| |
Con
Tim Đập Nhịp Thần Linh
Bài
chia sẻ cho Phúc Âm tuần trước đã nói là bài Phúc Âm Chúa Nhật
VI Phục Sinh năm B tuần này có chất chứa chi tiết về một thứ nhựa
sống thần linh, một thứ nhựa sống được Chúa Kitô là Cây Nho hay
Thân Nho thông sang cho Giáo Hội, cho Kitô hữu là các cành nho
của Người, để các cành nho hiệp nhất với Người ấy có thể nhờ đó
sinh muôn vàn hoa trái. Vậy nhựa sống thần linh ở trong bài Phúc
Âm tuần này đây là gì, nếu không phải là đức ái trọn hảo, là Tình
Yêu Thiên Chúa? Bởi vì, nếu không có yêu thương cũng chẳng có
sự sống, chủ đề của 4 tuần cuối của Mùa Phục Sinh. Chính bởi yêu
thương Thiên Chúa mới tự động đến với con người, tìm kiếm con
người, dù con người tạo vật vô cùng thấp hèn chẳng là gì trước
nhan Ngài, trái lại, còn đáng bị trầm phạt muôn đời vì đã chống
phản Người. Chính bởi yêu thương Thiên Chúa chẳng những đã đến
với con người, nhưng không đến với con người như là một vị chủ
tể đến với bầy tôi tớ, mà là đến để nâng con người lên hàng bạn
hữu với Ngài, sống thân tình thiết nghĩa với Ngài. Theo lời Chúa
Giêsu nói trong bài Phúc Âm hôm nay thì có hai dấu hiệu Thiên
Chúa quả thực chứng tỏ cho thấy Ngài hết lòng muốn làm bạn với
con người và muốn con người làm bạn với Ngài, đó là việc Ngài
hy sinh mạng sống cho con người và tỏ cho con người biết tất cả
những gì về Ngài.
Đúng
thế, theo tự nhiên, chẳng có ai lại chết cho kẻ thù của mình,
kể cả cho người dưng nước lã. Mạng sống là cái gì quí nhất thì
phải được đổi lại hay thay thế cũng bằng những gì tương đương
hay đáng giá hơn. Vậy nếu một khi con người được Thiên Chúa hy
sinh mạng sống mình cho nơi Con của Ngài thì không phải là con
người vô cùng quí giá trước mặt Thiên Chúa hay sao!?! - “Không
tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người thí mạng sống mình
vì bạn hữu của mình. Các con là bạn hữu của Thày…”. Cũng theo
tự nhiên, chẳng có ai lại đi tâm sự với một người thù ghét mình,
hay với một người chẳng bao giờ quen biết, hoặc thậm chí cả với
những người ruột thịt nữa, (đó là lý do thực tế cho thấy nhiều
khi bạn bè còn thân hơn cả anh em trong nhà, nhất là trường hợp
kết bạn trăm năm). Vậy một khi Thiên Chúa tỏ hết mình ra cho con
người qua Chúa Giêsu Kitô là “tất cả sự thật” (Jn 16:13), là tất
cả mạc khải thần linh của Thiên Chúa, đến nỗi “ai thấy Thày là
thấy Cha” (Jn 14:9), thì không phải là Ngài đã coi con người như
bạn hữu của Ngài hay sao!?! - “Thày không gọi các con là tôi tớ
nữa, vì tôi tớ không biết gì về chủ của mình. Song Thày gọi các
con là bạn hữu, vì Thày đã tỏ cho các con biết tất cả những gì
Thày đã nghe thấy nơi Cha Thày”.
Nếu
nói đến chủ tớ là nói đến quyền bính, thì nói đến bạn bè là nói
đến yêu thương. Vậy một khi Thiên Chúa muốn làm bạn với con người
là Thiên Chúa yêu thương con người và muốn con người yêu mến Ngài.
Thực tế cho thấy, con người tạo vật chỉ có khả năng yêu hay chỉ
biết yêu khi được yêu, được nâng lên làm bạn với Thiên Chúa mà
thôi. Nghĩa là họ được Thiên Chúa ban cho họ khả năng để yêu như
Ngài yêu. Đó là lý do con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên
Chúa và tương tự như Thiên Chúa (x Gen 1:26), với tâm linh để
nhận biết Ngài yêu họ ra sao và với tự do để đáp lại tình Ngài
thương mến. Thiên Chúa đã yêu thương con người nơi Con của Ngài,
và Con của Ngài đến để cho con người thấy rằng “Thiên Chúa là
Thần Linh” (Jn 4:24) đã yêu con người biết là chừng nào, “yêu
đến cùng” (Jn 13:1), yêu đến thí mạng sống mình làm giá chuộc
họ (x Mt 20:28): “Cha Thày đã yêu Thày thế nào, Thày cũng yêu
các con như thế”. Một trong những con người đã ý thức được thực
tại thần linh này, đã ý thức được chẳng những bản tính trọn hảo
của Thiên Chúa mà còn đã triệt thấu được cả bản chất của tình
yêu lẫn nguyên tắc yêu thương, đó là “người môn đệ được Chúa Giêsu
yêu” (Jn 13:23; 19:26; 20:2; 21:20), người môn đệ được ngả đầu
(biểu hiệu cho tâm linh con người) vào ngực (biểu hiệu cho tình
yêu) Chúa Kitô trong Bữa Tiệc Ly (x Jn 13:25). Về bản tính toàn
thiện của Thiên Chúa, người môn đệ này đã cảm nghiệm rằng “Thiên
Chúa là tình yêu” (1Jn 4:8,16). Về bản chất của tình yêu, người
môn đệ ấy đã nhận thức ở câu cuối cùng trong bài đọc thứ hai hôm
nay: “Tình yêu là ở chỗ không phải chúng ta yêu Thiên Chúa mà
là Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta và đã sai Con Ngài đến làm
của lễ đền tội lỗi của chúng ta” (1Jn 4:10). Về nguyên tắc hay
đường lối yêu thương, người môn đệ này huấn dụ, đối với chính
Thiên Chúa: “Phần chúng ta, hãy mến yêu, vì Ngài đã yêu chúng
ta trước” (1Jn 4:19); còn đối với tha nhân, thánh nhân đã nói
đến trong lời mở đầu của bài đọc thứ hai hôm nay là: “Chúng ta
hãy yêu thương nhau, vì tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa”.
Huấn
dụ của “người môn đệ được Chúa Giêsu yêu” này về nguyên tắc hay
đường lối yêu thương trên đây hoàn toàn chính xác, đúng như lời
Chúa Kitô đã khẳng định trong bài Phúc Âm về vai trò chủ động
tỏ mình của Thiên Chúa và vai trò tích cực đáp ứng của con người
khi minh định: “Không phải là các con đã chọn Thày mà là Thày
đã chọn các con để các con đi sinh hoa kết trái”. Đúng thế, con
người tạo vật chúng ta được dựng nên từ hư vô, không hề biết Thiên
Chúa là Đấng nào và ra sao để yêu Ngài như Ngài là và như lòng
mong muốn của Ngài, cho tới khi Ngài tỏ chính bản thân của Ngài
ra, tỏ tất cả bản thân của Ngài ra nơi Con Ngài. Thế nhưng, cho
tới khi biết được sự thật vô cùng mầu nhiệm diễm phúc này, biết
được Thiên Chúa yêu thương mình vô cùng như thế, con người tội
nhân vô cùng hèn hạ, khốn nạn và bất lực cũng không thể nào yêu
mến Ngài và đáp lại tình Ngài cho cân xứng, nếu không được tình
Ngài chiếm đoạt, để con người có thể yêu Ngài bằng chính quả tim
của Ngài. Vấn đề ở đây là làm sao con người bất toàn và bất lực
của chúng ta có thể chiếm được quả tim thần linh này để nhờ đó
xứng đáng đáp lại Đấng “đã yêu thương chúng ta trước”?
Bài
Phúc Âm hôm nay đã cho chúng ta câu giải đáp ngay ở hai câu đầu
tiên, nhất là ở câu thứ hai: “Như Cha Thày yêu Thày thế nào, Thày
cũng yêu các con như vậy. Hãy ở lại trong tình yêu của Thày”.
“Hãy ở lại trong tình yêu của Thày” đây là gì, nếu không phải
là hãy chấp nhận tình yêu của Thày, hãy tin tưởng vào Thày, nhất
là hãy tích cực đáp lại tình yêu của Thày, bằng cách hãy sống
tình yêu của Thày, hay hãy mang tình yêu của Thày các con cảm
nghiệm được mà chia sẻ. Đó là lý do, ngay sau hai cầu mở đầu bài
Phúc Âm, Chúa Giêsu đã chỉ cho các môn đệ của Người biết cách
thức để có thể “sống trong tình yêu của Thày”, cũng như để có
thể đáp lại tình yêu của Người, hay sống tình yêu của Người.
Để
có thể “sống trong tình yêu của Thày”, thành phần môn đệ đích
thực của Chúa Kitô, như Người cho biết, cần phải: “tuân giữ các
giới răn của Thày”, tức đáp lại các ước muốn của Thày. Và các
giới răn của Thày hay các ước muốn của Thày đây là gì, nếu không
phải, như Người minh định sau đó, là “các con hãy yêu thương nhau
như Thày đã yêu thương các con”. Nếu “Thày đã yêu thương các con
thế nào, các con cũng phải yêu nhau như vậy” (Jn 13:34), mà Thày
đã yêu các con “đến cùng” (Jn 13:1), đến “tự hiến để họ được thánh
hóa trong chân lý” (Jn 17:19), một tác động hoàn toàn vượt trên
bản năng bảo tồn, hoàn toàn nghịch lại với khuynh hướng yêu sự
sống mình của con người (x Jn 12:25), thì thực tại “các con hãy
yêu thương nhau như Thày đã yêu thương các con” là một chứng cớ
hùng hồn nhất và hiển nhiên nhất cho thấy Chúa Kitô “là sự sống”
đang sống trong Kitô hữu, và đang tiếp tục yêu thương nhân loại
bằng chính con tim của Kitô hữu, một con tim đã bị tình Người
chiếm đoạt để chỉ rung động theo những Nhịp Đập Thần Linh, những
nhịp đập của một Vị Thiên Chúa Làm Người!
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
|
|