coi là một tiên tri giả. Như vậy, tiên tri giả hay Kitô hữu giả là người thiếu sự thống nhất hòa hợp giữa niềm tin và cuộc sống. Người Kitô hữu giả là người mang danh hiệu Kitô, nhưng lại không sống những cam kết của mình. Đó là người chỉ đóng khung niềm tin của mình trong bốn bức tường nhà thờ, mà không thể hiện niềm tin ấy trong cuộc sống hằng ngày qua những gặp gỡ với tha nhân. Đó là người không muốn sống như Đức Kitô, nhưng chỉ buông theo con người cũ của những xu hướng tội lỗi.

Chúa Giêsu tỏ lòng cảm thông và tha thứ cho những yêu hèn và vấp ngã của con người, nhưng Ngài không hề dung chấp cho thái độ giả hình của những người Biệt phái. Ngài gọi họ là những tiên tri giả, những người đội lốt chiên mà bên trong là lòng dạ của sói dữ. Họ trưng bày một bộ mặt đạo đức, nhưng cuộc sống của họ gồm toàn những hành động xấu xa.

Nhiều người tỏ ra bị sốc khi nghe câu tuyên bố của Đức Giêsu: “… cây tốt thì sinh trái tốt, còn cây xấu thì sinh trái xấu. Cây tốt không thể sinh trái xấu, và cây xấu không thể sinh trái tốt”. Thật ra, trong thực tế, vẫn có nhiều người “gần mực mà không đen”, hay “gần đèn mà chẳng rạng”!

Tuy nhiên, điều mà Đức Giêsu nói ở đây đó là hãy biết cách nhận định khôn ngoan chứ không phải xét đoán hời hợt hay mang sẵn lòng hận thù hoặc tính kiêu ngạo. Nhận định tức là căn cứ vào kết quả để biết con người một cách khách quan. Tiêu chuẩn là: “Xem quả biết cây”.

“Cây” ở đây chính là mình, còn “hoa, lá, cành” chính là những việc đạo đức như: dâng lễ, kinh sách, cầu nguyện, tham gia các hội đoàn và những việc lành khác…. Còn “quả” ở đây chính là gương sáng, hy sinh, yêu thương, tha thứ…, tức là từ bi – bác ái, yêu Chúa hết lòng và thương yêu anh chị em cách chân thành.

Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều người trong chúng ta lại có quá nhiều “hoa, lá, cành”, mà “quả” thì không có, hay có nhưng lại bị “sâu”. Tức là hăng say làm việc chỉ vì ham danh, huênh hoang, tự phụ, ích kỷ nên không thể sinh ra “quả” tốt được. Những người đó họ làm mọi việc vì thực dụng cá nhân, không vì yêu mến Chúa và tha nhân, nên họ chẳng khác gì chiếc phèng la kêu inh ỏi, nhưng bên trong thì rỗng tuếch.

Thánh Phaolô cũng khuyên dạy tín hữu thành Corintô như sau: “Giả như tôi nói được các thứ tiếng, giả như tôi được ơn tiên tri như tôi có đem hết tài sản mà bố thí mà không có đức mến thì cũng chẳng có ơn ích gì cho tôi” (x. 1 Cr 13,1-3). Vì thế: “Không phải những ai nói: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời, mà chỉ những ai thực hành ý Chúa mới được vào mà thôi”.

Muốn làm được điều đó, chúng ta phải trở nên những tiên tri thật của lòng mến, chứ đừng trở nên tiên tri giả của tham sân si. Hãy trở nên con chiên hiền lành của Chúa chứ đừng trở nên sói dữ. Không được mang danh và hình ảnh của chiên, nhưng thực ra chỉ là mặt chiên, mà là dạ sói.

 

thứ Sáu tuần 12 TN-2024

Thánh Irenaeus, Gmtđ

2 V 25:1-12; Tv 137:1-2,3,4-5,6; Mt 8:1-4

XIN CHỮA CHO CON SẠCH

Các văn bản của Thánh Irenaeus giúp ngài có một địa vị cao trọng trong các giáo phụ của Giáo Hội, vì các tư tưởng ấy không những giúp hình thành nền tảng thần học Kitô Giáo mà còn phô bầy và bài bác các sai lầm của phe Gnostic, gìn giữ được đức tin Công Giáo khỏi những nguy hiểm của lạc thuyết.

Có lẽ ngài sinh vào khoảng năm 125, trong một vùng ven biển của Tiểu Á là nơi có đông người Kitô Giáo và ký ức về các tông đồ vẫn còn được trân quý. Ngài chịu ảnh hưởng rất nhiều của Thánh Polycarp là người đã từng được gặp các tông đồ hoặc các môn đệ trực tiếp của các ngài.

Khi các linh mục và nhà thừa sai người Á Châu đem tin mừng đến cho người Gaul và thiết lập một giáo hội địa phương ở Lyon, Thánh Irenaeus đã phục vụ ở giáo phận này dưới quyền vị giám mục đầu tiên là Thánh Pothinus. Vào năm 177, Irenaeus được sai đến Rôma, vì thế ngài không được phúc tử đạo như Ðức Pothinus trong thời kỳ bách hại ở Lyons. Khi trở về, ngài kế vị đức giám mục trông coi giáo phận.

Vào lúc ấy, tuy sự bách hại không còn nhưng lạc thuyết Gnostic tràn lan khắp xứ Gaul. Khi thấy các Kitô Hữu bị ảnh hưởng nặng nề bởi lạc thuyết, ngài biết việc phải làm là phô bầy các lầm lạc của phe Gnostic. Ngài viết năm cuốn sách mà trong đó nêu ra các sai lầm nội tại của các lạc thuyết, đồng thời so sánh các thuyết ấy với Kinh Thánh và giáo huấn của các Tông Ðồ. Công trình này, được viết bằng tiếng Hy Lạp mà ngay sau đó được dịch sang tiếng La tinh, được lưu hành rộng rãi và rất thành công trong việc đối phó với phe Gnostic. Từ đó trở đi, ở bất cứ cấp độ nào, lạc thuyết Gnostic không còn là một đe dọa đối với đức tin Công Giáo.

Một nhóm Kitô Hữu ở Tiểu Á bị Ðức Giáo Hoàng Victor III ra vạ tuyệt thông vì họ không chấp nhận ngày tháng cử hành lễ Phục Sinh của Giáo Hội Tây Phương. Thánh Irenaeus đã can thiệp với đức giáo hoàng để rút lại hình phạt này, ngài cho thấy đó không phải là vấn đề quan trọng vì họ theo thói quen cũ mà Ðức Polycarp và Ðức Giáo Hoàng Anicetus không coi đó là sự chia cắt trong Giáo Hội. Ðức giáo hoàng đã phản ứng cách thuận lợi và hàn gắn được sự bất hòa.

Người ta không rõ Thánh Irenaeus từ trần vào lúc nào, nhưng tin là vào năm 202. Thi hài của ngài được chôn trong hầm mộ trong cung thánh của nhà thờ Thánh Gioan, và sau đó được đổi tên là Thánh Irenaeus. Vào năm 1562, nhà thờ và hầm mộ của ngài bị phe Calvin tiêu hủy, mọi thánh tích của ngài dường như cũng tiêu tan.

Trước lời cầu xin của anh phong cùi, Chúa Giêsu không thể làm ngơ vì nỗi khao khát được sạch của anh. Người đã đụng chạm đến anh và chữa lành mà không sợ mình bị nhiễm uế theo quan niệm người Do thái thời bấy giờ. Điều đó chứng tỏ Chúa Giêsu có quyền giải thoát con người khỏi tội lỗi. “Sạch” ở đây không chỉ có nghĩa là khoẻ về phần xác, mà còn được hiểu là sự đổi mới trong tâm hồn nữa.

Trong những chuyến đi diễn thuyết để kêu gọi giúp đỡ những người phong cùi trên khắp thế giới, vị đại ân nhân của họ là Raoul Folereau thường kể câu truyện như sau: Tại một thị trấn nọ, có một người đàn ông được mọi người yêu mến bỗng ngã bệnh. Sau khi chẩn đoán, bác sĩ nghi ngờ ông bị bệnh phong cùi. Từ đó, người ta không còn thấy ông ra đường nữa, và ngay cả trong nhà, ông cũng không còn được đi lại tự do nữa. Gia đình ông đã giam ông trên giường, khung trời còn lại của ông chính là tấm mùng. Một ngày nọ, người đàn ông trốn ra khỏi nhà, nhưng đã bị bắt lại. Và rồi một lần nữa, ông đã trốn thoát được, không phải để được sống tự do, mà là để tự vẫn. Người ta đưa xác ông đến giảo nghiệm, và kết quả cho thấy ông không hề mắc bệnh phong cùi.

Kể lại câu truyện trên đây, Raoul Folereau muốn nêu bật nỗi khổ tâm của những người mắc bệnh phong cùi. Nỗi đau đớn trong thể xác có lẽ chỉ là một phần nhỏ so với sự ruồng bỏ, mà xã hội ở bất cứ thời đại nào cũng dành cho người phong cùi.

Hôm nay, Chúa Giêsu đã chữa lành cho một người bị bệnh phong cùi vì anh có lòng tin. Anh tiến lại bái lạy Người và nói: “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”.

Bệnh phong là bệnh nan y thời ấy. Không ai có thể chữa lành. Bệnh phong giống như người chết, vì bị khai trừ ra khỏi cộng đoàn. Người bệnh phong này có đức tin mãnh liệt. Chỉ có Chúa mới có thể chữa ông. Chúa Giêsu giơ tay đụng vào anh ta và bảo: “Tôi muốn, anh hãy được sạch”. Chúa là Thiên Chúa của sự sống. Chúa dựng nên sự sống, không dựng nên sự chết. Chúa muốn sự sống cho con người. Chúa giơ tay đụng vào người bệnh. Bàn tay yêu thương đụng đến chỗ đau yếu nhất. Ngón tay thần linh ban sự sống. Như ngón tay Thiên Chúa chạm vào ngón tay Adong. Thiên Chúa ban sự sống. Kỳ diệu hơn nữa, Thiên Chúa trả lại sự sống.

Trong Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng đánh đổ được huyền thoại của người đương thời với Ngài về bệnh phong cùi. Thật thế, trong quan niệm của người Do thái lúc đó, bệnh tật là một hình phạt trực tiếp của Thiên Chúa đối với tội lỗi của con người. Người mắc bệnh phong cùi là người đã từng mắc tội ác khủng khiếp đến độ đã bị Thiên Chúa trừng phạt nặng nề. Thế nên, khi bị đẩy ra bên lề xã hội, người phong cùi không những chịu đớn đau trong thể xác, mà còn phải gánh chịu sự tủi nhục do người đồng loại gây ra. Khi chữa lành người phong cùi, Chúa Giêsu muốn nói rằng Thiên Chúa vẫn tiếp tục yêu thương con người và chính tình yêu là sức mạnh chữa trị bệnh tật cho con người.

Hình ảnh hiền từ và cử chỉ giơ tay chạm vào anh của Chúa Giêsu hôm nay đã làm cho người phong cùi thêm niềm hy vọng, cậy trông và ấm lòng. Vì thế, anh ta đã can đảm tiến lại gần Chúa Giêsu, mặc cho mọi lời dèm pha, khinh khi, nhục mạ. Anh ta tin và đi đến với Chúa Giêsu. Còn Chúa Giêsu đã giơ tay và chạm vào anh ta, khiến anh ta được sạch.

Hành động này của Chúa Giêsu đã xoá tan đi biết bao ngăn cách, đã trả lại cho anh một chỗ đứng trong xã hội, đã phục hồi nhân phẩm cho anh trong cuộc sống còn lại.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta, một mặt biết noi gương người phung cùi, can đảm, tin tưởng và bỏ qua mọi rào cản, để đến với Chúa là mối lợi tuyệt đối và duy nhất của cuộc đời. Mặt khác, cũng mời gọi chúng ta hãy suy nghĩ đến bệnh cùi tâm linh của chúng ta là những ích kỷ, kiêu ngạo, bất nhân và ham danh, trục lợi... Đồng thời, như một lời mời gọi hãy bước theo Chúa Giêsu trên con đường yêu thương, xóa bỏ ngăn cách do kỳ thị...

 

 

 

 

CHÚA NHẬT XII THƯỜNG NIÊN 2021

G 38,1.8-11; 2Cr 5,14-17; Mc 4,35-41. 

Sóng gió cuộc đời

          Trong đời ta gặp nhiều trường hợp giả vờ rất đáng yêu. Chẳng hạn bà mẹ trẻ giả vờ trốn đứa con nhỏ, để nó phải lo âu đi tìm. Và khi thấy nó đã lo âu đến độ tuyệt vọng, sắp khóc đến nơi, bấy giờ bà mẹ mới xuất hiện. Vừa thấy bà mẹ xuất hiện, đứa trẻ vui mừng khôn xiết. Và nó càng yêu mến, càng bám chặt lấy mẹ nó hơn nữa.

          Chúa Giêsu cũng có nhiều lần giả vờ như thế. Lần giả vờ được minh nhiên ghi lại trong Tin Mừng là khi Người cùng hai môn đệ đi trên đường Emmaus. Khi đã đến nơi, Người giả vờ muốn đi xa hơn, làm cho các môn đệ phải tha thiết nài nỉ Người mới chịu ở lại. Khi Người ở lại, các môn đệ vui mừng khôn xiết. Và niềm vui lên đến tuyệt đỉnh khi các môn đệ nhận ra Người lúc bẻ bánh.

          Đối với Chúa Giêsu, Ngài muốn dạy cho chúng ta phải có niềm trông cậy và phó thác nơi Chúa: “Sao các con sợ hãi? Các con không có đức tin ư?” Trong mọi hoàn cảnh, mọi hiểm nguy, chúng ta đều nằm trong bàn tay của Cha trên trời. Trong một hoàn cảnh tương tự, viên lái đò chở hoàng đế César qua sông, thấy sóng cả đã ngã tay chèo, được nghe một câu nói bất hủ: Anh không biết là anh đang chở vua César? Thì huống hồ ở đây, không phải là một vị vua trần thế mà là Vua Cả trên trời, “Ngài làm cho bão táp dừng yên phăng phắc, sóng biển yên lặng như tờ” (Tv. 107, 29).

          Con thuyền của các môn đệ trong Tin Mừng sáng hôm nay chính là hình ảnh cuộc đời chúng ta. Thực vậy, cuộc đời chúng ta với bao nhiêu phong ba bão táp, đó là những thất bại của bản thân, những khó khăn của cuộc sống, của xã hội, những khổ đau của những người xunh quanh, làm cho chúng ta nhiều lúc chán nản tuyệt vọng.

          Tại sao lại có những sóng gió trong cuộc đời? Phải chăng Thiên Chúa đã bỏ rơi chúng ta? Có người cho rằng chính Thiên Chúa thử thách để rèn luyện và củng cố niềm tin nơi chúng ta. Có người lại cho rằng do trình độ hạn chế của con người trước sức mạnh của thiên nhiên. Nhưng có lẽ nguyên nhân trực tiếp nhất vẫn là do cách đối xử của con người đối với con người trong cuộc sống.

          Thực vậy, chính thái độ vô trách nhiệm của những người làm cha làm mẹ đã dẫn đến tình trạng tuổi trẻ lang thang, bụi đời. Chính sự ích kỷ tàn nhẫn của một số người đã tước đoạt đi những phương tiện sống và phẩm giá của những người khác.

Nghịch cảnh và sóng gió như vẫn tồn tại song song với số phận và lịch sử con người. Các môn đệ cũng như chúng ta phải đương đầu, phải đối phó với cuồng phong. Thế nhưng chúng ta sẽ tìm thấy niềm an ủi nơi Thiên Chúa bởi vì dưới bàn tay quyền năng và yêu thương của Ngài, sóng gió cũng phải khuất phục và sự bình an sẽ trở lại với chúng ta.

          Sự dữ tuy tràn lan, nhưng ơn sủng của Ngài vẫn dư đầy, bởi vì Ngài luôn yêu thương chúng ta, Ngài không hề bỏ rơi con người. Bằng chứng là Đức Kitô đã đến, Ngài tìm mọi phương cách, thậm chí cả đến cái chết của mình để cho chúng ta thêm xác tín vào tình thương của Ngài. Một vị Thiên Chúa nhân lành như vậy, nhất định sẽ không bao giờ muốn cho con người phải đau khổ, nhất định Ngài sẽ cứu chúng ta.

          Đời tự nó đã là khó. Đi trong cuộc đời với niềm tin theo cách Chúa dạy lại càng khó hơn. Chúng ta đã vâng lệnh Chúa mà nhổ neo ra khơi, đã tin tưởng vì có Chúa ở đàng lái, ở vị trí hoa tiêu, nhưng có thể đã có lần chúng ta đau đớn vì Chúa lại ngủ giữa phong ba. Điều đó có thật, là kinh nghiệm muôn đời của những ai tin Chúa. Niềm tin không phải là giải đáp dễ dãi, không miễn trừ những khó khăn. Cần phải dày công học tập mới chấp nhận được thực tế đó. Người có niềm tin trưởng thành là người “giữa phong ba khốn cùng ngàn nỗi vẫn luôn thành tín ngợi khen Chúa là thuẫn đỡ, là khiên che, là đồn luỹ”. Phải dám ra đi dù trời đã về chiều, dù có thể gặp phong ba. Nếu không thì chẳng bao giờ sang được “bờ bên kia” của cuộc sống. Chúa có thể ngủ, nhưng Chúa luôn thức vào lúc quyết định để trợ giúp những ai bằng lòng để cho “Chúa ở đằng lái”.

          Bão lớn, nước sắp đầy thuyền thì ai mà không sợ? Vậy mà Chúa còn trách: “Sao các con sợ thế, các con không có đức tin ư?”. Các môn đệ lâm nguy thật sự. Trong hoàn cảnh đó, chẳng những nên kêu cứu Chúa, mà đúng là phải kêu cứu Chúa. Nhưng đừng kêu cứu với tâm trạng sợ hãi đến tuyệt vọng như vậy. Phải kêu cứu nhưng hãy kêu cứu trong niềm cậy trông tín thác tuyệt đối. Lời trách cứ của Chúa Giêsu khai mở cho chúng ta một kinh nghiệm đức tin quý báu: niềm tin vững vàng làm chúng ta thêm can đảm lắm mới có thể tin. Vì tin Chúa, thực tế chính là ” trao thân gởi phận” cho Chúa. Người tin Chúa thực sự thì không sợ, còn người sợ thực sự thì không tin. Trong rất nhiều trường hợp, “yếu tin” đồng nghĩa với “hèn tin”!

          Vẫn biết Thiên Chúa là quyền năng và quyền năng này vượt trên tất cả mọi sự, ‘Thức dậy, Người ngăn đe gió và truyền cho biển: “Im đi! Câm đi!” Gió liền tắt, và biển lặng như tờ’. Thiên Chúa đương nhiên có quyền trên cả sự dữ! Trong trường hợp cụ thể này, theo lối suy nghĩ của các môn đệ, biển cả dậy sóng là hình ảnh quen thuộc của sức mạnh sự dữ, của tà thần (xem Mc 1:25). Có điều là ít tôn giáo nào dám nghĩ rằng quyền năng lớn lao nhất của Thiên Chúa (Thượng Đế…) lại chính là quyền năng buộc Ngài phải câm nín. Ngoài Ki-tô giáo, có tôn giáo nào dám nghĩ rằng có một Thiên Chúa mà quyền năng và bản chất tuyệt hảo nhất của Người lại chính là lòng nhân từ và thứ tha? Đặc tính ‘nhân từ và hay thương xót’ của Thiên Chúa, nếu có tìm thấy trong Do Thái giáo, Hồi giáo…, thì cũng chỉ mang tính tạm bợ và hạn hẹp, và chỉ dành cho một số đối tượng nhất định mà thôi (các tín hữu trung thành, những người công chính chẳng hạn).

          Chỉ riêng Tin Mừng của Đức Giê-su mới cho ta hiểu rằng Thiên Chúa là tình yêu, và bản chất của Tình Yêu đó trước hết và trên hết là thứ tha và hay thương xót. Phải chăng từ muôn thuở yếu tính của Thiên Chúa chính là điều này… và sẽ còn tiếp tục mãi mãi cho tới muôn đời? Mạc khải lớn nhất của Đức Giê-su Ki-tô chính là đây: Thiên Chúa không lên án, Ngài không luận phạt, Ngài chỉ làm một điều duy nhất là cứu độ và xót thương. Luận phạt hay lên án là do chính con người tự quàng vào cổ mình “vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa” (Ga 3:16-21). Kể từ mạc khải vĩ đại này, thinh lặng trước sự dữ, thay vì là yếu đuối sợ hãi, lại biểu lộ sức mạnh vô địch nhất của Thiên Chúa. “Ông không nói lại được một lời sao? Mấy người này tố cáo ông gì đó?… Nhưng đức Giê-su vẫn làm thinh” (Mt 26:62-63).

          Trong cuộc đời mỗi người chúng ta, mỗi gia đình chúng ta có nhiều lúc cũng gặp “bão tố nổi lên” và chúng ta có cảm tưởng Chúa cứ ‘ngủ yên’ mà không thương cứu giúp chúng ta. Y như trong trường hợp khổ đau của ông Gióp trong Bài Đọc I (Gióp 38, 1.8-11). Nhưng ông Gióp đã luôn vững tin nơi Chúa, không phàn nàn, kêu trách; rồi Chúa đã làm cho sóng gió cuộc đời ông chấm dứt, và ban lại cho ông một cuộc sống tốt đẹp hơn. Trong Bài Đọc II (2Cr 5,14-17), Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta: Vì thương yêu chúng ta, “Chúa Giêsu Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, nhưng Ngài đã sống lại!..”, đem lại cho chúng ta một niềm tin vững chắc vào tình thương của Chúa.

          Có lòng tin là ý thức Chúa hiện diện trong mọi nẻo hành trình; Có lòng tin là trả lời xác tín với mọi người về chính Chúa, bằng sự cảm nghiệm của chính cá nhân mình; Có lòng tin là để Chúa điều khiển và kiểm soát cuộc sống của mình; Có lòng tin là khiêm tốn kêu xin khi gặp gian nan khốn khó.'

Huệ Minh 20-6-2021

Chúa Nhật 12 Thường Niên (năm B) 21-06-2015:
TÌNH CHA
G 38, 1. 8-11; 2 Cr 5, 14-17; Mc 4, 35-40


          Phương tiện di chuyển cơ bản của con người có thể là đường bộ, đường sông, đường biển ... hay đường hàng không.
          Với những phương tiện đó, phải chăng phương tiện đường sông, đường biển có thể nói là làm cho con người có"cảm giác" nhất bởi lẽ nếu bình thường, thời tiết không có gì quan ngại thì không sao nhưng nếu có bất trắc con người sẽ rất sợ hãi. Ai đã một lần ngồi trên chiếc thuyền chòng chành giữa trời dông bão sẽ có cảm nghiệm hơn ai hết.

          Với những người đi biển, họ được trang bị kiến thức hay có những khả năng hay kỹ năng để đi trên nước. Có thể có gió, có thể có sóng đó nhưng họ không sợ bằng những người không có kinh nghiệm cũng như không có khả năng với sóng dữ.

          Những người dân Việt tị nạn vì lý do nào đó bằng đường biển chắc có kinh nghiệm hơn ai hết. Chính người dì ruột của tôi khi kể lại tình sử vượt biên của bà làm cho nhiều người kinh ngạc. Khi đặt chân lên bờ, dì chỉ còn đúng 1 bộ đồ dính người chứ không hơn không kém. Dì kể lại hành trình vượt biển với biết bao nhiêu sóng gió trên hành trình. Chuyế đi của dì lần đó chỉ còn một số ít người thoát khỏi cơn sóng dữ để đến bến bờ bình an.

          Kinh nghiệm đó, hôm nay ta bắt gặp nơi các môn đệ trên chính chiếc thuyền của các ông. Kinh nghiệm nhiều, thuyền của mình để rồi cứ tưởng là "chắc ăn như bắp" như kiểu nhiều người nói nhưng rồi bỗng nhiên có một cơn bão lớn và những lớp sóng ùa vào thuyền đến nỗi sắp đầy nước.

          Bi đát ở chỗ là cái "anh chàng" đi ké lại dựa gối ở đàng lái mà ngủ ! Mê ngủ đến độ sóng gió đó không làm chàng ta thức giấc. Các môn đệ hoảng quá nên đành đánh thức anh ta :  "Thưa Thầy, chúng con chết mất mà Thầy không quan tâm đến sao?"

          Giật mình chỗi dậy và Chúa Giêsu đe gió và phán với biển rằng: "Hãy im đi, hãy lặng đi".

          Trước lời phán đó, gió ngừng biển lặng như tờ. Sau đó, Chúa mới nói với các ông: "Sao các con sợ hãi thế? Các con không có đức tin ư?"

          Đùa vui ! Bớt giỡn đi chứ ! Sóng to biển dữ như thế mà bảo là sợ hãi thế ! Thầy vừa phải thôi chứ ! Chẳng lẽ chúng con lại vất Thầy xuống thuyền như ông Noe ngày xưa trong Cựu Ước.

          Giận lắm nhưng cơn kinh hãi vẫn còn chưa tan trong các ông và các ông thầm thì với nhau : "Người là ai mà cả gió lẫn biển cũng đều vâng lệnh Người?"

          Thật ra mà nói, kinh nghiệm về những trận cuồng phong như thế trong hành trình người Kitô hữu không phải là hiếm. Những cơn sóng xô của cuộc đời cứ mãi giật trên con đường về quê, trên con đường lữ thứ trần gian của thân phận làm người.

          Một anh bạn tri kỷ, khi ngồi lại với nhau, anh không ngần ngại kể lại cuộc đời tưởng chừng như không còn gì để mất của anh nữa nhất là với biến cố cụt 2 chân sau tai nạn nhớ đời. Mẹ góa, con côi với cái nách mang 4 đứa con trong mình và đặc biệt đứa con trai lớn nhất nhà đã làm cho mẹ con mất phương hướng.

          Anh kể lại có những lúc anh muốn buông xuôi vì với cái thân phận tật nguyền của anh chỉ có nước đi ăn xin hay cùng lắm cạp đất mà ăn chứ làm nên cái trò trống gì. Thế nhưng, Thiên Chúa đã ra tay để cứu gia đình anh, bản thân anh thoát khỏi những cơn sóng dữ của cuộc đời.

          Trong sâu lắng, anh cảm nhận được tình yêu bao la mà Thiên Chúa trao ban cho anh, cho cuộc đời anh, cho gia đình anh.

          Ngay như bây giờ cũng vậy ! Cuộc sống tưởng chừng yên dù anh muốn yên nhưng vẫn còn đó thử thách của hành trình làm người, là người và nhất là hành trình đức tin. Có những lúc chán nản vì sóng dữ, dường như muốn buông xuôi nhưng rồi anh lại thấy Chúa Giêsu bên đời đang ở cạnh anh để nâng đỡ anh.

          Khi đối diện với những sóng xô của cuộc đời như cơn sóng lớn ngày hôm đó. Chúa Giêsu chỉ giản đơn trách các môn đệ kém lòng tin !

          Một lần nữa, Chúa lại mời gọi niềm tin của mỗi người chúng ta vào quyền năng của Chúa.

          Cũng trong tình thân, anh nói rằng anh cũng như các em có được như ngày hôm nay đó là nhờ anh và các em thụ hưởng gia tài cao quý của mẹ, của cha anh để lại, đặc biệt nơi người cha dù đã khuất mấy chục năm trời. Cha anh ra đi không để lại tài sản gì to lớn cả, chỉ để lại lòng đạo đức và sự hiền lành. Chính đời sống hiền lành và đạo đức cũng như niềm tin vào Chúa mà gia đình anh được như ngày hôm nay.

          Ngày hôm nay Chúa nhật thứ 3 trong tháng 6, Chúa  nhật mà người ta đặc biệt kính nhớ đến người cha thân yêu của mỗi người.

          Tôi với anh cùng may mắn như nhau, cùng được thừa hưởng một người cha hiền lành, khiêm nhường và đạo đức.

          Tôi thầm nghĩ, để đối diện với tất cả những cơn sóng dữ của cuộc đời, không có cách nào khác là đặt niềm tin vào Thiên Chúa là Cha nhân lành trên cuộc đời ta. Khi ta đặt cuộc đời của ta trong tay Chúa thì dù cho phong ba bão táp đi chăng nữa, ta vẫn không sợ gì vì có Chúa kề bên.

          Trang Tin Mừng ngày hôm nay có phần am hợp với ngày mừng người Cha. Thiên Chúa là người cha luôn luôn yêu thương che chở chúng ta trên mọi nẻo đường đời. Chuyện quan trọng là ta có tin tưởng, tín thác cuộc đời của ta trong tay Chúa hay không mà thôi.

Huệ Minh .

 

CHÚA NHẬT 12 TN B
THẦY CHẲNG LO GÌ SAO ?
G 38, 1.8-11; 2 Cr 5, 14-17; Mc 4, 35-41


Đọc qua trang Tin Mừng hôm nay, ta có thể nói : "Thầy chơi xấu !". Vì sao ? Ai cũng hiểu rằng ngay lúc xảy ra sóng gió thì Thầy lại "vui vẻ" ... nằm ngủ !

Thử hỏi, ta đặt ta trong tâm trạng, trong trạng thái như các môn đệ ắt hẳn ta sẽ giận lắm bởi lẽ người ta lo muốn chết mà ngủ như chết vậy. Giận quá nên hỏi luôn cho xong chuyện : "Thầy ơi, chúng ta chết mất, Thầy chẳng lo gì sao ?" (Mc 4, 38).

Cũng dễ hiểu bởi lẽ ai cũng sợ sóng biển. Sóng biển đã làm cho bao nhiêu con người ra đi không trở lại.
Lần kia, tắm biển Mũi Né, sóng cũng không lớn lắm nhưng cũng không nhỏ. Những cơn sóng nhấp nhô đó làm chùn lòng du khách. Nhiều người ngại sóng nên không dám xuống biển lúc đó. Và, lúc đó chỉ còn ít người gọi là dám "chơi" với biển nên xuống tắm.

Đang tắm, có chàng trai kia ghé vào tai tôi nói : "Sóng như thế này đã thấy ớn ! Nếu như sóng 5m thì sao ?. Tôi trả lời anh : "chết chắc chứ sao nữa".

Cũng dể thấy hậu quả của những cơn sóng dữ. Nhiều cơn sóng dữ đến đã làm cho bao nhiêu căn nhà và bao nhiêu con người phải ra đi không bao giờ trở lại. Biển cũng cho con người nhiều hải sản, nhiều khoáng sản quý dưới đáy đại dương nhưng biển cũng đã chôn vùi bao nhiêu con người bằng những cơn sóng dữ của mình.

Chiều hôm ấy, có hai cha con nhà nọ tắm gần tôi. Đứa bé được cha đưa ra hơi quá đầu gối anh ta một tí nghĩa là tới khoảng ngực của đứa trẻ. Ban đầu, sóng xô cháu cũng ngại ngùng và không muốn ra nữa. Nhưng, sau đó nhờ có đôi bàn tay của cha, cháu tiếp tục vui đùa dưới sóng bởi lẽ khi ấy, cậu an tâm trước vòng tay của cha mình.

Nhớ lại hình ảnh của các môn đệ, khi Thầy Giêsu thức giấc và Thầy đã ra lệnh cho biển cả lặng yên thì khi đó các môn đệ an tâm và bình an.

Sau khi bảo sóng biển yên lặng thì Chúa Giêsu như trách yêu các môn đệ : "Sao nhát thế ? Anh em vẫn chưa có lòng tin sao ?"

Trang Tin Mừng hôm nay sao mà nó thích hợp hay nói đúng hơn là nó quá đúng với cuộc đời của mỗi người chúng ta.
Trong hành trình vượt biển để về nhà Cha, về nước Chúa ta đã không ít lần hay nói đúng hơn là quá nhiều lần chúng ta hốt hoảng kêu la lên. Kêu la cũng dễ hiểu bởi lẽ ta gặp quá nhiều cơn sóng dữ trong cuộc đời mà dường như ta cảm thấy Chúa bỏ ta bơ vơ, chơ vơ giữa cuộc đời này thì phải ? Ta thấy có những cơn sóng tưởng chừng như ập xuống đời ta và ta cảm như là chìm rồi.

Đời ta, không ít lần ta đối diện với sóng dữ là mất cha mất mẹ ở cái tuổi còn quá trẻ ! Sóng dữ đến khi ta bị người khác hiểu lầm, bị chà đạp và bị hại. Sóng dữ đến khi ta phải đối diện với chứng bệnh nan y trong người. Sóng dữ khi ta bị chính người thân, ruột thịt ... hại ta, loại trừ ta.

Ai đã hơn một lần sống trong cảm giác đó cũng cảm được như những cơn sóng dữ của cuộc đời. Đối diện với những điều đó ta cũng mất ăn mất ngủ, bất an và ta thầm trách Chúa như các môn đệ : "Thầy chẳng lo gì sao ?".

Hẳn nhiên đó là bản tính của con người, là cảm nhận, là đức tin yếu đuối của con người. Ta tưởng chừng như ta chơi vơi, như Chúa đã bỏ ta nhưng khi đó ta đã lầm.

Nhớ lại tác phẩm "Dấu chân trên cát" thật hay và ý nghĩa :
Một đêm kia tôi nằm mơ thấy Chúa.
Ngài cùng tôi song hành trên bài biển hoang.
Cùng lúc ấy trên trời xanh đang diễn ra những cảnh đời tôi.
Mỗi cảnh vui buồn đều có đôi dấu chân ghi trên nền cát trắng.
Lòng lâng lâng tôi lặng nghe tiếng sóng vỗ, và xa xa chập chờn đôi cánh hải âu.
Chợt sóng gió chẳng biết từ đâu bồng bùng lên khiến tôi kinh hãi.
Quay mặt nhìn lui: "ôi kìa! Sao tôi chỉ thấy một dấu chân?"
Hốt hoảng thắc mắc tôi vội kêu: "Chúa hỡi! Chúa hỡi! Sao bỏ con.
Những lúc sóng gió là những lúc con cần đến Chúa hơn bao giờ hết!"
Chúa đã nói với con rằng: "Sẽ mãi yêu quý con, sẽ luôn nâng đỡ con suốt cuộc đời cho đến chết."

Chợt bên tai tôi nghe được tiếng Chúa nói: "Này con bé nhỏ của ta ơi, đừng hoảng hốt hãi sợ chi. Ta ở đây luôn bên con. Những dấu chân này là của Ta đó! Vì những lúc ấy Ta đang bồng bế con trên tay."
Vâng ! Như Chúa nói đó : "Những lúc ấy Ta đang bồng bế con trên tay".

Nghiệm lại cuộc đời ta, trong những giây phút lắng đọng của cuộc đời, ta sẽ thấy Chúa luôn luôn, Chúa mãi mãi ẵm ta trên tay của Chúa. Chuyện quan trọng rằng ta có tín thác, tin tưởng phó thác cuộc đời của ta trong tay của Chúa hay không mà thôi.

Tâm tình Thánh Vịnh 131 thật hay :

Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ,
trong con, hồn lặng lẽ an vui.
Cậy vào Chúa, Israel, 
từ nay đến mãi muôn đời muôn năm. (Tv 131, 2.3)

Xin Chúa cho ta luôn luôn sống tâm tình như trẻ nhỏ nép mình vào lòng Chúa để rồi ta vui vẻ bước đi giữa cuộc đời đầy sóng gió nhưng lòng vẫn an vui vì có Chúa ở cùng.

Huệ Minh.

 

CHÚA NHẬT 12 TN B
BỚT GIỠN !
G 38, 1.8-11; 2 Cr 5, 14-17; Mc 4, 35-41

Trang Tin mừng hôm nay thật thú vị !

Đang trong cơn sóng dữ, anh em lo chèo chống thì Thầy lại ngủ. Hẳn nhiên là nể Thầy lắm đó để cho Thầy nằm trên đầu thuyền mà không phải làm gì. Nhưng rồi đâu phải thấu anh em nể Thầy rồi Thầy muốn làm gì làm, Thầy để mặc anh em.
Vừa lo, vừa sợ, vừa hờn nên các môn đệ hỏi luôn cho ra ngô ra khoai : "Thầy ơi, chúng ta chết mất, Thầy chẳng lo gì sao ?" (Mc 4, 38).

Tưởng gì, làm cho biển im lặng ! Tài thật ! Dĩ nhiên là anh em biết quyền năng của Thầy chứ  ! Nhưng thôi, "của cho không bằng cách cho", cho biển im lặng rồi thôi, đàng này còn trả treo : "Sao nhát thế ? Anh em vẫn chưa có lòng tin sao ?" (Mc 3,40).

Nói thiệt với Thầy, giận Thầy lắm đó ! Chúng con chưa áp dụng cái chiêu ngày xưa trong Cựu Ước là con cho Thầy xuống biển như cho ông Nôê là may lắm rồi ! Thầy mà làm chúng con giận là chúng con cho Thầy xuống biển như xưa cho xong chuyện.

Thật ra, niềm tin của các môn đệ khi ấy cũng còn vững lắm là không bỏ Thầy xuống biển mà đến cầu cứu Thầy. Nếu sống với niềm tin Cựu Ước thời Nôê thì Thầy chết chắc.

Cuộc đời của chúng ta ắt hẳn cũng có quá nhiều lần nhiều lúc chúng ta cũng gặp sóng gió như các môn đệ ngày hôm nay. Thế nhưng, đứng trước trước những sóng gió của cuộc đời ta có bám vào Chúa, ta có chạy đến Chúa hay ta lại nại sức của ta hay tệ hại hơn là nhờ vào những thế lực của thế gian, của sự dữ.

Một gia đình kia tan nát cũng chỉ vì nại vào thế lực của sự dữ. Tưởng chừng nại vào thế lực của sự dữ thì sẽ bình an nhưng ngày mỗi ngày lại tụt dốc.

Chuyện là người vợ có vấn đề về tâm thần, về tâm lý ... người chồng nghe người này người kia nói và bắt đầu tìm Thầy bỏ Chúa. Người chồng loanh quanh đi tìm thầy cao tay để chữa cho vợ mình bất chấp điều đó là sai tín lý, sai lạc đức tin, sai lạc niềm tin vào Thiên Chúa mà họ đã tin theo. Khi đi theo thầy bùa chú và bỏ Chúa thì cuộc sống của vợ chồng đã đi vào bế tắt và cuối cùng chồng đi đường chồng, vợ đi đường vợ.

Lẽ ra trong gia đình có vấn đề thì họ nên và cần bám vào Chúa, đàng này họ bỏ Chúa để đi tìm thế lực khác để cứu mình. Hậu quả là gia đình đã bỏ Chúa và đi theo thế lực khác.

Cùng với kinh nghiệm bỏ Chúa là mất tất cả, bỏ Chúa là sẽ gặp sóng dữ của cuộc đời, tôi được một người thân quen chia sẻ về thế lực của sự dữ. Chuyện là chính bản thân chị, gần nhất là mẹ của chị đã có vấn đề về thần kinh, tâm lý mà theo như người ta nói là bị "ám". Đứng trước cảnh mẹ mình bị "ám" như vậy, chị và gia đình chỉ có 1 cách, 1 thế, 1 phương án duy nhất là bám vào Chúa và cầu nguyện.

Sau biến cố để đời đó, chị khuyên với những ai chị gặp gỡ, trong đó có bản thân tôi là dù cuộc đời thế nào đi chăng nữa cũng chỉ có bám vào Chúa và Chúa mà thôi.

Quả thật, niềm tin vào Chúa nói thì dễ nhưng khi đụng chạm bế tắt, đụng chạm với những khó khăn của cuộc đời ta vẫn thường đi tìm những người có thể giúp chúng ta. Theo kiểu người đời thường dùng đó là "chạy thầy chạy thuốc". Đó là cách nhìn, cách nghĩ, cách giải quyết theo kiểu thế gian vì dù cho có những người có thế lực có thể "gỡ" cho họ những khó khăn trong cuộc sống nhưng rồi tất cả rồi cũng qua đi chứ chẳng có ai mãi mãi và chẳng có ai vĩnh cửu.

Người đời, dù họ có quyền lực đến đâu đi chăng nữa, họ có thể chia sẻ quyền lực của họ cho những người theo phe nhóm của họ để đạt được nguồn lợi nhưng khi họ đối diện với thử thách phong ba của cuộc đời chưa chắc có người cứu được họ. Có khi ở trong đỉnh của vinh quang quyền lực nhưng rồi đến một lúc nào đó cũng ra đi, những người ngày xưa vui vẻ với họ dù muốn cứu họ nhưng cũng đành chịu.

Đó là cái nhìn của quyền lực, của thế gian. Người Kitô hữu thật sự lại được mời gọi vượt qua những sóng dữ của cuộc đời để đạt được Nước Thiên Chúa chứ không phải đạt được những lợi ích của thế gian.

Và, trong hành trình về nhà Cha, mỗi người Kitô ngày mỗi ngày đều phải đối diện với sóng dữ và tìm cách thoát sóng dữ. Ắt hẳn mỗi người cũng sẽ có cách lựa chọn khi đời mình gặp phải phong ba bão táp của cuộc đời. Có khi ta cũng sẽ có suy nghĩ là bám vào Chúa để xin Chúa đến trợ giúp nhưng cũng có khi ta muốn vất Chúa xuống khỏi tàu như ngày xưa trên chuyến tàu Nôê người ta đã sẵn sàng vất Nôê xuống biển.

Chính khi gặp sóng dữ, ta sẽ bám vào ai vẫn là sự tự do lựa chọn của mỗi người. Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để dù bất cứ sống trong hoàn cảnh nào của cuộc đời ta cũng chỉ bám vào Chúa mà thôi.

Xin cho ta đừng bao giờ vất Chúa ra khỏi thuyền nhưng cứ mãi xin Chúa ở lại cuộc đời của chúng ta, trên thuyền đời của chúng ta.     

Chúa ơi ! Chúa bớt giỡn ! Chúa cứ ở mãi trên thuyền của con và cứu đời con nha Chúa !

Huệ Minh .

 

SINH NHẬT GIOAN TẨY GIẢ

HÃY NHƯ GIOAN TẨY GIẢ

Mỗi một đứa trẻ sinh ra đều là niềm vui, niềm hy vọng cho gia đình, cho dân tộc, cho quốc gia.

Thật vậy, Đại thi hào Victor Hugo của Pháp đã có lý khi nói: “Không gì buồn thảm cho bằng một ngôi nhà không có tiếng cười, tiếng khóc của những trẻ thơ.” Trẻ thơ là niềm vui, là hy vọng của con người. Người Mỹ thường nói: “Mỗi một trẻ thơ được sinh ra đều có thể làm Tổng Thống tương lai của Hoa Kỳ”.

Mỗi người sinh ra, đều được cha mẹ đặt cho một tên gọi. Trong Kinh Thánh, tên gọi các nhân vật lớn thường rất giàu ý nghĩa, tên gọi ấy có khi phản ánh tình trạng của tập thể gia đình, hoặc phản ánh tình trạng của chính cá nhân đương sự, hoặc nói lên số phận hay hoạt động của người mang tên.

Quả thật! không kể Mẹ Maria, Thánh Gioan Tẩy giả là vị thánh duy nhất được Giáo hội mừng ngày sinh nhật. Ngày sinh của thánh Gioan sẽ loan báo một kỷ nguyên mới cho nhân loại mà Chúa Giêsu sẽ khai mở. Cha của ngài là một người câm, mẹ ngài là một người đàn bà già nua son sẻ. Trong bối cảnh đó, ngày chào đời của Thánh Gioan Tẩy giả loan báo rằng: thời của Đấng Cứu Thế đã đến, thời của sự câm lặng đã trở thành thời của loan truyền ơn cứu độ. Thời mà sự son sẻ đã trở thành đông con nhiều cháu. Ngày sinh của Gioan Tẩy giả là thời loan báo về ngày cứu độ. Lời loan báo mà Thánh Gioan đã không ngừng hô lớn trong những ngày sau này, ngài chính là tiên tri của Chúa, ngài chính là đấng tiền hô của Chúa.

Ta thấy cùng với tên gọi là hàm ý một dự phóng cho tương lại, có khi chỉ một ước vọng, đôi khi gợi lên tình cảm lúc sinh ra hoặc tương lai mà cha mẹ thấy được, và thường khi là cả một sứ mạng, sứ mạng đó nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa muốn thực hiện giữa dân Người. Trường hợp của Gioan Tẩy Giả là một ví dụ, khi sinh ra được cha mẹ đặt tên theo lời Sứ thần đã loan báo. Danh xưng Gioan có nghĩa là Thiên Chúa biểu lộ tình thương.

Cuộc đời của Thánh Gioan và Chúa Giêsu rất lạ thường: Sự thụ thai của hai con trẻ được báo trước bởi cùng một Thiên Thần Gabriel; Cả hai được sinh ra bởi hai người nữ đáng lẽ không thể có con: bà Elizabeth tuổi đã già trong khi Đức Mẹ khấn trọn đời đồng trinh, không biết đến người nam; Cả hai con trẻ được đặt tên và trao nhiệm vụ từ lúc còn trong lòng mẹ: Gioan/Đấng Tiền Hô và Giêsu/Đấng Cứu Thế (Lk. 1:5 & 1:26); Cuối đời Thánh Gioan chịu chết vì đức tin và nhiệm vụ của Ông trước khi Chúa Giesu chịu chết vì tội nhân loại chúng ta trên Thánh Giá.

Sứ mạng của Gioan Tẩy Giả là dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến. Vì ý thức sứ mạng cao cả này, Gioan đã can đảm chu toàn để làm chứng cho Ánh Sáng và Sự Thật, dù phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Phần chúng ta, khi cho chúng ta được hiện diện trên cõi đời này, Thiên Chúa đặt hết niềm tin và sự kỳ vọng nơi chúng ta.

Sự cao trọng của thánh Gioan, một địa vị then chốt trong lịch sử cứu chuộc, được nhận thấy qua tường thuật của thánh Luca về sự sinh hạ và các biến cố sau đó của thánh Gioan. Cả hai yếu tố này đều xảy ra song song với cuộc đời của Đức Giêsu. Thánh Gioan thu hút được rất nhiều người đến bờ sông Giođan, và một số người đã coi ngài như Đấng Thiên Sai, nhưng ngài luôn luôn chỉ đến Đức Giêsu, ngay cả một số môn đệ của ngài cũng được sai đến để trở thành các môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu.

Ta hãy nhìn ngắm cuộc đời và cách sống của Gioan để noi theo trong việc thi hành sứ mạng của mình giữa cuộc sống hàng ngày.

Thứ nhất là tinh thần can đảm: Thánh Gioan Tẩy Giả đã dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến bằng cách chuẩn bị tâm hồn mọi người cho xứng hợp để tin nhận Người. Trong hành trình rao giảng, Gioan đã không ngần ngại, không sợ sệt khi lên tiếng phản đối sự sai trái của kẻ cầm quyền lúc bấy giờ là vua Hêrôđê, dù biết rằng mình phải chuốc lấy những hậu quả khôn lường, thậm chí bị chém đầu.

Là những Gioan Tẩy Giả của thời đại hôm nay, chúng ta có bổn phận góp phần làm cho xã hội được phát triển, cuộc sống con người được thăng tiến, phẩm giá con người được tôn trọng, công bình và bác ái được thể hiện; chúng ta có trách nhiệm cùng nhau xây dựng một nền văn minh tình thương và sự sống, làm giảm bớt sự hận thù, chia rẽ, bạo lực và chà đạp nhân phẩm, ngay trong môi trường mình đang sống.

Thứ hai là sự khiêm tốn: Khi thi hành sứ mạng, thánh Gioan được mọi người rất kính nể, đến nỗi người ta cứ lầm tưởng Gioan là Đấng Cứu Thế. Tuy nhiên, Gioan không lợi dụng sự tin tưởng của họ để mạo danh. Ngược lại, Gioan khiêm tốn bộc bạch với dân chúng: “Đấng đến sau tôi thì cao trọng hơn tôi. Tôi không xứng đáng cúi xuống cởi dây giầy cho Người”.

Như Gioan, mỗi người chúng ta cũng có một sứ mạng, một ý định của Thiên Chúa về chúng ta. Nhưng làm sao biết được? Kinh Thánh và giáo lý của Hội Thánh cho ta biết rằng con người được dựng nên "theo hình ảnh của Thiên Chúa", "có khả năng hiểu biết là yêu mến Tạo Hóa" và "chỉ con người, nhờ sự hiểu biết và tình thương, được mời gọi chia sẻ sự sống của Thiên Chúa". Đó chính là mục đích của việc tạo dựng con người. Con người phát xuất từ Thiên Chúa, sẽ được trở về với Thiên Chúa.

Phần chúng ta, vừa can đảm thực thi sứ mạng của người Công Giáo trong cuộc sống, nhưng chúng ta cũng cần phải khiêm tốn nhìn nhận mình là “đầy tớ vô dụng”, được Chúa sai đi làm công việc của Chúa. Nhờ đó, chúng ta vừa tránh được tính khoe khoang tự mãn với những thành quả đạt được, vừa luôn phấn đấu để hoàn thiện con người của mình, hầu chu toàn sứ mạng được tốt hơn.

 

THỨ HAI TUẦN 12 TN

2 V 17:5-8,13-15,18; Tv 60:3,4-5,12-13; Mt 7:1-5

ĐỪNG XÉT ĐOÁN

          Hôm nay, ta bắt gặp trang Tin Mừng theo Thánh Matthêu, với phần diễn từ Bài giảng Trên Núi. Đây là những lời khuyên dạy của Chúa Giêsu đối với người theo Chúa: một lối sống đạo đức thực sự khiêm tốn, biết mình. Trình thuật Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu dạy chúng ta đừng xét đoán người khác để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán, đừng lên án người khác để khỏi bị lên án.

        Ngay câu mở đầu, thánh sử Matthêu đã nêu bật nguyên nhân dẫn đến việc  chúng ta bị xét đoán là do chúng ta đã xét đoán. Chúng ta dễ nói lên ý kiến, nhận định chủ quan về người khác, mặc dù chúng ta chẳng có trách nhiệm để làm việc đó. Nhất là khi chúng ta có ảo tưởng cho rằng mình đạo đức hơn người, có khả năng hơn người, có quyền hơn người... là chúng ta dễ dàng phê phán không thương tiếc. Thậm chí có người nói cản. Nói bừa để tỏ ra ta đây hiểu biết lề luật, nắm vững đường lối... mà châm chọc, chê bai người khác.

Và ta thấy đôi khi có người cũng cho rằng: đó là vì tinh thần bác ái, muốn người khác nên tốt nhưng sợ không dám nói thẳng. Về nhận xét của mình...mà sẵn sàng rêu rao cho mọi người biết về những sai lầm, khiếm khuyết của người khác... để đề cao mình hơn.

          Chúa Giêsu nhấn mạnh: “Vì anh em xét đoán thế nào thì...cũng sẽ bị xét đoán như vậy....Đong đấu nào...sẽ được đong bằng đấu ấy” (c.2). Ngài khẳng định về cách đối xử của chúng ta với anh em đồng loại sẽ được trả lời trong ngày sau hết, tại có khi sẽ xảy ra ngay tại đời này. Vì sự “đạo đức nửa vời” của chúng ta mà chúng ta tự lên mặt dạy dỗ người khác.

Đây là thái độ tự mãn, tự cao, tự đại. Nó đối nghịch với nhân đức, hiền lành, khiêm nhường. Nhịn nhục. Chúa Giêsu đề cao cảnh giác về chuyện này. Ngài không cấm chúng ta có những nhận xét khách quan, những nhận xét phân biệt phải trái, sai quấy. Nhưng khi chúng ta kết tội và lên án lương tâm người anh em, là chúng ta xâm phạm lãnh vực dành riêng cho Thiên Chúa. Trong đời sống cộng đồng, điều này dễ xảy ra khi chúng ta có một chút gì hơn anh chị em mình: chức tước trong giáo xứ, danh dự trong khu xóm... lúc ấy chúng ta dễ dàng lên “bài giảng” với những bài “đạo đức nửa mùa” theo chủ quan của chúng ta. Chúng ta tự coi mình là “cái rốn vũ trụ” và cho rằng và mọi lời nói và việc làm của chúng ta là hợp lý, là phải đạo.

          Trong (c.3 và c. 4) Chúa Giêsu nhắc chúng ta về thận phận của chính mình tại sao chúng ta quá chú tâm đến “ cọng rơm trong mắt của người anh em mà quên đi mình đang vác một cái xà”. Cái xà ấy đã che phủ con mắt đức tin của chúng ta, và chúng ta chỉ còn soi mói cái xấu của người anh em mà không biết là: người khi lên án, xét đoán người khác là chính chúng ta đang tự lên án, kết tội mình.

Ta thấy ở đây Chúa Giêsu nhắc chúng ta phải dè dặt khi xét đoán người khác.

Hãy nhớ lại thân phận bụi tro của mình cũng dầy những khuyết điểm tội lỗi... mà bao dung tha thứ những lỗi lầm của người anh em. Có thế, chúng ta mới đấm ngực ăn năn thú nhận và không lên mặt hợm hĩnh khi góp ý xây dựng người anh em, không coi thường, khinh khi người khác mà biết đón nhận nhau trong đức ái.

          Trong câu cuối cùng, Chúa Giêsu gợi những kẻ xét đoán người khác là: Đạo đức giả Ngài ra lệnh: chúng ta hãy lấy cái xà ra trước, rồi thấy rõ mà lấy cọng rơm cho người anh em ( c.5). Nghĩa là chúng ta phải thực hành điều mình hiểu và điều mình nói, thì mới xây dựng người khác trên con đường nhân đức được.

Chúa Giêsu lên ánnhững người sống giả hình hãnh diện cho mình là người công chính mà lên án người khác. Chính Chúa Giêsuđã nêu gương sáng cho chúng ta khi đón nhận và cảm thông với những yếu đuối của con người. Đồng thời Chúa Giêsu hướng chúng ta đến thái độ sống đức yêu thương đó là hãy đong cho anh em những đấu đầy tràn như Thiên Chúa đã quảng đại đong cho chúng ta.Người ban cho chúng ta nhiều hơn những gì chúng ta mong ước và cầu xin.

Trong ý định ngàn đời của Thiên Chúa, con người chúng ta được tạo dựng cho nhau và vì nhau. Tha nhân làm phong phú đời sống của chúng ta, họ đắp đổi và giúp chúng ta nên hoàn thiện.Bởi lẽ mỗi người chúng ta không phải là một ốc đảo giữa biển khơi, chúng ta luôn sống trong nhiều tương quan đa chiều. Tương quan gần gũi với chính mình và với người khác, với gia đình và cộng đồng xã hội, tương quan với thiên nhiên và vũ trụ trời đất.

Có một cô gái trẻ mới chuyển đến ở trong một xóm nghèo. Cô phát hiện hàng xóm của mình là một phụ nữ nghèo góa chồng và có hai đứa con nhỏ.

Một buổi tối nọ,cả xóm bỗng bị cúp điện nên cô gái trẻ phải dùng nến để thắp sáng.Một lát sau, nghe có tiếng gõ cửa, cô gái trẻ hé cửa để nhìn vànhận ra đó là đứa bé con nhà hàng xóm. Nó khe khẽ hỏi: "Cô ơi cô, nhà cô có nến để đốt không ạ?"

Cô gái trẻ nghĩ: "Nhà nó nghèo đến nỗi nến cũng không có mà dùng? Mình mà cho nhà nó một lần, mai mốt nó lại sang xin nữa cho mà xem!"Thế là cô gái sẵng giọng trả lời vọng ra: "Không có!"

Đúng lúc cô định đóng cửa lại, đứa trẻ nhà hàng xóm nghèo tươi cười nói: "Cháu biết ngay là nhà cô không có nến mà!"Nói xong, nó chìa ra hai cây nến nhỏ và nói: "Mẹ cháu nghĩ cô mới chuyển đến chắc là không có có gì để đốt nên mới bảo cháu mang nến sang cho cô dùng tạm." Bấy giờ cô gái mới chưng hửng xấu hổ vì đã vội nghĩ xấu cho người khác.

Trong cuộc sống, đôi lúc chúng ta cũng hành xử như cô gái trên.Chúng ta khó chịu khi bị người khác làm phiền. Chúng ta tự mãn cho mình là người có đầy đủ mọi thứ vật chất trên đời mà không cần đến sự giúp đỡ của người khác. Câu chuyện trên cho thấy cô gái trẻ vội vàng xét đoán hành động của đứa trẻ con nhà hàng xóm trong khi nó thật tình muốn giúp đỡ cô.

Chúa Giêsu lại khác, Chúa Giêsu muốn chúng ta vượt lên cách hành xử nhân bản không xét đoán người khác mà còn phải làm những điều tốt đẹp và cầu nguyện cho họ. Thói thường chúng ta dễ nhìn thấy những điều tiêu cực hơn là điều tích cực nên dễ dàng lên án người khác.

Chúa Giêsu cho chúng ta một cách hành xử đầy yêu thương đó là tự nhìn nhận bản thân mình trước khi xét đoán người khác “tiên trách kỷ hậu trách nhân”.Mỗi người hãy tự nhìn vào nội tâm của lòng mình với biết bao những tham vọng và yếu đuối, những nhỏ nhen ích kỷ để chúng ta biết sống quảng đại hơn.Trước khi muốn lấy cái rác trong mắt người khác hãy khiêm tốn lấy cái xà trong mắt mình. Tâm hồn chúng ta còn nhiều góc tối, còn nhiều tham vọng xấu xa thấp hèn nên phải cậy nhờ ơn Chúa soi sáng.

THỨ BA TUẦN 12 THƯỜNG NIÊN

2 V 19:9-11,14-21,31-36; Tv 48:2-3,3-4,10-11; Mt 7:6,12-14

CHO VÀ NHẬN

Khuôn vàng thước ngọc mà Chúa Giêsu đã đề ra trong bài suy niệm Tin Mừng hôm nay cũng giống như phương châm mà Đức Khổng Tử đã dạy các môn sinh của ông: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người ta. Đức Khổng cũng nói một câu khác có tính cách tích cực hơn: “Kỷ dục lập nhi lập nhân; kỷ dục đạt nhi đạt nhân” nghĩa là mình muốn làm gì hay được gì thì cũng muốn, làm như vậy cho người ta.

          Người môn đệ của Chúa Giêsu trong mọi tình huống phải luôn vượt qua thế gian lẽ thường tình để đi bước trước, để trở nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo (Mt 5, 48).

          Dẫu rằng có sự tương đồng tuyệt vời về tư tưởng của những vị thánh hiền, nhưng lập luận của Chúa Giêsu dạy trong bài Tin Mừng hôm nay dường như tóm gọn, tích cực và hoàn hảo hơn tất cả những gì Thánh hiền trước đó đã nói “Những gì anh em muốn người khác làm cho mình thì hãy làm cho người ta như vậy” (Mt 7, 12)

“Cho” và “nhận” là hai hành động gắn liền với con người. Cuộc sống là chuỗi sâu kết những đón nhận và cho đi mỗi ngày. Không ai sống mà không nhận lãnh điều gì cũng như không ai keo kiệt đến nỗi chưa từng cho ai cái gì. “Cho” và “nhận” đặt chúng ta vào mối tương quan với người khác. Người nhận càng nhiều, khi ý thức được nó, sẽ thấy mình quá hạnh phúc vì được yêu. Người hay cho đi, theo thời gian, sẽ làm cho đời sống của mình được lớn lên và phong phú trong tương quan liên đới với tha nhân. Thánh Phaolô Tông đồ đã nói “cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35).

Phải chăng Chúa Giêsu muốn dạy về sự sòng phẳng trong cuộc sống “bánh ít trao đi, bánh qui trao lại” hoặc “có qua có lại mới toại lòng nhau”? Lời dạy của Tin Mừng hôm nay vượt xa nhiều bài học đắc nhân tâm của việc xã giao, bài học đó là: nghịch lý của việc cho - nhận. Nếu bạn muốn cái gì đó, thì hãy cho nó đi. Nghe ra thì nghịch lý! Hãy nhìn ngắm kinh nghiệm của người nông dân, muốn có nhiều thóc gạo, ông ta phải không ngừng gieo vãi hạt lúa xuống đất. Cũng vậy muốn được thương yêu, hãy gieo yêu thương cho người khác, hãy lấp đầy lòng trắc ẩn cho người khác, thì lòng sẽ tràn ngập cảm giác được thương yêu.

Động lực để người Kitô hữu có thể “cho nhiều” chính là tương quan hiệp thông với Thiên Chúa. Đấng đã yêu thương ban sự sống cho con người. Đặc biệt, Ngài đã trao ban Con Một của Ngài cho chúng ta. Trong Người Con ấy chúng ta lãnh nhận sự sống thần linh qua hy tế Thánh giá và Thánh Thể được cử hành trên bàn thờ mỗi ngày. Ý thức được mình đã đón nhận muôn hồng ân từ Chúa thúc đẩy chúng ta thông hiệp với anh chị em mình để cho họ thật nhiều điều tốt lành.

Khởi đi từ những người thân thiết và quan trọng trong cuộc đời đến những người ta gặp gỡ hằng ngày. Điều tốt ấy thật đơn giản, đó là lời cầu nguyện, lời hỏi thăm, nụ cười, sự giúp đỡ, lời dạy bảo hay chia sẻ, những bông hoa, món quà nhỏ trong dịp lễ hay ngày kỷ niệm đặc biệt… Khi thực hiện được như vậy là chúng ta đang sống đức ái Kitô giáo theo lời dạy của Chúa: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).

Là con một Cha, anh chị em một nhà nghĩa là biết lắng nghe tiếng nói của người khác đang thổn thức, đang thì thầm, rên xiết…trong từng ngày sống. Nếu mỗi người muốn được sự chia sẻ thông cảm của người khác, thì chính mình hãy biết sống gieo tin yêu thông cảm với người khác. Nếu mỗi người muốn người khác đối xử công bằng với chính mình thì hãy sống và xây dựng công bình với người khác. Nếu mỗi người không muốn người khác cau có với mình, thì hãy luôn mang bộ mặt vui tươi phấn khởi đến với người khác. Thật vậy, đời sẽ thay đổi khi ta thay đổi.

          Con người ta thường thích và muốn rất nhiều điều cho bản thân mình. Người ta dễ dàng sống ích kỷ, và lòng báo thù….cánh cửa của ơn cứu độ mở ra cho những ai chấp nhận buớc đi trong con đường hẹp của lòng quảng đại, biết tiết chế bản thân và sống biết nghĩ đến người khác. Hy sinh cho nhau những điều tốt đẹp như chính bản thân mình mong muốn người khác làm cho mình. Gieo tình thương thì sẽ gặt thương mến, gieo bình an sẽ gặp bình an.

Là anh em còn do cùng liên kết với nhau trong một vận mệnh. Là anh em nghĩa là biết lắng nghe tiếng nói của người khác đang thổn thức, đang thầm thì. Là anh em nghĩa là biết trợ gíup người đang thiếu thốn. Là anh em có nghĩa là cảm thấy hạnh phúc khi người khác được hạnh phúc, vui khi thấy người khác vui, và liên đới trong những lúc được êm xuôi cũng như lúc gặp trở ngại.

Chúa Giêsu đã đề ra cho chúng ta khuôn vàng thước ngọc để xử sự trong cuộc sống : “Những gì anh em muốn người khác làm cho mình, thì anh em hãy làm cho người ta như vậy”.  Nếu mỗi người muốn người khác đối xử công bằng với chính mình thì hãy sống công bình với người khác. Nếu mỗi người muốn người khác cư xử quảng đại với mình, thì hãy sống quảng đại với người khác như vậy. Nếu mỗi người không muốn người khác cau có với mình, thì hãy luôn mang bộ mặt của sự vui tươi phấn khởi đến với người khác.

Trang Tin Mừng hôm nay cũng mời gọi “những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7,12). Thực tế, chúng ta đã nhận được rất nhiều điều tốt lành, cao quý từ lòng quảng đại của người khác, nhưng lại dễ keo kiệt, ích kỷ, không cho anh chị em mình những của tốt của lành, thậm chí gây đau khổ cho họ bằng điều xấu.

 

THỨ TƯ TUẦN 12 TN

2 V 24:8-17; Tv 79:1-2,3-5,8,9; Mt 7:21-29

ĐỪNG KHOE MẼ ... HÃY THI HÀNH LỜI CHÚA

Trên thị trường xã hội ngày nay, chúng ta thấy rõ: có những hàng hóa mẫu mã rất đẹp, và với lời quảng cáo rất hay, nhưng thực chất là hàng giả, hay hàng pha hóa. Và từ đó sự giả dối cũng đã và đang len lỏi vào thế giới con người làm cho con người cũng đã bị tha hóa bản chất của mình “nhân chi sơ tính bản thiện” và sự giả dối này  cũng đã thâm nhập vào giới những người mang danh Kitô hữu.

Và rồi chỉ Thiên Chúa là Đấng tạo dựng muôn loài trong đó có con người, Người biết rất rõ tình trạng của con người ngày nay nói chung và cách riêng người Kitô hữu không những không thật với chính mình mà không thật đối với Thiên Chúa nữa.

Với Tin Mừng thì lại khác, Tin Mừng vốn không chỉ được lắng nghe cho vui tai, mà là để được thực thi; chân lý không chỉ hiểu biết suông, mà để được thực thi; bác ái không chỉ trên môi miệng, nhưng phải được thực thi bằng những việc làm cụ thể. Tựu trung đây cũng là sự nối dài và đòi hỏi của mầu nhiệm Nhập thể trong đời sống đức tin. Thiên Chúa Nhập Thể làm người không chỉ là một chân lý trừu tượng, Ngài đã trở thành con người bằng xương bằng thịt; Ngài không phải là khách bàng quan đứng ngắm nhìn lịch sử nhân loại, Ngài đã nhập cuộc làm một với nhân loại, Ngài không rao giảng Thập Giá như một lý thuyết suông, Ngài đã thực sự vác lấy Thập Giá và đón nhận mọi khổ đau của con người.

Do đó, tuyên xưng Thiên Chúa Nhập Thể làm người không chỉ là tuyên xưng một chân lý, mà thiết yếu là đi vào con đường Nhập Thể của Ngài.Vì thế khi Đức Giêsu rao giảng Tin Mừng Người đã kêu gọi con người cộng tác với Người để mở rộng Nước Chúa, Đức Giêsu đã cho ta thấy hai điểm tiêu cực để đề phòng đó là: Đừng sống giả hình và đừng khoe khoang (Mt 7,21-29).

“Không phải những ai thưa Lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời cả đâu”. (Mt 7,21). Một lời nói rất khẳng định của Chúa Giêsu cho những người muốn đi theo Chúa làm môn đệ nói chung và cách riêng mỗi người Kitô hữu chúng ta hãy sống đạo thực với cái tâm của mình. Chúa Giêsu muốn điều ta tuyên xưng ngoài miệng phải được phát xuất từ chính nội tâm sâu thẳm của ta. Chắc có lẽ mỗi người chúng ta cũng đã thường xuyên kêu lên “Lạy Chúa, lạy Chúa tôi” nhưng có phải là thực từ tâm không? hay chỉ là một thói quen tôi đã đọc đi đọc lại mà thôi, đang khi Chúa muốn chúng ta hãy nhìn nhận ra và nghe thấu những tiếng kêu van của những người anh chị em đang gặp cảnh màn trời chiếu đất, những người tàn tật, những người đau khổ, những người hành khất ven đường đang kêu van xin sự giúp đỡ của ta, mà ta làm ngơ không để ý và không nhìn nhận họ là hiện thân của Giêsu. “vì khi Ta đói các ngươi đã cho Ta ăn… Ta khát cho uống …Và mỗi khi anh em làm như vậy là đã làm cho chính Chúa đó” (Mt 25, 31-46)

Chúa Giêsu là hiện thân của Chúa Cha. Người chính là Đường là Sự Thật, nên con người dù có mặc lốt áo giáp gì để bảo vệ mình, và bảo vệ danh Kitô hữu của mình mà không sống đúng theo giới luật yêu thương của Chúa đã dạy thì cũng kể bằng không không vậy. “yêu  mến Thiên Chúa là tuân giữ  các điều răn của Người” (1Ga 5, 3). Giới luật của Chúa được tóm gọn qua hai giới răn: Mến Chúa và Yêu người (Mt 22, 43-40). Đây là giới răn quan trọng nhất. Ai chu toàn trọn vẹn được những giới luật này thì Thiên Chúa sẽ chúc phúc và được Chúa Giê su ví như là người khôn ngoan xây nhà trên đá (Mt 7,24).

Và rõ rằng đây là giới luật mà ai trong chúng ta cũng đã thuộc lòng, vì đã được nghe từ xa xưa, nhưng thử hỏi đã mấy ai sống và thực hành Lời Chúa dạy này theo đúng ý Chúa? Chính vì thế mà Chúa Giê su khi tuyển chọn những môn đệ, hay nói đúng hơn người khuyên dạy mỗi người Ki tô hữu hãy luôn sống chân chính, từ suy nghĩ, lời nói đến hành động đều nằm gọn trong những giới luật Chúa truyền ban, để mỗi khi chúng ta thân thưa lên cùng Chúa “Lạy Chúa, lạy Chúa” chúng ta không phải  thẹn thùng xấu hổ với lương tâm vì lời kêu van này trở thành một lời cầu nguyện phát xuất từ chính thâm tâm của ta, khi ta sống trọn tình vẹn nghĩa vối tha nhân sẵn sàng chia sẻ, và nâng đỡ những ai cần ta giúp đỡ.

Đừng khoe khoang công đức của ta. Qua câu Lời Chúa của thánh Mt 7,22-23, Chúa Giêsu đã nặng lời quở trách những ai sống giả hình hay nói đúng hơn, sống phô trương công đức của mình (Tôi làm được điều này, việc nọ, tôi đóng góp công của vào nhà Chúa nhiều, tôi tham gia nhiều hội đoàn, đọc nhiều kinh trong ngày v.v.). những việc đó nếu chúng ta không làm vì vinh danh Chúa, không làm vì lòng mến Chúa, không làm vì mục đích thánh thiện, thì kể như không có giá trị gì! Vì chúng ta chỉ làm với dáng vẻ bề ngoài, khoe khoang công quả như những người rao hàng quảng cáo với những nhãn hiệu mẫu mã, đẹp, nhưng thực chất chỉ là đồ giả.

Chúa Giêsu cảnh cáo và Người rất ghét những người sống giả dối được ví như mồ mả tô vôi đẹp bên ngoài nhưng bên trong toàn là những thứ ô uế (Mt 23, 27-28). Chúa Giê su là Sự Thật, Người muốn cho những người theo làm môn đệ Người phải nhận ra Chúa là một thầy dạy gương mẫu, để chúng ta bước theo Lời Người, vì Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi.

Hơn nữa Chúa Giêsu khi Người rao giảng, Người rao giảng những gì Người đã sống và sống thực hành Lời Người giảng. Chung cuộc của ngày thẩm phán, Thiên Chúa sẽ nhìn tận căn cuộc đời của mỗi người, lúc đó cuộc đời ta như là một cuốn sách mở ra và phơi bày trước mặt Thiên Chúa về những thành công, những thất bại và những gì chúng ta đã thực hiện khi còn sống ở trần gian.

Thiên Chúa không đòi hỏi ta đã làm những công việc gì hay tham gia những hội đoàn nào? Mà Người chỉ hỏi ta đã sống Đức Ái trọn vẹn chưa? Có làm chứng nhân cho Chúa không? có sống tình huynh đệ với anh em không hay là ta chỉ như thanh la inh ỏi hoặc như chũm chọe vang rền mà thôi. Mà không có một chút nội tâm của lòng mến nào. Chúa mời gọi người môn đệ chân chính hãy tuân giữ và thực hành Lời Chúa một cách thiết thực, vì ai thi hành Lời Chúa dạy thì được Chúa ví như là người khôn ngoan xây nhà trên đá, xây dựng đời mình trên nề tảng đức tin vững chắc, dù cuộc sống có gặp phong ba bão táp thì người thực hiện Lời Chúa sẽ không sờn lòng nản chí, vẫn một lòng tin tưởng phó thác vào Chúa, và người thực hiện Lời Chúa sẽ được Chúa tuyển chọn vào đại gia đình của Chúa, được Chúa gọi là Cha là mẹ là anh chị em của Chúa (Mt 13, 46-50).

Điều đặc biệt chúng ta cần lưu ý và suy niệm ở đây đó là "thi hành ý muốn của Chúa Cha - Đấng ngự trên trời” chứ không phải là thi hành theo ý riêng của mình. Vì có người sẽ nói "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?” Họ có làm đó chứ, không chỉ nhân danh họ mà họ còn nhân danh Chúa. Tốt đó chứ, đối với người đời thì họ đạo đức đó chứ. Họ đã có thể trừ quỷ, làm nhiều phép lạ…

Những ai nghe và giữ Lời Chúa là người khôn ngoan xây dựng đời mình vững chắc trước những cơn sóng dữ. Đức Bênêđictô XVI nhận định rằng, đức tin Kitô hữu hôm nay như con thuyền đang bị sóng đánh tư bề; những làn sóng từ chủ nghĩa vô thần đến chủ nghĩa tự do, từ tự do phóng túng đến tôn giáo hỗn độn, hòng vùi dập đức tin và số mệnh Kitô hữu. Trước những cơn sóng dữ này, nghe lời Chúa và thực hành lời Chúa dạy là khôn ngoan hơn cả, vì bấy giờ, nền tảng cho cuộc đời Kitô hữu là chính Chúa Giêsu, Tảng Đá góc tường của đời Kitô hữu.

Nhiều người vẫn đi lễ, đọc kinh, tham gia hội đoàn, làm một số việc từ thiện và tưởng như thế là đủ để kiếm một tấm vé vào Nước Trời. Nếu chúng ta làm những việc đó mà không phải để “thi hành ý muốn của Chúa Cha, Đấng ngự trên trời” thì ắt là có ngày sẽ phải nghe Chúa nói: “Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta” (c. 23).

Tin Mừng phải được thể hiện trước tiên qua cuộc sống của người rao giảng Tin Mừng, đó là đòi hỏi cơ bản nhất mà Chúa Giêsu không ngừng nhắc nhở cho các môn đệ. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nêu bật những đòi hỏi ấy qua dụ ngôn hai ngôi nhà: ngôi nhà xây trên đá thì vững chắc, dù mưa sa bão táp cũng không thể làm lay chuyển, đó là hình ảnh người môn đệ đích thực của Chúa Giêsu, họ không chỉ lắng nghe lời Ngài, mà còn đem áp dụng vào cuộc sống. Ngôi nhà xây trên cát, đó là hình ảnh của những người nghe Lời Chúa, nhưng không đem ra thực hành.

 

Thứ tư tuần XII

2 V 22:8-13; Tv 119:33,34,35,36,37,40; Mt 7:15-20

TRÁNH LỐI SỐNG GIẢ

Ta đang sống trong thời khoa học kỹ thuật tiến bộ, máy móc tinh vi là những phương tiện làm cho đời sống chúng ta được tốt đẹp, nhưng có  người lại dùng máy móc kỹ thuật tiến bộ ấy mà làm ra những hàng giả tạo, trông thì đẹp mắt mà sử dụng thì mau hư, có khi sinh ra độc hại cho chúng ta nữa. Người ta rất sợ hàng giả, thức ăn giả tạo.

Về lãnh vực tôn giáo, cũng có những tín đồ sống đạo thật, nhưng cũng không thiếu tín đồ sống đạo giả dối hình thức, gây nên nhiều nguy hiểm cho người khác. Vì thế, Chúa Giêsu nói lời cảnh giác chúng ta “anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả”, và Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta phương cách để nhận ra một kitô hữu, một môn đệ, một ngôn sứ giả hay thật.

Một kitô hữu chính danh, một môn đệ đích thực, một ngôn sứ chính hiệu là người biết làm việc và sống trong đời sống cụ thể thường ngày phù hợp với giáo huấn Tin Mừng của Đức Giêsu, đó là tiêu chuẩn, là thước đo mà Chúa Giêsu đưa ra để giúp chúng ta tự kiểm và nhận định về người khác.

Ngay trong những ngày sơ khai của Giáo Hội, các tín hữu đã phải đối đầu với nạn ngôn sứ giả; thậm chí có kẻ còn mạo xưng là Kitô. Thánh Phêrô nói: “Trong dân cũng đã từng xuất hiện những ngôn sứ giả; giữa anh em cũng vậy, sẽ có những thầy dạy giả hiệu lén lút đưa vào những tà thuyết dẫn tới diệt vong” (2Pr 2,1).

Để phân biệt, nhận biết đâu là ngôn sứ giả, Chúa Giêsu đưa ra một kinh nghiệm thực tế trong cuộc sống: cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt. Thật vậy, hoa trái tức là những công việc của một người là dấu hiệu rõ ràng nhất để nhận biết người đó là ngôn sứ đích thực của Chúa hay chỉ là ngôn sứ giả.

Trang Tin Mừng  hôm nay dạy cách nhận định khách quan. Nhưng trước hết ta cần lưu ý rằng lời dạy này không mâu thuẫn với lời dạy hôm thứ hai là đừng xét đoán người khác. Đoán xét là chỉ mới thấy một số hiện tượng đã vội kết luận và lên án. Còn nhận định khách quan là căn cứ vào kết quả để biết con người. Đoán xét dễ chủ quan, còn nhận định thì phải khách quan. Đoán xét đưa đến việc lên án người khác, còn nhận định dễ đưa tới suy nghĩ và chọn lựa cho chính mình. Trong cuộc sống ta không nên xét đoán nhưng phải khôn ngoan nhận định một cách khách quan.

Hãy xem quả thì biết cây, đó là luật nhân quả, trong đó có sự tương quan giữa con người với cuộc sống của họ, cũng như tương quan giữa cây và trái cây. Cây tốt thì sinh trái tốt, cây xấu thì sinh trái xấu. Vậy hãy xem cuộc sống và việc làm cụ thể của một kitô hữu, một môn đệ hay một ngôn sứ sinh được những hoa quả nào thì chúng ta biết họ là ai. Tính chất của hoa quả tùy thuộc vào tính chất của cây, và cây lành hay cây xấu là do bản chất tự nhiên không thay đổi được.

Chúa Giêsu đã tỏ ra cảm thông và tha thứ cho những yếu hèn và vấp ngã của con người, nhưng Ngài không hề dung chấp cho thái độ giả hình của những người Biệt phái. Ngài gọi họ là những tiên tri giả, những người đội lốt chiên, nhưng bên trong là lòng dạ của sói dữ; họ trưng bày một bộ mặt đạo đức, nhưng cuộc sống của họ gồm toàn những hành động xấu xa.

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đề cao cảnh giác trước thói giả hình. Bao lâu giữa niềm tin và cuộc sống còn có khoảng cách, thì bấy lâu chúng ta vẫn còn là những kẻ giả hình: trên cây đức tin của chúng ta chỉ có những quả xấu; cuộc sống chỉ còn là những phản từ, hay nói theo ngôn ngữ quen thuộc; chúng ta làm ố danh sự đạo.

Nhưng với con người thì khác, con người tốt hay xấu không phải do bản tính mà  là do cách sống nên có thể thay đổi được. Một lời khác Chúa Giêsu  tuyên phán: “Cây nào không sinh quả tốt thì bị chặt đi và quăng vào lửa”. Lời này có giá trị là một lời cảnh giác, thúc bách chúng ta xét lại chính mình, và mau mắn cải thiện đời sống, lo sao cho đời sống và việc làm cụ thể của chúng ta sinh được những hoa trái tốt cho sự sống đời đời của chúng ta.

Một điều khác Chúa Giêsu căn dặn chúng ta là: “Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả”. Coi chừng chính mình và coi chừng người khác. Trong Giáo Hội không thiếu những con sói nhưng đội lốt chiên, đó là những người sống đạo giả dối, sống đạo theo hình thức mà không có ý hướng ngay lành, siêu nhiên từ nội tâm. Chính hình thức bên ngoài ấy mê hoặc chúng ta, làm cho chúng ta dễ nhầm lẫn, có khi đến mức thần tượng hóa và dễ thuận theo con đường đối nghịch với giáo huấn của Đức Kitô, bằng những lối ngụy biện rất sắc bén tinh vi lôi kéo niềm tin của chúng ta, để rồi giả mà chúng ta thấy là thật, đưa chúng ta đến những tai hại nguy hiểm cho vận mạng đời đời của chúng ta.

Với trang Tin Mừng hôm nay, chúng ta đừng bao giờ lợi dụng lòng đạo đức của chúng ta để lừa dối người khác, để trục lợi cho mình. Chúng ta không nên làm viêc đạo đức giả hình, vụ hình thức, những việc lành chúng ta làm bên ngoài phải trung thực với ý hướng ngay lành siêu nhiên tự nội tâm.

Một cuộc sống thánh thiện lúc nào cũng có âm hưởng trên người khác, một chứng tá đức tin luôn có sức đánh động người khác. Ðó có thể là ý tưởng nổi bật trong Tin Mừng hôm nay. Chúa Giêsu nói đến trái tốt từ cây tốt. Qua kiểu nói này, hẳn Chúa Giêsu muốn nói đến những thể hiện đích thực của lòng tin: một đức tin chân thật luôn đi đôi với việc làm cụ thể. Chính Ngài đã nói: "Không phải những ai đã nói: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời, mà chỉ những ai thực hành ý Chúa mới được vào mà thôi". Thánh Giacôbê đã lấy lại giáo huấn này khi ngài viết: "Ðức tin không có việc làm là đức tin chết tận gốc rễ".

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đề cao cảnh giác trước thói giả hình. Bao lâu giữa niềm tin và cuộc sống còn có khoảng cách, thì bấy lâu chúng ta vẫn còn là những kẻ giả hình; trên cây đức tin của chúng ta chỉ có những quả xấu; cuộc sống chỉ còn là những phản từ, hay nói theo ngôn ngữ quen thuộc: chúng ta làm ố danh sự đạo.

Chúng ta biết cây độc không thể trở nên cây lành được, nhưng với con người thì không phải như thế, nếu chúng ta là một kitô hữu đã bị biến chất, không còn là một kitô hữu chính danh, thì chúng ta có thể trở nên một kitô hữu đích thực được, nếu chúng ta nhanh chóng hoán cải chính mình, hòa giải với Thiên Chúa và với mọi người, thì mọi việc lành chúng ta làm mới có giá trị cho sự sống đời đời của chúng ta. Vì cây tốt mới sinh được trái tốt, một kitô hữu tốt mới có những việc bác ái, yêu thương, hiệp nhất với mọi người, làm ích cho mọi người và đem lại sự sống đời đời cho chúng ta.

Là môn đệ Chúa Kitô chúng ta dám lội ngược dòng, dám nói “không” với điều xấu, dù điều xấu đó có đông người theo; vì “cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7,14).

THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLO

SỐNG VÀ CHẾT CHO ĐỨC KITÔ

Hôm nay chúng ta mừng kính thánh Phêrô và Phaolô tông đồ. Các ngài là cột trụ của Hội Thánh. Các ngài là những viên đá tảng, đá quý để xây dựng toà nhà Hội thánh vững chắc và toả rạng cho khắp năm châu. Các ngài là cột trụ của niềm tin cho toàn thể Hội thánh. Một niềm tin không gì có thể lay chuyển đến nỗi "ma quỷ cũng không thắng nổi". Một đức tin can trường đến nỗi dầu có chịu nhiều thiệt thòi, dầu có phải trải qua những gian truân cùng khốn: tù đầy, đói rét hay phải bôn ba rầy đây mau đó, phải vượt qua biết bao phong ba bão tố, các ngài vẫn vui lòng chấp nhận vì được thông phần đau khổ với Thầy Giê-su.

Với nhiều khác biệt, hai thánh Phêrô và Phaolô tông đồ đã được liên kết lại để bổ túc cho nhau, làm cho nền móng của Giáo Hội được bền vững. Động lực liên kết các ngài lại với nhau chính là việc mở rộng Nước Chúa. Cái nhìn trên đây giúp chúng ta thêm tin tưởng hơn vào Chúa trong việc bảo vệ, xây dựng và phát triển Giáo Hội. Đúng thế, Giáo Hội là hình ảnh của sự quy tụ hiệp thông và liên kết. Giáo Hội là khí cụ kết hợp với Chúa và với nhân loại.

Và ta thấy trong Giáo Hội có yếu tố Thiên Chúa và cũng có yếu tố nhân loại. Có người nhân đức và cũng có kẻ tội lỗi. Có phẩm trật và cũng có thành phần dân Thiên Chúa. Giáo Hội vừa trung thành với truyền thống vừa phải đổi mới cho thích hợp với lịch sử từng thời và từng nơi. Giáo Hội vừa củng cố đức tin cho người có đạo lại vừa truyền bá đức tin cho người ngoại đạo.

Này Phêrô, Thầy bảo cho con biết: Phêrô nghĩa là đá; trên đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực hỏa ngục sẽ không thắng nổi.Thầy sẽ trao cho con chìa khóa Nước Trời; điều gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc... (Mt 16, 13-19) 

Ơn gọi của Phêrô cũng giống như các môn đồ khác. Ngài thuộc nhóm bốn môn đồ đầu tiên. Phêrô và Anrê trước kia là môn đồ của Gioan Tẩy giả. Điều đặc biệt với Phêrô, đó là: ngài là người duy nhất được Chúa Giêsu đổi tên từ Simon ra Phêrô. Theo truyền thống Do thái, điều đó có ý nghĩa là ngài được trao cho một sứ mạng đặc biệt (Mt 16, 16).

Trong khi đó, Phaolô lại được gọi cách bất ngờ, mạnh mẻ. Chúa Giêsu dùng quyền mà khuất phục Phaolô, biến ông từ kẻ chống đối dữ dội, thành tông đồ nhiệt thành. Trang Tin Mừng hôm nay chỉ đề cập đến Phêrô, nhưng chắc chắn không làm lu mờ địa vị của Phaolô.

Hai tấm gương sáng đặc biệt trong việc nhận biết và biến đổi nên con Chúa là thánh Phêrô và Phaolô mừng kính ngày hôm nay. Cả hai vị đã sống nhiệm hiệp bên Chúa. Thánh Phêrô nhận ra đúng thân thế, đúng vai trò và quyền năng của Thầy nhờ ơn trên soi sáng: Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, ngài đã được Chúa Giêsu trao cho quyền chìa khóa trong Giáo hội mà Người thành lập. Thánh Phaolô là người bắt bớ đạo Chúa, cũng nhờ ơn Chúa soi sáng mà thay đổI hoàn toàn: từ chỗ chống đối sang làm tông đồ nhiệt thành. 

Cả hai vị sau khi nhận biết Chúa Giêsu là ai đã thay đổi hẳn cuộc đời 180 độ. Phêrô từ một người dân chày dốt nát, không được giới luật sĩ trọng vọng, đã trở nên thông sáng, biết lãnh đạo, có khả năng làm người đứng đầu Giáo hội và lãnh đạo dân riêng Chúa. Phaolô từ một người bắt đạo trở nên tông đồ nhiệt thành thiếp lập được bao nhiêu giáo đoàn mới, đem về cho Chúa biết bao tín hữu. Hai vị tông đồ đúng là cột trụ của Giáo hội, là những người đại diện cho Chúa ở trần gian. Ngày nay, Giáo hội có Đức Giáo hoàng là người tiếp nối thánh Phêrô trong cương vị lãnh đạo và có những người tiếp nối thánh Phaolô, nhiệt thành lo cho nước Chúa được lan rộng và đi sâu trong các tâm hồn. 

Nhìn lại "thành tích" quá khứ của 2 vị tông đồ này, chúng ta cảm thấy hơi ngán ngại. Nếu Phêrô chối Đức Giêsu trong cơn nguy khốn và cô đơn tuyệt đỉnh thì Phaolô ở trong tình trạng căng thẳng hơn nhiều. Vì quá nhiệt thành với Do thái giáo, nên Phaolô rất dị ứng với Kitô giáo. Ông muốn tẩy trừ Danh Đức Giêsu Kitô ra khỏi cuộc đời này. Vì thế, ông rất hăng say bắt bớ và giết hại những ai xưng mình là Kitô hữu.

Dù vậy, Chúa vẫn thương ông vì biết ông hành động do không hiểu biết và lầm lạc cách vô tình. Chúa nhìn thấu tâm hồn của ông chứ không theo những gì là bên ngoài. Hơn thế nữa, Ngài còn coi: "người này là lợi khí của Ta". Biến cố Phaolô ngã ngựa trên đường đi Đamas mang nhiều ý nghĩa thâm sâu, nhưng trên hết là biến cố của lòng thương xót Chúa dành cho Phaolô nói riêng và cho con người chúng ta nói chung.

Thánh Phêrô, thủ lãnh các Tông Đồ, con người say mê Chúa Ki-tô, đã xứng đáng nghe lời này : “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy” (Mt 16, 18). Trên tảng đá này, Chúa sẽ xây dựng đức tin mà Phêrô tuyên xưng. Phêrô lấy từ "tảng đá", chứ không phải tảng đá lấy từ Phêrô. Thánh Phaolô là “dụng cụ ưu tuyển” để mang Tin Mừng đến cho các dân tộc. Thánh Phêrô, người đánh cá miền Galilêa, ít học, đã lập gia đình, theo Thầy Giêsu ngay từ buổi đầu sứ vụ, là người sau khi đã vượt qua những ngày đen tối của cuộc Thương Khó của Chúa, sẽ có trách nhiệm củng cố anh em trong đức tin và chăn dắt đoàn chiên của Chúa Kitô (Mt 16, 13-19).

Phaolô sau khi trở lại cũng có một niềm xác tín thâm sâu vào Đức Giêsu. Phaolô đã trả lời câu hỏi "Đức Giêsu là ai" như sau: "Người là Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi sự" (Rm 9,5). Với niềm xác tín ấy, Phaolô đã sống hết mình vì Đức Giêsu Kitô, bất chấp mọi gian nguy khốn khó trong cuộc đời này nhằm cản bước tiến của ông trong việc làm chứng cho Đức Giêsu Kitô. Còn chúng ta thì sao? Đức Giêsu là ai trong cuộc đời của tôi và của bạn? Ngài có ảnh hưởng gì trên cuộc đời của chúng ta không? Câu hỏi ấy dành riêng cho mỗi người chúng ta. Khi nào chúng ta trả lời được Ngài là ai cách xác tín và mạnh mẽ, chúng ta mới có thể sống trọn vẹn cho Ngài mà thôi.

Phaolô, trong hành trình truyền giáo, ngài không ngừng rao giảng Chúa Kitô bị đóng đanh và lôi kéo nhiều nhóm người Á Châu và Âu Châu trở về với Chúa. Sau khi qua Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, ngài đến Roma. Và chính ở đây, ngài được phúc tử đạo để làm chứng cho Chúa Kitô. Chính ngài đã nói lên trong bài đọc thứ hai Thánh lễ hôm nay rằng : “Chúa đã gần gũi tôi và ban sức mạnh cho tôi, để qua tôi, việc rao giảng sứ điệp Tin Mừng được thực hiện và để các dân ngoại được nghe biết đến”. (2Tm 4, 17-18).

Cả hai vị thánh đã chết như Thầy, đã lấy máu mình mà làm chứng: thánh Phêrô bị dẫn đến nơi ông chẳng muốn (Ga 21, 18), chịu đóng đinh chết; thánh Phaolô đã chiến đấu anh dũng cho đến cùng, bị chém đầu; đã đổ máu ra làm lễ tế (2Tm 4, 6). Thánh Phêrô được chôn cất ở chân đồi Vaticano; thánh Phaolô được an táng bên đường Ostiense.

Nguồn ân sủng lớn lao kỳ diệu của Thiên Chúa có thể biến những con người yếu đuối, bất toàn thành đá tảng vững chắc để xây dựng một Hội Thánh luôn vững bền. Thánh Phêrô và Phaolô là hai vị đã minh chứng sống động cho điều kỳ diệu ấy. Hai quá khứ với những vấp phạm, lầm lỗi nhưng lại làm nên những vị tông đồ phục vụ Tin Mừng, đến hy sinh mạng sống và trở thành hai cột trụ của Hội Thánh. “Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy... Nhưng có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng. Và tôi đã thoát khỏi nanh vuốt sư tử. Chúa sẽ còn cho tôi thoát khỏi mọi hành vi hiểm độc, sẽ cứu và đưa tôi vào vương quốc của Người ở trên trời” (2Tm 4, 7-8.17-18).

Mỗi Kitô hữu chúng ta khi lãnh nhận bí tích rửa tội, là lãnh nhận cùng một sứ mạng như hai vị tông đồ cả mà chúng ta kính nhớ hôm nay. Dù chúng ta không có địa vị như các ngài, thánh thiện, tài năng như các ngài; tuy nhiên điều quan trọng Chúa đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta, không phải là ta sẽ làm được điều gì, hơn là chúng ta sẵn sàng sống và chết cho Đức Kitô, như lời Phaolô nói: Tôi không muốn biết điều gì khác ngoài Đức Kitô.

 

Thứ Hai Tuần XII Thường Niên 2021.

St 12,1-9; Mt 7,1-5. 

ĐỪNG XÉT ĐOÁN

          Là thế tử của hầu tước Ferdinando Gonzaga xứ Castiglione miền bắc nước Ý, thánh Lu-y Gonzaga sinh năm 1668 tại lâu đài của gia đình.

Ngay từ thuở nhỏ, ngài đã ưa thích thinh lặng, khắc khổ, đạo hạnh, ngược hẳn với lối sống hào nhoáng, ồn ào và phóng đãng theo tinh thần thế tục tại các triều đình đương thời. Ngài được mẹ dạy cho biết yêu mến Chúa Giê-su chịu đóng đinh, yêu mến người nghèo, và yêu các linh hồn. Do đó, ngài siêng năng việc đạo và ước ao được đi truyền giáo.

          Năm 15 tuổi, ngài xin vào Dòng Tên, nhưng bị cha tìm đủ cách ngăn cản và bóp nghẹt ơn gọi. Được gửi đến các triều đình để thụ hưởng và vui chơi, nhưng suốt hai năm ngài vẫn kiên quyết theo đuổi ơn gọi. Cuối cùng năm 17 tuổi, ngài nhường quyền thế tử cho người em trai, từ bỏ nếp sống đế vương, vào nhà tập Rô-ma, để trở thành người bạn đường khiêm tốn của Chúa Giê-su.

          Ngài hạnh phúc với cuộc sống đơn giản, nhỏ bé, thiếu thốn để trải qua thời kỳ nhà tập, triết học rồi thần học. Tuy nhiên, năm 1591, một cơn dịch từ vùng quê lan tràn vào thành phố Rô-ma. Ngài tự nguyện đi cứu trợ các nạn nhân và bị lây. Sau 3 tháng chịu cơn dịch hành hạ, ngài qua đời ngày 21.6 năm ấy, khi mới được 23 tuổi. Ngài được đức thánh cha Benedicto XIII phong thánh năm 1726, và 3 năm sau được đặt làm bổn mạng thanh niên công giáo, đặc biệt là sinh viên.

          Trích thư thánh Lu-y Gonzaga gửi cho mẹ

          “Thưa mẹ, con cầu xin cho mẹ hằng được Thánh Thần ban ơn và an ủi. Dĩ nhiên khi nhận được thư mẹ thì con đang sống ở đời này. Nhưng ngay từ bây giờ cũng phải hướng về trời rồi, để ngay khi còn sống trên mặt đất, ta cũng đã ca tụng Chúa muôn đời.

          Đã từ lâu, con hằng ao ước được làm cuộc hành trình với Chúa sớm hơn. Nếu như lời thánh Phaolo nói: “phải khóc với kẻ khóc, vui với người vui”, thì mẹ phải lấy làm vui mừng hoàn toàn khi Chúa vì tốt lành và thương mẹ mà tỏ cho con được thấy hạnh phúc chân thật và chắc chắn không bao giờ sợ mất nữa”.

          Tin Mừng hôm nay khởi sự những câu ở phần đầu chương 7: Đừng xét đoán. Lời nhắn nhủ này này nhấn mạnh về lời  nói nhiều hơn hành động. “Anh em đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán”. Ngay câu mở đầu, thánh sử Matthêu đã nêu bật nguyên nhân dẫn đến việc  chúng ta bị xét đoán là do chúng ta đã xét đoán. Chúng ta dễ nói lên ý kiến, nhận định chủ quan về người khác, mặc dù chúng ta chẳng có trách nhiệm để làm việc đó. Nhất là khi chúng ta có ảo tưởng cho rằng mình đạo đức hơn người, có khả năng hơn người, có quyền hơn người... là chúng ta dễ dàng phê phán không thương tiếc. Thậm chí có người nói cản. Nói bừa để tỏ ra ta đây hiểu biết lề luật, nắm vững đường lối... mà châm chọc, chê bai người khác. Đôi khi có người cũng cho rằng: đó là vì tinh thần bác ái, muốn người khác nên tốt nhưng sợ không dám nói thẳng. Về nhận xét của mình...mà sẵn sàng rêu rao cho mọi người biết về những sai lầm, khiếm khuyết của người khác... để đề cao mình hơn.

          Chúa Giêsu nhấn mạnh: “Vì anh em xét đoán thế nào thì...cũng sẽ bị xét đoán như vậy....Đong đấu nào...sẽ được đong bằng đấu ấy” (c.2). Ngài khẳng định về cách đối xử của chúng ta với anh em đồng loại sẽ được trả lời trong ngày sau hết, tại có khi sẽ xảy ra ngay tại đời này. Vì sự “đạo đức nửa vời” của chúng ta mà chúng ta tự lên mặt dạy dỗ người khác.

          Đây là thái độ tự mãn, tự cao, tự đại. Nó đối nghịch với nhân đức, hiền lành, khiêm nhường. Nhịn nhục. Chúa Giêsu đề cao cảnh giác về chuyện này. Ngài không cấm chúng ta có những nhận xét khách quan, những nhận xét phân biệt phải trái, sai quấy. Nhưng khi chúng ta kết tội và lên án lương tâm người anh em, là chúng ta xâm phạm lãnh vực dành riêng cho Thiên Chúa. Trong đời sống cộng đồng, điều này dễ xảy ra khi chúng ta có một chút gì hơn anh chị em mình: chức tước trong giáo xứ, danh dự trong khu xóm... lúc ấy chúng ta dễ dàng lên “bài giảng” với những bài “đạo đức nửa mùa” theo chủ quan của chúng ta. Chúng ta tự coi mình là “cái rốn vũ trụ” và cho rằng và mọi lời nói và việc làm của chúng ta là hợp lý. Là phải đạo.

          Trong (c.3 và c. 4) Chúa Giêsu nhắc chúng ta về thận phận của chính mình tại sao chúng ta quá chú tâm đến “ cọng rơm trong mắt của người anh em mà quên đi mình đang vác một cái xà”. Cái xà ấy đã che phủ con mắt đức tin của chúng ta, và chúng ta chỉ còn soi mói cái xấu của người anh em mà không biết là: người khi lên án, xét đoán người khác là chính chúng ta đang tự lên án, kết tội mình. Ở đây, Chúa Giêsu nhắc chúng ta phải dè dặt khi xét đoán người khác. Hãy nhớ lại thân phận bụi tro của mình cũng dầy những khuyết điểm tội lỗi... mà bao dung tha thứ những lỗi lầm của người anh em. Có thế, chúng ta mới đấm ngực ăn năn thú nhận và không lên mặt hợm hĩnh khi góp ý xây dựng người anh em, không coi thường, khinh khi người khác mà biết đón nhận nhau trong đức ái.

          Trong câu cuối cùng, Chúa Giêsu gợi những kẻ xét đoán người khác là: Đạo đức giả Ngài ra lệnh: chúng ta hãy lấy cái xà ra trước, rồi thấy rõ mà lấy cọng rơm cho người anh em ( c.5). Nghĩa là chúng ta phải thực hành điều mình hiểu và điều mình nói, thì mới xây dựng người khác trên con đường nhân đức được.

          Đoán xét là hành vi dẫn đến những kết luận được rút ra từ sự ước lượng phỏng chừng. Cho nên, kết quả của nó không thể luôn luôn và hoàn toàn chính xác. Hơn nữa, trong khi đoán xét, chúng ta hay gặp những yếu tố có thể chi phối trí óc chúng ta như chủ quan, nông nổi,  có thể dẫn đến những sai lầm tai hại.

           Chúa Giêsu dạy rằng: "Các con đừng đoán xét để khỏi bị đoán xét. Các con đoán xét thể nào thì các con cũng bị đoán xét như vậy. Các con dùng đấu nào mà đong, thì cũng sẽ đong lại cho các con bằng đấu ấy" (Mt 7,1-2). Đây là một lệnh truyền và lệnh truyền này còn có nghĩa là “đừng bao giờ đoán xét không tốt cho người khác”. Việc đoán xét này là công việc của Thiên Chúa, Đấng thấu suốt mọi sự, nên không ai được thay thế cho Thiên Chúa, vì chúng ta chỉ là phàm nhân. 

          Do vậy, Chúa Giêsu đã khiển trách: "Sao ngươi thấy cái rác trong mắt anh em, mà không thấy cái đà trong mắt ngươi? Hoặc sao ngươi bảo anh em: "Ðể tôi lấy cái rác ra khỏi mắt anh, và này: cái đà đang ở trong mắt ngươi" (Mt 7,3-4).

          Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta biết nắm lấy hạnh phúc thật để không bao giờ tùy tiện đoán xét ai, dù chỉ là những đoán xét trong tư tưởng mình. Và nếu trong cuộc sống, khi trách nhiệm buộc chúng ta phải làm nhiệm vụ xét xử thì hãy nhớ rằng, việc đoán xét này cần được thể hiện bằng sự khoan hồng và yêu thương của Chúa.

Huệ Minh 2021

Thứ Ba Tuần XII Thường Niên 2021.

St 13,2.5-18; Mt 7,6.12-14. 

CỬA HẸP

          “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi; nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông.” Câu nói của Nguyễn Bá Học có thể giúp minh hoạ cho Lời Chúa hôm nay. Con đường bị sông núi cản ngăn chẳng khác chi con đường chật hẹp, muốn vượt qua ta phải oằn mình, lách mình hoặc tìm phương thế vượt chướng ngại vật. Đó là con đường chẳng mấy ai muốn đi vì nó đòi ta phải lao nhọc, khép mình vào kỷ luật nghiêm ngặt, mà lắm khi không thấy kết quả tức thời. Đức Giê-su dạy ta đi con đường của Ngài mới có thể đạt đến sự sống đời đời. Đó là đường khổ giá mà Chúa cũng trải qua rồi mới được vinh quang phục sinh. Ngược lại, chọn “cửa rộng và đường thênh thang” là tự mình đi vào chỗ đến diệt vong.

          Cánh cửa hẹp và con đường chật mà Chúa Giêsu nói đến là con đường “từ bỏ”, “vác thập giá mình mà đi theo Chúa,” con đường Ngài đã đi và sẽ dẫn ta đến Chúa Cha, đến sự sống; thế mà ít người muốn đi con đường này. Trái lại đi trên đường thênh thang con đường ăn chơi phóng túng thì thoải mái thật, nhưng lại dẫn đến diệt vong; đường này lại có quá nhiều người muốn đi. Lời cảnh báo “khó nghe” này của Chúa vẫn có giá trị cho mọi thời đại.

          Trước trào lưu hưởng thụ và tục hoá của thế giới hôm nay, việc từ bỏ “cánh cửa rộng” và “con đường thênh thang” để bước qua “cánh cửa hẹp và đi trên “con đường chật” quả là một thách thức không nhỏ đối với mỗi Kitô hữu, nhất là các bạn trẻ. Nhưng hãy biết rằng con đường “sống” thì chỉ có một mà thôi, đó là “con đường Giêsu”, con đường Chúa đã đi qua! Hãy xác định con đường ta sắp đi để có thể bước tới hay chọn con đường khác. Xem lại con đường ta đang đi sẽ dẫn ta về đâu. Đối với Chúa không khi nào là quá trễ cho ta trở lại với Ngài.

          Tin Mừng hôm nay là những lời dạy của Chúa Giêsu về quy luật sống. Khi tuân thủ những điều đó sẽ đem lại cho chúng ta bình an và hạnh phúc đời này cũng như đời sau.

          Trong thực tế, con đường chật hẹp là con đường chẳng mấy ai muốn đi vì nó đòi chúng ta phải vất vả, đưa mình vào khuôn khổ kỷ, mà đôi khi không thấy kết quả tức thời. Đức Giêsu đã dạy chúng ta hãy đi theo con đường của Ngài thì chúng ta mới có thể đạt đến sự sống đời đời. Đó là đường khổ giá mà Chúa cũng trải qua rồi mới được vinh quang phục sinh. Ngược lại, nếu chọn “cửa rộng và đường thênh thang” là tự mình đi vào chỗ đến diệt vong.

          Nếu chấp nhận đi vào “cửa hẹp” thì chúng ta phải thực hiện: khom người lại thì chui mới lọt, nghĩa là phải hạ mình xuống, sống khiêm tốn chứ không phải tự cao tự đại;  tạo cho mình nhỏ lại thì mới chui qua được, nghĩa là biết trở nên con người nhỏ bé đơn sơ;  bỏ bớt hành lý cồng kềnh thì mới dễ đi qua, nghĩa là bỏ bớt những gì làm ta vướng bận và lấn át chúng ta…

          Cửa rộng và cửa hẹp mà Chúa Giêsu muốn nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay là sự tự do của con người, con người có thể chọn lựa giữa sự thiện và sự ác, giữa sự chân thật và sự giả dối… Để qua được cửa hẹp, chúng ta phải bỏ mình, kiềm chế bản thân, hy sinh, nổ lực… để có thể đưa chúng ta đến với sự sống là chính Đức Kitô. Chính Ngài cũng đã chọn cho mình con đường hẹp để đến với Chúa Cha, con đường của khổ giá đã dẫn Ngài đến vinh quang phục sinh. Và ngài cũng muốn mỗi người chúng ta đi trên con đường vinh quang ấy. Cửa hẹp là hình ảnh dùng để diễn tả những khó khăn trước mắt phải cô gắng vượt qua; rồi sau đó mới đạt được kết quả tốt đẹp.

          Chúa Giêsu dùng hình ảnh “cửa hẹp” và “đường chật” (Mt 7, 13-14) trong Tin Mừng hôm nay để dạy các tông đồ cần phải biết từ bỏ những ham muốn, những quyến rũ thoải mái, bất chính của bản thân mình. Thay vào đó là hãy lựa chọn những hy sinh, hãm mình, kiêng khem tiện nghi vật chất, biết từ bỏ ý riêng của bản thân, sẵn sàng vâng theo thánh ý Chúa, chấp nhận chương trình cứu độ bằng khổ nạn thập giá để rồi nhờ cuộc phục sinh của Đức Kitô đưa các ông đến sự sống đời đời.

          Thiên đường có lối vào, nhưng không ai tới. Ý muốn nói: Sự chính nghĩa, điều đẹp đẽ, thiên hạ không màng.

          Địa ngục không cửa, nhưng lại có người tìm đến. Cảnh báo: Điều xấu xa, tội lỗi thì mọi người lại thích làm.

          Cũng vậy, đường dẫn tới Thiên đường thì chật, cửa vào thì hẹp; ít người đi. Ngược lại, đường đưa đến chỗ diệt vong thì rộng thênh thang, cửa vào thì rộng; nhiều người thích (Mt 7,14).

          Con người ngày nay thích an nhàn hưởng thụ hơn là cố gắng hướng thiện, sống thánh; thích thỏa mãn bản năng của thân xác càng nhiều càng tốt; muốn hưởng thụ tiện nghi vật chất tối đa. Chỉ biết tôn thờ thân xác, của cải vật chất và xem thường đời sống tâm linh của chính mình…

          Vô hình chung con người trở nên nô lệ cho thân xác, và vật chất; quên mất phẩm giá linh thánh của mình. Quên mất căn tính của mình là con của Đấng Tối Cao, được chung hưởng hạnh phúc, và có bổn phận phụng sự Người trong chân lý.

          Con người ta đã quên nhớ con đường bên trong, con đường nội tâm mới thực sự dẫn con người trở về với con người thật của mình. Để dù muốn hay không, cũng phải nhận chân thực tại tự thân: Nhìn lại con người thật của mình với những hệ lụy đúng sai mà nhận ra thiện ác…

          Trong bối cảnh toàn cầu hoá hôm nay, sự thành đạt, thịnh vượng, và phát triển được coi là những tiêu chí của thành công. Phải chăng “con đường chật” phải qua “cửa hẹp” của Đức Kitô đã lỗi thời, chẳng còn ai muốn đi ?

          Chúa Giêsu cho ta thấy : con đường dễ dãi là con đường dẫn đến hư mất, đó là định luật chung của cuộc sống. "Hãy vào qua cửa hẹp, vì cửa rộng và đường rộng đưa đến diệt vong". Thái độ hững hờ không thể đi đôi với những đòi hỏi của Tin Mừng; cuộc sống dễ dãi, buông thả không có chỗ đứng trong nếp sống của những người theo Chúa. Ðã một thời cùng ăn, cùng uống, cùng nghe giảng dạy, chưa phải là giấy thông hành để vào Nước Trời: "Ai nghe những lời Ta dạy mà không đem ra thực hành, thì ví được như người ngu xây nhà trên cát". Nếu viện lý do mình là con dòng cháu giống, cũng chưa phải là lý do để được thâu nhận vào Nước Trời.

Huệ Minh 2021

 

Thứ Tư Tuần XII Thường Niên. (23-6-21)

St 15,1-12.17-18 ; Mt 7,15-20.

Lễ Vọng gioan tẩy giả Gr 1,4-10; 1Pr 1,8-12; Lc 1,5-17.

Tốt - xấu

          Tin Mừng hôm nay là một phần của bài giảng về đạo lý mà Thánh sử Mat-thêu đã thâu tóm, tổng hợp lại và đặt ngay sau bài giảng Trên Núi như là những hành vi đạo đức mà một người môn đệ của Chúa Giêsu phải có. “Cây nào trái ấy” là chủ đề của đoạn Tin Mừng này và cũng là lời Chúa Giêsu răn dạy các môn đệ phải cẩn trọng và chú ý.

          Câu 15 mở đầu với lời cảnh báo “Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả…”. Chúa Giêsu báo động là có các ngôn sứ giả. Chúng ta biết trong Cựu ước, các ngôn sứ là những người được Thiên Chúa sai đến để nói Lời Chúa với dân, chẳng hạn như ngôn sứ Isaia, Jeremia…Còn đây là những người mà Chúa Giêsu nói rõ: “Họ đội lốt chiên… bên trong là sói dữ tham mồi” (c.15b). Bề ngoài trông có vẻ họ hiền lành, ngoan ngoãn, đạo đức, thánh thiện, nhưng đó chỉ là cái vỏ mà Chúa Giêsu có lần tố cáo “là những mả tô vôi”; còn lòng dạ họ như những con sói chực vồ, nuốt lấy con mồi.

          Đó là những kẻ nhân danh điều tốt, sự lành mà giảng dạy điều xấu, sự ác. Những ngôn sứ giả ấy ở ngay trong lòng Giáo Hội. Trước những con người như thế, người môn đệ cần biết phân biệt đâu là thật, đâu là giả. Người môn đệ ấy không để lòng mình xuôi theo những ngụy biện giả dối.

          Bằng cách nào? Chúa Giêsu nói tiếp: “Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai”. Vậy tiêu chuẩn để phân định là xem hành động của họ, nhìn vào cuộc sống của họ có phục vụ cho Đức Ki-tô không? Đời sống của họ có chọn con đường Thập Giá của Đức Ki-tô hay theo ý riêng, sở thích của họ.

          Chúa Giêsu khẳng định rõ hơn: “Ở bụi gai, không có nho mà hái? Trên cây găng không có vả mà bẻ?” (c.16). Và Ngài kết luận: “Cây tốt sinh trái tốt và ngược lại cây xấu sinh trái xấu” (c.17). Đây là định luật tất nhiên. Bởi thế nhà nông luôn vun xới, chăm bón cho cây mình xanh tươi để đạt kết quả tốt nhất. Còn những cây mọc nơi hoang địa thiếu nước, vắng người chăm bón… thì làm sao có hoa thơm trái ngọt được.

          Và Chúa Giêsu nói thêm: “Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh trái tốt” (c.18). Đối với cây cối tự nhiên là thế. Xấu, tốt của hạt giống, cây trồng không thể thay đổi được. Nhưng đối với con người tính xấu, tốt không do bản tính vì ông cha ta có câu “Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Ngay từ ban đầu Thiên Chúa dựng nên mọi sự đều tốt lành, nhưng vì lạm dụng tự do, con người đã sa ngã và phạm tội chống lại ý Thiên Chúa. Vì thế, tốt xấu là tùy thuộc vào trách nhiệm của mỗi người và có thể đổi thay.

          Câu 19 như một lời quyết định trong ngày chung thẩm, cũng là ngày mà mỗi người trình diện trước ngai tòa Thiên Chúa để trả lời về những hành vi của mình: “Cây nào không sinh quả tốt, sẽ bị chặt đi và quẳng vào lửa” (c.19). Lời này tiên báo về cuộc sống mai hậu và cũng là lời cảnh tỉnh mỗi người chúng ta ý thức và có trách nhiệm về sự tự do của mình. Như một cây không sinh trái tốt sẽ bị bứng rễ và quẳng vào lửa, chúng ta sẽ phải trả lời về những “nén bạc” Chúa trao mà ta đã không làm sinh lợi và còn đem chôn vùi dưới đất.

          Ở đây, Thánh sử Mat-thêu không có ý nhấn mạnh về ngày phán xét chung cuộc, nhưng chỉ là một lời cảnh tỉnh những người môn đệ biết phân biệt và nhận ra những con sói trong bầy chiên: “Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai?” (c.20). Ý tưởng này được lập lại lần thứ 2 như một lời tóm kết về ý chính của đoạn Tin Mừng. Để ngay sau đó, Thánh sử trình bày về tính cách của người môn đệ chân chính như một cách đối lập làm nổi bật vấn đề.

          Ta thấy nhiều người trong chúng ta lại có quá nhiều “hoa, lá, cành”, mà “quả” thì không có, hay có nhưng lại bị “sâu”. Tức là hăng say làm việc chỉ vì ham danh, huênh hoang, tự phụ, ích kỷ nên không thể sinh ra “quả” tốt được. Những người đó họ làm mọi việc vì thực dụng cá nhân, không vì yêu mến Chúa và tha nhân, nên họ chẳng khác gì chiếc phèng la kêu inh ỏi, nhưng bên trong thì rỗng tuếch.

          Thánh Phaolô cũng khuyên dạy tín hữu thành Corintô như sau: "Giả như tôi nói được các thứ tiếng, giả như tôi được ơn tiên tri như tôi có đem hết tài sản mà bố thí mà không có đức mến thì cũng chẳng có ơn ích gì cho tôi" (x. 1 Cr 13,1-3). Vì thế: “Không phải những ai nói: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời, mà chỉ những ai thực hành ý Chúa mới được vào mà thôi”.

          Muốn làm được điều đó, chúng ta phải trở nên những tiên tri thật của lòng mến, chứ đừng trở nên tiên tri giả của tham sân si. Hãy trở nên con chiên hiền lành của Chúa chứ đừng trở nên sói dữ. Không được mang danh và hình ảnh của chiên, nhưng thực ra chỉ là mặt chiên, mà là dạ sói!

          Chúa Giêsu tỏ lòng cảm thông và tha thứ cho những yếu hèn và vấp ngã của con người, nhưng Ngài không hề dung chấp cho thái độ giả hình của những người Biệt phái. Ngài gọi họ là những tiên tri giả, những người đội lốt chiên mà bên trong là lòng dạ của sói dữ. Họ trưng bày một bộ mặt đạo đức, nhưng cuộc sống của họ gồm toàn những hành động xấu xa.

          Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đề cao cảnh giác trước thói giả hình. Bao lâu giữa niềm tin và cuộc sống còn có khoảng cách, thì bấy lâu chúng ta vẫn còn là những kẻ giả hình; trên cây đức tin của chúng ta chỉ có những quả xấu; cuộc sống chỉ còn là những phản từ, hay nói theo ngôn ngữ quen thuộc: chúng ta làm ố danh sự đạo. Thánh Phaolô đã nhắn nhủ tín hữu Côrintô: Những người rước Mình Thánh Chúa mà vẫn tiếp tục sống trong chia rẽ và kỳ thị, là những người sống trong mâu thuẫn không thể chấp nhận được, và họ rước Mình Thánh Chúa một cách bất xứng. Bí tích Thánh Thể không thể tách rời khỏi giới răn yêu thương: người ta không thể rước Mình Thánh Chúa mà đồng thời lại sống xa lạ với anh em đang bị đói khát, đau yếu, tù đày. Từ việc rước lễ phải nẩy sinh trong chúng ta sức mạnh của niềm tin yêu khiến chúng ta cởi mở với tha nhân, có lòng từ bi đối với những người sống trong túng thiếu và quẫn bách.

          Ngày nay trong Giáo Hội chúng ta không thiếu những  “con sói đội lốt chiên”. Những con sói ấy len lỏi trong hàng giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân. Trước tiên, chúng ta hãy cầu nguyện cho Giáo Hội và cho chính mỗi người chúng ta, biết nhận ra tính “sói tham mồi” trong con người mình, để khiêm tốn đi theo lối đường của Đức Kitô, theo sự hướng dẫn của Giáo Hội, để bớt đi những ngôn sứ giả, để danh Thiên Chúa được rạng rỡ vinh quang. 

Huệ Minh 2021

Thứ Năm Tuần XII Thường Niên. (24--6-2021)

SINH NHẬT THÁNH GIOAN BAO-TI-XI-TA, lễ trọng. 

Is 49,1-6; Cv 13,22-26; Lc 1,57-66.80.

VỊ NGÔN SỨ VĨ ĐẠI NHƯNG KHIÊM NHƯỜNG

          Giáo Hội thường mừng lễ các thánh vào ngày các ngài qua đời. Đó là ngày các ngài được về với Thiên Chúa, ngày sinh nhật trên thiên quốc. Đối với thánh Gioan Tẩy Giả, Giáo hội mừng kính cả ngày ngài sinh ra và cả ngày ngài tử đạo. Ngày qua đời mừng ở bậc lễ nhớ. Ngày sinh nhật với bậc lễ trọng.

          Trong năm phụng vụ chỉ có 3 lễ mừng sinh nhật. Đó là Giáng Sinh của Đức Giêsu (25.12); Sinh nhật của Đức Maria (8.9) và Sinh nhật của Gioan Tẩy Giả (24.6). Cuộc đời và sứ mạng của Gioan gắn liền với cuộc đời và sứ mạng của Chúa Giêsu nên Giáo hội có lý do để sắp đặt việc mừng Sinh nhật của Vị Tiền Hô của Đấng Cứu Thế trở thành một Lễ Trọng trong niên lịch phụng vụ.
Gioan được sinh ra kỳ diệu, ơn gọi huyền nhiệm và được trao sứ vụ cao trọng trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

          Qua sinh nhật và ơn gọi huyền nhiệm của Gioan,Thiên Chúa đã đặt ngài làm gạch nối giữa Cựu ước và Tân ước với sứ vụ đặc biệt đó là Tiền Hô cho Đấng Cứu Thế.

          Từ thế kỷ thứ IV, Giáo hội đã mừng lễ sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả. Đây là một lễ rất lâu đời xét về mặt thời gian. Nếu như câu hỏi mà những người đương thời để bụng suy nghĩ “con trẻ này rồi sẽ nên thế nào? ” Thì ngày nay người ta vẫn không ngừng đặt ra những câu hỏi, chẳng hạn như : Tại sao lại lấy ngày 24 tháng 6 ? Và lý do gì mà Giáo hội lại mừng lễ sinh nhật Thánh Gioan cách trọng thể như thế ?
Tại sao lại lấy ngày 24 tháng 6 ?

          Lý do lấy ngày 24 tháng 6 thay vì ngày 25 tháng 6 là vì theo cách tính ngày xưa, tức là theo calends (ngày mùng ), ides (ngày 15) và nones (ngày thứ chín). Dĩ nhiên, những niên hiệu này có một giá trị phụng vụ và biểu trưng hơn là một giá trị lịch sử. Chúng ta không biết chính xác ngày và năm Chúa Giêsu sinh ra, nên khi nào Gioan sinh ra chúng ta cũng không hay.

          Dựa vào trang Tin Mừng, thánh Luca cho biết, khi loan báo sự sinh hạ của Chúa Kitô cho Đức Maria, thiên thần cho ngài biết bà Isave chị họ của ngài đang có thai trong tháng thứ sáu. Cho nên, Gioan Tẩy Giả phải được sinh ra sáu tháng trước Chúa Giêsu và như vậy bảng niên đại được tôn trọng cho đến ngày nay.

          Thánh Augustinô nói : “ Giáo hội có thói quen lấy ngày qua đời của các vị thánh để mừng kính, vì đó là ngày sinh nhật của các thánh trên Trời. Riêng thánh Gioan Baotixita được miễn trừ khỏi qui luật bình thường đó, vì ngài đã được thánh hiến ngày từ trong lòng mẹ trước khi sinh ra, nhờ sự hiện diện của Đức Giêsu Kitô trong lòng Đức Maria Trinh Nữ Rất Thánh khi thăm Bà Thánh Isave, từ đó Giáo hội tin rằng Gioan Tẩy Giả đã được thánh hoá trong dạ mẹ nhờ sự hiện diện của Chúa Kitô. Đó là lý do Giáo hội cử hành lễ sinh nhật của ngài ”.

          Là một ngôn sứ trong một đất nước đang thời nhiễu nhương, bị đế quốc Roma cai trị hà khắc, nhiều phe nhóm trong dân nổi loạn, dân chúng lầm than, Gioan cũng mang nặng những ưu tư những trăn trở yêu nước thương dân. Qua mọi thời, những Ngôn sứ chân chính luôn thao thức với vận mạng Dân tộc. Vị vua Hêrôđê, một hôn quân bạo chúa, sống loạn luân, lấy Hêrôđiađê là vợ của anh trai mình. Lương tâm ngôn sứ đã thúc đẩy, Gioan lên tiếng can ngăn và tố cáo những hành vi sai trái của nhà vua, kêu gọi vua trở về nẻo chính đường ngay. Vì thế, Gioan đã bị vua chém đầu từ trong ngục. Đụng chạm đến những hôn quân bạo chúa thì chỉ chuốc lấy họa vào thân. Thế nhưng, lương tâm ngay chính, Gioan đã khẳng khái nói lên những lời cần phải nói cho dù phải trả giá bằng chính mạng sống.
Sứ mạng Ngôn sứ thời nào cũng phải trả giá khi dám nói sự thật, khi dám đấu tranh cho công lý và dân chủ. Trước mặt người đời, Gioan là kẻ thất bại. Sứ mạng của ông không hoàn thành, bị những kẻ gian ác ghen ghét hãm hại, cuối cùng chịu chết chém trong tù. Thế nhưng Đức Giêsu đã nói về ông: “Trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy giả” (Lc 7,28).
Mừng sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả, mỗi người hãy nghĩ về ngày sinh nhật của mình. Đó là giây phút lịch sử đáng ghi nhớ nhất cuộc đời.

          Ngày ấy, cha mẹ, anh chị em hân hoan, bà con lối xóm đến chúc mừng. Ai cũng muốn nhìn con trẻ, mỉm cười muốn bồng ẵm và tự hỏi: trẻ này rồi sẽ nên như thế nào, ai cũng chúc phúc và đặt niềm hy vọng. Con trẻ được cha mẹ đặt tên. Ngày được Thanh tẩy, con trẻ có một tên Thánh. Chọn một vị Thánh làm bổn mạng cho con, cha mẹ xin vị Thánh Quan thầy cầu bầu che chở con và mong con noi gương bắt chước vị Thánh ấy trên đường nhân đức.

          Thánh Gioan được sinh ra trong niềm vui của cha mẹ và mọi người. Ngài đã sống trọn vẹn ơn gọi của mình. Thánh nhân để lại một mẫu gương khiêm nhường, thánh thiện cho muôn đời. Mỗi người được sinh ra và lớn lên trong vòng tay yêu thương của cha mẹ và sự quan phòng của Thiên Chúa. Mỗi cuộc đời là một huyền nhiệm trong tình thương Thiên Chúa. Mỗi lần mừng sinh nhật của mình, mỗi người chúng ta nhớ đến bao nhiêu là hồng ân Thiên Chúa ban tặng để tạ ơn và sống xứng đáng hơn.

          Gioan đã trở thành vị ngôn sứ vĩ đại của Thiên Chúa, vì ngài đã trực tiếp dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Sau thời gian sống ẩn dật trong rừng vắng, Gioan đã ra đi và thi hành sứ vụ. Ngài đã trở thành tiếng hô trong hoang địa: hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi, mọi hố sâu phải lấp cho đầy, mọi núi đồi phải bạt cho thấp, đường quanh co phải uốn cho ngay... (x. Lc 3, 4-6).

          Như vậy, Gioan nắm một vai trò trực tiếp có một không hai là dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Tuy nhiên, khi ông công khai xuất hiện trước toàn dân và làm phép rửa, dân chúng đã tưởng là Đấng Cứu Thế! Lúc đó, nhiều người đã đến để thăm dò, chất vấn xem ông có phải là Đấng Kitô mà bao ngôn sứ đã loan báo, nay xuất hiện hay không? Khi đặt vấn đề ấy với ông, ông hoàn toàn phủ nhận và không những thế, Gioan còn đề cao Đấng Cứu Thế khi nói: “Có Đấng đến sau tôi, quyền năng hơn tôi. Tôi không đáng cởi dép cho Ngài” (x. Lc 3, 16). Ngài cũng nói rõ vai trò của mình là người dọn đường, vì thế, khi Đấng Cứu Thế đến thì: “Ngài phải lớn lên còn tôi, tôi phải nhỏ đi” (x. Ga 3, 30). Khi uy tín của ông lên đến đỉnh điểm, có nhiều môn đệ đi theo, lẽ ra, lúc này, ông phải tự hào và hãnh diện cũng như củng cố uy tín...! Không! Khi thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông sẵn sàng chỉ về phía Ngài và giới thiệu cho các môn đệ của mình, ông nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1, 29). 

          Quả thật, Gioan là một người khiêm tốn. Điều này được chứng minh qua thân thế của ông như sau: sinh ra trong một gia đình có truyền thống Tư Tế, thượng lưu, Gioan có quyền được hưởng một cuộc sống sung túc và trưởng giả. Thế nhưng, cuộc đời của ông lại âm thầm và gắn liền với sa mạc. Thức ăn của ông là châu chấu và uống mật ong rừng. Ông sống nghèo đến độ lấy da thú làm áo che thân.

          Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã ân thưởng cho Gioan xứng với vai trò của ông, nên Ngài đã khen ngợi, công nhận Gioan là người vĩ đại khi nói: “Anh em vào sa mạc để xem gì? Một cây lau phất phơ trước gió ư?... Anh em xem thấy gì? Một vị ngôn sứ? Đúng thế, tôi nói cho anh em biết,  trong con cái của người phụ nữ, không ai lớn hơn Gioan” (x. Lc 7, 28). 

          Thánh Gioan Tẩy giả đã nêu gương khiêm tốn và làm chứng cho Chúa. Làm chứng trong cuộc sống hôm nay chính là: Tự làm mình lu mờ đi bằng việc ít nói về mình, không khoe khoang thành tích của mình, để Chúa được lớn lên nơi tha nhân. Làm chứng cho Chúa hôm nay cũng là: sống điều độ chừng mực, tránh thói tiêu xài xa hoa lãng phí và sự chè chén say sưa. Làm chứng cho Chúa hôm nay còn là chỉ đường giúp nhiều người nhận biết và theo làm môn đệ của Chúa. Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta luôn biết sống đơn sơ khó nghèo, can đảm làm chứng cho sự thật và không bao giờ chịu lùi bước trước những khó khăn trở ngại gặp phải trong cuộc sống hằng ngày. 

Huệ Minh

Thứ Bảy Tuần XII Thường Niên (26-6-2021) .

St 18,1-15; Mt 8,5-17.

TIN VÀO CHÚA

          Cuộc đời Chúa Giêsu là biểu tượng của tình yêu và lòng thương xót, từ hành động đến lời nói, đều thể hiện lòng thương yêu, xót thương thế giới nhân loại tội lỗi.

          Chúa Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa đã hạ mình trở nên con người hèn mọn để gánh lấy những đớn đau, khổ cực của họ. Người không chỉ chữa lành cho những người như người đầy tớ của viên đại đội trưởng người La Mã, bà mẹ vợ ông Phêrô hay tất cả người người bị quỷ ám, bệnh tật được mang đến mà hơn thế nữa, Người đã chịu chết một cách tủi nhục trên thập tự giá để gánh lấy mọi tội lỗi, đau thương của nhân loại. Con người thật sự không thể tưởng tượng được Đấng Chí Thánh lại làm thế vì họ, nhưng Người đã làm như thế.

          Chúa Giêsu mới chữa cho một người phong bằng một tiếp xúc gần, nay Ngài lại chữa lành cho một người bị đau liệt ở xa. Người được khỏi chính là đầy tớ thân tín của viên đại đội trưởng. Con người sống gắn bó với nhau bằng những mối dây. Viên đại đội trưởng là chủ, nhưng ông cảm được nỗi đau của anh đầy tớ: "Đầy tớ của tôi bị liệt nằm ở nhà, đau đớn kinh khủng" (c. 6). Người đầy tớ được khỏi là nhờ tình thương của chủ đối với anh, chính ông đã đi gặp Đức Giêsu và xin Ngài chữa cho anh đầy tớ (c. 5). Và chính lòng tin của ông đối với Đức Giêsu đã khiến anh được khỏi (c. 10).

          Những điều tốt lành của Thiên Chúa vẫn đến với ta qua người khác. Khi Chúa Giêsu nghe lời kêu xin, thì Ngài sẵn sàng lên đường ngay (c. 7), dù biết rằng nhà của viên đại đội trưởng là nhà dân ngoại, bị coi là ô uế. Có thể vì sợ Ngài bị ô uế mà ông ta đã can ngăn bằng câu nói nổi tiếng: "Tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời, đầy tớ tôi sẽ được khỏi bệnh" (c. 8). Ông ý thức về sự bất xứng của mình, của căn nhà mình ở. Và ông xác tín vào sức mạnh của việc "Ngài chỉ nói một lời." Viên đại đội trưởng nhận mình là người có quyền. Uy quyền của ông nằm trong lời ông ra lệnh cho cấp dưới (c. 9). Ông tin lời của Chúa Giêsu cũng có uy quyền như vậy.

          Chỉ một lời ra lệnh của Ngài cũng đủ đẩy lui bệnh tật và thần dữ. Đức Giêsu ngây ngất trước lòng tin của viên sĩ quan dân ngoại, một lòng tin vừa mạnh mẽ, vừa khiêm tốn. Một lòng tin như thế, Ngài chưa từng gặp nơi dân Ítraen (c. 10). Chúa Giêsu nghĩ đến ngày cánh chung, quanh bàn tiệc Nước Trời, có bao người đến từ muôn phương, những kẻ không phải là người Do thái. Họ làm nên một cộng đoàn mới gồm những kẻ tin vào Ngài. Họ vui sướng được ngồi bên các tổ phụ và những người Ítraen chân chính.

Chúa Giêsu cho thấy dòng lịch sử đang đi vào ngã rẽ quan trọng. Ơn cứu độ phổ quát do Ngài đem lại được mở ra cho mọi người. Chỉ ai cố tình chối từ Tin Mừng Nước Trời mới bị loại (c. 12). Chúa Giêsu không chỉ rao giảng Nước Trời bằng lời. Ngài còn chứng minh Nước Trời đã đến bằng bao việc tốt lành, kỳ diệu. Lời Ngài giảng cũng là lời chữa cho người phong, cho tên đầy tớ. "Ngài nói một lời là trừ được các thần dữ" (c. 16). Lời uy quyền khi giảng cũng là lời uy quyền khi chữa bệnh. Nhưng Chúa Giêsu cũng đụng chạm đến nỗi đau của con người. Ngài đụng đến người phong, và đụng đến bàn tay mẹ vợ ông Phêrô (c. 15).

          Hôm nay ta có cơ hội để chúng ta nhìn lại đức tin của mình trong đời sống hằng ngày. Đôi khi chúng ta tự hào về đức tin của mình, của cộng đoàn, bằng những cuộc lễ rước long trọng, sôi động và đông đảo, và tốn kém. Thế nhưng chúng ta lại không thương xót anh em bị bỏ rơi bệnh tật, không dấn thân phục vụ công tác tông đồ, và không quảng đại với những người đang đói kém. Vì thế trong năm thánh Đức Tin này, người kitô hữu hãy chứng thực mình có đức tin tốt qua chính cái tâm tôt của mình trong đời sống sinh hoạt hằng ngày.

          Tin mừng hôm nay cho thấy Chúa Giêsu đã thể hiện rõ nét đời sống yêu thương, sự thương cảm nỗi đau khổ, vất vả của con người trước bệnh hoạn, tật nguyền. Chúa thông cảm với viên đại đội trưởng và ông Phêrô với nỗi khổ, về bệnh tật của người thân. Chính niềm tin của họ đã được Chúa chập nhận, và cứu chữa cho người thân của họ được khỏi bệnh.

          Thế giới ngày nay vẫn còn nhiều người gặp phải đau khổ, bất hạnh, gian truân, sóng gió về cuộc sống.  Người ta cảm thấy mình bất lực, yếu đuối, muốn buông xuôi trước lối sống đầy bon chen, cạm bẫy, tham lam của người đời, khi chỉ biết đề cao cái tôi cá nhân, thờ ơ, lãnh đạm, chểnh mảng lòng yêu thương, thương xót dành cho nhau. người ta tìm mọi cách lừa dối người khác, để thu vén, trục lợi riêng, hạ bệ uy tín, nhân phẩm của nhau chỉ vì cái lợi trước mắt dành cho mình. Đó là những thứ bệnh làm dơ bẩn tâm hồn cần được chữa lành.

          Vì thế, Chúa muốn mỗi người thể hiện niềm tin, với tâm hồn khiêm nhường, tin tưởng, phó thác cuộc đời mình vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Ngài sẽ giúp chúng ta thoát khỏi bệnh tật của đời sống ích kỷ, thiếu lòng bác ái, bao dung, quảng đại với anh em. Từ đó, chúng ta sẽ được lành sạch với tâm hồn đạo đức, thánh thiện, biết hy sinh, chia sẻ lòng thương xót, tình thương của mình dành cho tha nhân qua những anh chị em đang nghèo khồ, bất hạnh, đói khát về tình thương trong xứ đạo và xã hội với một tình yêu vô vị lợi như Chúa đã yêu thương mỗi người.

Huệ Minh 2021