| |
Mầm mống ly dị nơi hai nguyên tổ loài người
Có
thể nói bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này có liên hệ đến bài Phúc
Âm tuần trước về chiều hướng của
mình.
Bởi vì, bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước nói tới vấn đề gương
mù gương xấu và việc phải dứt khoát với hành động này để được
rỗi bằng cách từ bỏ mình, một hành động dứt khoát được thể hiện
một cách biểu hiệu ở chỗ móc mắt, chặt tay chân làm xấu của mình
đi. Bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này là nạn ly dị, một trong những
gương mù gương xấu chẳng những của thời xưa mà nhất là thời đại
văn minh nhân bản nhân quyền ngày nay. Vấn đề được đặt ra ở đây
là nếu hôn nhân, như Chúa Giêsu khẳng định, là những gì ngay
từ ban đầu đã được Thiên Chúa thiết lập và bởi thế loài người
không được phép phân chia, không được quyền tháo gỡ, thì phải
chăng, theo nguyên tắc tránh dịp tội của bài Phúc Âm Chúa Nhật
tuần trước, thì vợ chồng theo hôn nhân đã trở nên một thân thể
(đã coi nhau và gọi nhau là “mình”, là “anh em”, “anh em như
thể tay chân”) có thể bỏ nhau, một khi họ nên dịp tội cho nhau,
chẳng hạn làm cho nhau đi đến chỗ ngoại tình (vì chồng không để ý chăm sóc chiều chuộng vợ, hay vì vợ không đáp ứng
chồng trong việc chăn gối chẳng hạn), nhất là vì vợ chồng lén
lút hoặc trắng trợn ngoại tình? Trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần
này, Chúa Giêsu đã trả lời dứt khoát với một số người Pharisiêu
về vấn đề ly dị là vấn đề do con người mà có, đúng hơn, do lóng
trí con người hư hỏng mà ra, còn hôn nhân là do Thiên Chúa, do
Đấng Toàn Thiện đã dựng nên họ theo hình ảnh yêu thương của Ngài,
ở chỗ Ngài đã dựng nên con người có nam có nữ, để họ tiến đến
chỗ hiệp nhất nên một thân thể với nhau, một tình trạng phản
ảnh sự sống thần linh hiệp thông Ba Ngôi nơi Ngài.
Thật
vậy, mầu nhiệm về con người và ơn gọi của con người là ở chính
cốt lõi
của hôn nhân. Chính vì ơn gọi
phản ảnh “Thiên Chúa là Thần Linh” (Jn 4:24) mà con người mới
được Ngài dựng nên theo giống hình ảnh Ngài và tương tự như Ngài
(x Gen 1:26-27). Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên
Chúa ở chỗ nào, nếu không phải hữu thể của con người có yếu tố
linh thiêng (linh hồn), có tự do, biết ý thức; và con người được
dựng nên tương tự như Thiên Chúa ở chỗ nào, nếu không phải ở
ngôi vị của con người biết yêu thương, trao tặng và hiệp thông.
Đó là lý do, sau khi tạo dựng nên mọi sự trên trời dưới đất,
như tất cả đoạn thứ nhất của Sách Khởi Nguyên cho thấy, Thiên
Chúa, cũng Sách Khởi Nguyên thuật lại ở trọn đoạn thứ hai, còn
làm một việc nữa cho riêng con người, loài được Ngài dựng nên
sau hết, đó là hình thành cơ cấu hôn nhân nơi họ, một cơ cấu
xã hội căn bản đầu tiên của loài người, một cơ cấu hiệp thông,
yêu thương và sự sống. Và đó cũng là lý do bao lâu con người
sống mầu nhiệm “hôn nhân” là yêu thương và sống ơn gọi “hôn nhân” là hiệp thông này, họ mới sống trong sự thật, vì họ sống
đúng như ý muốn của Thiên Chúa, và họ mới hoàn toàn hạnh phúc,
vì họ sống sự sống thần linh vô cùng toàn hảo và viên mãn của
Thiên Chúa. Trái lại, bao lâu con người sống ngược với mầu nhiệm
“hôn nhân” và ơn gọi “hôn nhân” này, tức tìm kiếm những gì ngoài
ý định vô cùng khôn ngoan tốt lành của Thiên Chúa, bấy lâu con
người còn sống trong bất hạnh và đầy những bất an.
Không
phải hay sao, ngay từ ban đầu, nếu con người cương quyết sống
theo những
gì Thiên Chúa ấn định như lương
tâm của họ ý thức được (x Gen 3:2-3) thì họ đâu đến nỗi đi đến
chỗ “ly dị” trong tinh thần, một yếu tố nẩy sinh trong giòng
dõi loài người như một thứ men làm cho họ càng ngày càng ly dị
như thời đại văn minh tuyệt đỉnh về nhân bản ngày nay cho thấy?
Cặp vợ chồng đầu tiên của loài người này đã không âm thầm “ly
dị” nhau về tinh thần là gì, ở chỗ, ngay sau khi ăn trái cấm,
mỗi người tự động đi tìm nơi trú ẩn và lấy lá vả che đậy chỗ
kín của mình đi: họ không còn là một thân thể như trước nữa,
họ đã ra khỏi tình trạng ngây thơ vô tội như trẻ nhỏ “trần truồng
không biết xấu hổ” (Gen 2:25). Thậm chí họ đã đi đến chỗ chính
thức “ly dị” nhau trước nhan Chúa, khi người nam không chấp nhận
bản thân mình là nữ nguyên tổ Evà, người ông đã tuyên nhận là
xương thịt của ông và là người Chúa cho ở với ông, qua việc ông
phũ phàng và bất công đổ lỗi cho người nữ (x Gen 3:12), một lỗi
lầm mà chính ông đáng lẽ phải đứng ra nhận lỗi, vì ông chẳng những đã không can ngăn vợ mà còn vào hùa với vợ
để làm nữa. Nếu con người nam nguyên tổ Adong này yêu thương
vợ trong chân lý, tức yêu thương theo ý Chúa, ở chỗ mạnh mẽ lên
tiếng ngăn cản vợ về hành động hái trái cấm mà ăn của nàng, thì
tình yêu của ông đã phản ảnh tình yêu vô cùng trọn hảo của Thiên
Chúa rồi, và con cái miêu duệ của ông đâu phải mang mầm mống
“ly dị” từ ông cho đến tận thế. Như thế, một cách nào đó, nguyên
tội được phát xuất từ hôn nhân, từ tình yêu hôn nhân, từ thứ
tình yêu sai trái nơi hôn nhân. Quả thực ly dị phát xuất từ con
người, từ lòng trí hư hỏng của con người là như thế.
Tới
đây một vấn đề nữa xuất hiện, đó là vấn đề “(nguyên) tội bởi
đâu mà có?”,
bởi vì ngay từ ban đầu con
người nguyên tổ hoàn toàn tốt lành, lòng trí chưa hề bị hư hại
tí nào, thì làm sao con người có thể đi tới chỗ “ly dị”, tới
chỗ phân ly những gì Thiên Chúa đã phối hợp, đã liên kết. Đúng
thế, ngay từ ban đầu, con người nguyên tổ được Thiên Chúa dựng
nên hoàn toàn tốt lành, không bị hư hại tí nào, không có mầm
mống tội lỗi trong mình như miêu duệ của các vị, không có đam
mê nhục dục, không có tính mê nết xấu. Tuy nhiên, không phải
vì thế mà con người không thể phạm tội. Con khổng long và một
phần ba tinh tú trên trời bị mất chỗ của mình trên trời đâu có
xác thịt, có mầm mống tội lỗi, thế mà vẫn có thể phạm tội, vẫn
có thể làm mất lòng Thiên Chúa cơ mà (x Rev 12:1-9). Đệ nhất
tạo vật về ân sủng, dù được ơn vô nhiễm nguyên tội ngay từ lúc
được hoài thai trong lòng thai mẫu, chẳng lẽ lại không phạm tội
được hay sao, khi Người khăng khăng từ chối không chịu “xin vâng”
(Lk 1:38) làm theo ý muốn tối cao của Thiên Chúa được tỏ ra cho Người qua sứ thần Gabiên trong giây phút truyền tin? Bởi
thế, trường hợp phạm tội của hai nguyên tổ, tội đầu tiên trong
lịch sử loài người, tội phá giới, tội vượt biên, tội phân ly
nhưnõng gì Thiên Chúa đã kết hợp, không phải là do lòng trí hư
hỏng của con người, mà là do ý thức chọn lựa của con người. Thế
nhưng, ngay từ ban đầu, nếu con người còn ở trong tình trạng
công chính nguyên thủy, lòng trí của họ còn hoàn toàn ngay thẳng,
thì phải chăng việc họ làm, dù trái với ý muốn của Thiên Chúa,
có xấu xa tội lỗi trước nhan Ngài, cũng chỉ là những hành động
lầm lạc đáng thương?
Sở
dĩ con người lầm lạc đáng thương là vì trình độ của con người
hữu hạn chỉ tới đó. Nếu con người có Thần
Trí của Thiên Chúa, chắc hẳn họ đã thấu hiểu được tất cả mọi
sự như Ngài (x 1Cor 2:10) và đã không làm những gì trái ý Ngài.
Thế nhưng, dù Thiên Chúa có muốn thông ban cho con người tất
cả Thần Trí của Ngài ngay từ ban đầu đi nữa, con người tạo vật
hữu hạn bấy giờ tự bản chất cũng không thể nào lãnh nhận được.
Phải chăng đó là lý do “Lời đã hóa thành nhục thể” (Jn 1:14)
để qua Ngôi Vị nhân thần là Con Người Giêsu Kitô này, loài người
“sinh bởi xác thịt là xác thịt” (Jn 3:6) có thể được “rửa trong
Thánh Thần” (Jn 1:34), được “tái sinh bởi nước và Thần Linh”
(Jn 3:5), “được sự sống viên mãn hơn” (Jn 10:10), một sự sống
như Con Người Giêsu Kitô đã sống “đẹp lòng Cha mọi đàng” (Mt
3:17, 17:3). Thật ra, làm việc gì ngoại tại, “Thiên Chúa là Thần
Linh” (Jn 4:24) đều tỏ mình là Lời ra và ban mình là Thần Linh
của Ngài cho đối tượng của Ngài. Thiên Chúa đã bắt đầu ban Thần
Trí của Ngài cho con người khi Ngài tỏ mình ra cho họ, khi Ngài bắt đầu tỏ cho họ biết giới hạn của họ giữa biên giới
sự sống và sự chết, giữa cây biết lành biết dữ và cây sự sống.
Trong Lịch Sử Cứu Độ của dân Do Thái, Ngài vẫn tiếp tục tỏ mình
ra, vẫn tiếp tục ban Thần Trí của Ngài cho con người, và mức
độ dồi dào Thần Trí nhất là lúc Con Ngài Nhập Thể, Vượt Qua và
sai Thánh Thần từ Cha xuống trên Giáo Hội. Thế nhưng, chỉ có
thành phần sống bé mọn (x Mt 11:25; Lk 10:21), biết đáp lại Mạc
Khải Thần Linh như Mẹ Maria đầy tin tưởng mới được tràn đầy Thần
Trí của Thiên Chúa mà thôi!
Đó
là lý do chúng ta thấy Chúa Giêsu, một lần nữa, đã dùng đến trẻ
nhỏ, như bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần
này cho thấy, để giải quyết vấn đề phức tạp của đời sống hôn
nhân, điển hình là vấn đề gương mù ly dị nơi hôn nhân. Không
phải hay sao, vì hai nguyên tổ không còn sống như những trẻ nhỏ,
không còn sống ngây thơ vô tội, không còn hoàn toàn tin tưởng
vào Đấng Tối Cao vô cùng Toàn Tri, Toàn Thiện, Toàn Năng, trái
lại muốn trở thành người lớn, đầy lý sự và ham hố, nên đã đi
đến chỗ “ly dị” nhau, không còn là một thân thể mà là hai (một
tình trạng được biểu hiệu qua hành động hai vị nguyên tổ tìm
cách che bịt cái của quí private part của mình đi)? Thật ra,
thực tế cho thấy, không thể nào vợ chồng lại có thể trở nên một
thân thể. Việc vợ chồng chỉ là một tác động biểu hiệu cho việc
nên một thân thể này mà thôi. Thế nhưng, tình trạng ly dị vẫn
có thể làm cho vợ chồng chấm dứt việc vợ chồng với nhau, không
còn là một thân thể nữa. Như thế, vấn đề nên một thân thể đây
không phải là vấn đề về sinh lý hay thể lý cho bằng về tâm lý và tinh thần. Đúng vậy, nếu vợ chồng không được phân ly những gì
Thiên Chúa đã phối hợp, thì vấn đề vợ chồng nên một thân thể
là một vấn đề bất khả phân ly, vấn đề trọn đời, chứ không phải
vấn đề trò chơi tình ái, vấn đề pro choice của con người. Nếu
vợ chồng biết chấp nhận nhau như là người Chúa cho ở với mình,
(như bài đọc một cho thấy), biết ý thức nguyên tắc không phải
họ chọn mà là được chọn (x Jn 15:16), thì không bao giờ họ sẽ
đi đến chỗ ly dị, bằng không, họ sẽ là kẻ ly dị Chúa trước, phủ
nhận những gì Chúa ban cho mình, gửi đến cho mình, và không bao
giờ họ sẽ tìm thấy ý nghĩa đích thực và hạnh phúc hôn nhân trọn
vẹn.
Nếu
con người không sống nguyên bởi bánh, mà còn bởi lời Chúa (x
Mt 4:4), thì vấn đề vợ chồng nên một thân
thể như ý định của Thiên Chúa về hôn nhân ngay từ ban đầu này
cũng thế, ở chỗ, Thiên Chúa không chỉ có ý dựng nên con người
có nam có nữ để họ làm việc vợ chồng hầu sinh con đẻ cái như
loài thú thuần huyết nhục thế thôi, mà là để họ biểu hiện một
mầu nhiệm sâu xa hơn nữa, đó là mầu nhiệm Chúa Kitô với Giáo
Hội của Người (x Eph 5:32), một mầu nhiệm chỉ khi nào vợ chồng
nỗ lực sống theo họ mới có hạnh phúc và hoàn trọn ơn gọi hôn
nhân của họ thôi. Chúa Kitô và Giáo Hội của Người không bao giờ
ly dị nhau. Cho dù Giáo Hội, qua yếu đuối của loài người, của
thành phần đại diện Người thừa kế Thánh Phêrô và thừa kế các
vị tông đồ, có những lúc phản bội tinh thần của Người, như dân
Do Thái phản bội giao ước của Thiên Chúa cha ông họ song Thiên
Chúa vẫn ở với họ, vẫn trung thành với giao ước của Ngài, vẫn
thực hiện lời Ngài tự đoan hứa với họ thế nào, Chúa Kitô vẫn
ở cùng Giáo Hội luôn mãi cho đến tận thế như vậy (x Mt 28:20). Đầu và thân thể không thể nào phân ly nhau thế nào, Chúa Kitô và
Giáo Hội làm nên một Nhiệm Thể cũng không thể phân lìa nhau như
thế. Chồng thực sự là đầu của vợ, như Chúa Kitô là đầu của Giáo
Hội, và vợ là thân thể của chồng, như Giáo Hội là thân mình của
Chúa Kitô. Vì là đầu của vợ, chồng phải yêu thương vợ như Chúa
Kitô yêu thương Giáo Hội; và vì là thân mình của chồng, vợ phải
vâng lời chồng trong mọi sự như Giáo Hội vâng lời Chúa Kitô như
thế (x Eph 5:22-30).
Hình
ảnh một thân thể có đầu và thân này, như bài đọc một cho thấy,
đã được biểu lộ qua tác động nhận biết
(thuộc đầu óc) của Adong đối với thân thể của mình là Evà, một
ngôi vị được làm nên bởi thân thể của ông và phát xuất từ cạnh
sườn thân thể của ông. (Chồng là đầu và vợ là thân còn được thể
hiện nơi tâm lý trai cua gái, gái theo trai, và nam có ý nghĩ
thèm thuồng thân thể nữ như ở Phúc Âm Thánh Mathêu 5:28 cho thấy).
Nếu chồng luôn nhận biết vợ, tức yêu thương vợ như Chúa Kitô
yêu thương Giáo Hội đến cùng (x Jn 13:1), và nếu vợ luôn gắn
bó với chồng, ở chỗ nghe lời chồng, đáp lại tình yêu của chồng,
thì không bao giờ có chuyện ly dị xẩy ra trong đời sống hôn nhân.
Tuy nhiên, vì mầm mống nguyên tội, mầm mống con người ngay từ
ban đầu tách mình lìa xa Thiên Chúa nên không thể bền bỉ với
nhau, vẫn còn tồn tại nơi con người nói chung và con người nam
nữ vợ chồng nói riêng, mà cho dù họ có yêu nhau đắm đuối mấy
đi nữa, họ vẫn cần phải có ơn Chúa đặc biệt, có Thần Linh, mới
có thể trung thành với nhau, mới có thể hoàn toàn phản ảnh mầu nhiệm Nhiệm Thể Giáo Hội!
Tóm
lại, trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, Chúa Giêsu xác định
rõ dự án của Thiên Chúa
và đường lối
của con người. Dự án của Thiên Chúa bao giờ cũng là muốn con
người hiệp nhất nên một; còn đường lối của con người thường
hướng chiều về tình trạng chia rẽ ly dị. Tuy trong bài Phúc Âm
Chúa
Giêsu không xác định rõ hai vợ chồng phải sống trọn đời với
nhau, nhưng nếu hai vợ chồng phải nên một thân thể với nhau mới
là
vợ chồng theo dự án của Thiên Chúa thì có nghĩa là họ phải
sống trọn đời với nhau. Thật vậy, nếu không ai lại phủ nhận thân
thể
của mình (x Eph 5:28-29), và không ai mất đầu mà còn sống thế
nào, chồng cũng không thể thiếu vợ, không thể phủ nhận vợ là
thân thể của mình, và vợ cũng không thể thiếu chồng, không
thể tách rời chồng là đầu của mình như vậy. Chính vì con người
cứng
lòng, sống theo ý riêng của mình, chứ không sống theo dự án
của Thiên Chúa về hôn nhân ngay từ ban đầu như thế mà xã hội
loài
người càng ngày càng trở nên băng hoại như thực tế hiện nay
cho thấy. Đó là lý do, để cứu vãn tình thế, để sống hợp với dự án của Thiên Chúa trong tất cả mọi sự, cách riêng trong
đời sống hôn nhân, Chúa Giêsu kêu gọi con người hãy hoán cải
và trở nên như trẻ nhỏ, tình trạng con người nguyên sơ còn
đang ngây thơ vô tội chỉ biết tin tưởng vào Chúa và làm theo
ý Chúa
mà thôi.
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
|
|