| |
Thánh Thiện là Đức Ái Trọn Hảo
Qua
bài Phúc Âm Chúa Nhật XXXI Thường Niên Năm B, chúng ta thấy được
4 điều sau đây:
Thứ
nhất, chúng ta thấy Chúa Giêsu dạy chúng ta chẳng những phải
kính mến Chúa hết mình mà còn phải yêu thương
nhau như mình nữa mới trọn, chứ không phải chỉ kính mến Chúa
hết mình, nói cách khác, kính mến Chúa hết mình còn ở tại việc
yêu nhau như mình nữa, hay yêu nhau như mình là dấu chứng tỏ
kính mến Chúa hết mình.
Thứ
hai, theo ý nghĩa của bài Phúc Âm, chúng ta còn thấy, con người
chỉ có thể kính mến Chúa hết mình
và yêu
nhau như mình khi họ tin nhận “Thiên Chúa, Chúa chúng ta là
Chúa duy nhất” mà thôi. Hay nói cách khác, chính vì con người
tin
nhận chỉ có một Thiên Chúa chân thật duy nhất, ngoài ra không
còn Vị Chúa Tể hay thần tượng hoặc ngẫu tượng nào khác, mà
họ phải kính mến Ngài hết mình và yêu nhau như mình.
Thứ
ba, cái quí giá nhất trên đời này, trước mặt Chúa cũng như trước
mắt
thế gian, đó là yêu thương: yêu thương
trọng hơn tất cả mọi lễ vật hiến dâng lên cho Chúa là thế,
đúng như người luật sĩ thưa với Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm
hôm nay,
và cũng hợp với những gì Chúa Giêsu dạy ở bài giảng trên núi
về việc về làm hòa với người xúc phạm tới mình trước khi dâng
của lễ trên bàn thờ (x Mt 5:23-24).
Thứ
bốn, thế nhưng, nhận biết giá trị tuyệt hạng của giới răn trọng
nhất là mến Chúa hết
mình và yêu nhau
như mình như người luật sĩ trong bài Phúc Âm mà thôi chưa đủ,
còn phải mang ra thực hành nữa mới được, mới được rỗi. Đó là
lý do Chúa Giêsu đã nói với nhà luật sĩ này sau khi ông trình
bày cảm nhận của mình về giới răn trọng nhất, như sau: “Ông
không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu”.
Chúa
Nhật XXXI Thường Niên Quanh Năm, dù thuộc chu kỳ nào đi nữa,
A, B hay C, cũng
thường ở trong thời điểm
cuối tháng 10 hay đầu tháng 11, hoặc vào chính ngày Lễ Trọng
Kính Chư Thánh Nam Nữ hay vào Lễ Các Đẳng (năm A: 31/10/1999,
1/11/1987 và 3/11/2002; năm B: 30/10/1994 và 2/11/1997 hay 2/11/2003;
năm C: 1/11/1992 hay 1/11/1998, 2/11/1986). Riêng chu kỳ Năm
B 2003, Lễ Các Thánh rơi vào ngày Thứ Bảy 1/11 và Lễ Các Đẳng
vào Chúa Nhật 2/11. Tuy nhiên, bài Phúc Âm Chúa Nhật Thường Niên
XXXI Năm B tuần này cũng rất hợp với ý nghĩa của cả hai lễ này.
Ở chỗ, bài Phúc Âm cho chúng ta thấy một yếu tố then chốt để
nên thánh, đó là mến Chúa hết mình và yêu nhau như mình. Đức
Ái chẳng những là yếu tố then chốt để nên thánh mà còn là yếu
tố cần thiết để đền tội nữa, đền tội cho chính bản thân mình
và đền thay cho nhau nữa, nhất là cho những linh hồn trong luyện
ngục. Thánh Phêrô tông đồ đã khẳng định “tình yêu bù đắp muôn
vàn tội lỗi” (1Pt 4:8), và chính Chúa Giêsu cũng đã khẳng định
về người phụ nữ tội lỗi trong thành đã tỏ lòng ăn năn thống hối là “chị ta được tha nhiều vì đã yêu nhiều” (Lk 7:47).
Thật
vậy, điều quan trọng nhất trên trần gian này không phải là được
làm lớn, làm tổng thống về phương diện
chính trị, làm thần tượng về phương diện nghệ sĩ, hay làm giám
mục, giáo hoàng về phương diện tôn giáo, mà là làm thánh. Không
làm thánh thì làm gì thì làm con người nói chung và Kitô hữu
nói riêng cũng có thể làm mất lòng Chúa, vì họ chỉ sống theo
tự nhiên, sống theo xác thịt là những gì vốn phản lại với Thần
Linh, đúng như Chúa Giêsu đã khẳng định với Nicôđêmô: “cái gì
sinh bởi xác thịt là xác thịt; cái gì sinh bởi Thần Linh là Thần
Linh” (Jn 3:6), hay với các tông đồ: “Thần Linh mới làm cho sống,
xác thịt chẳng có ích gì” (Jn 6:63)). Điển hình nhất là trường
hợp đã xẩy ra cho tông đồ Phêrô, dù có ý hết sức ngay lành trong
việc can thiệp vào mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô, vị tông
đồ này cũng đã bị Người nặng lời khiển trách là đồ Satan (x Mt
16:22-23). Thật ra, Kitô hữu chúng ta đã được thánh hóa, đã là
Thánh ngay từ khi được lãnh nhận Phép Rửa. Bởi vậy, là những
ngọn đèn đã được Chúa Kitô thắp lên để trên cao hầu soi sáng cho cả nhà thế gian, chúng ta phải sống đúng với ơn
gọi “là ánh sáng thế gian” (Mt 5:14) của mình. Mà ánh sáng chúng
ta chiếu giải để soi sáng thế gian tăm tối sặc mùi tử khí văn
hóa sự chết đây là gì nếu không phải là một đức ái trọn hảo.
Nếu
theo Mạc Khải Thần Linh qua phần Phụng Vụ Lời Chúa nói chung,
Phúc Âm nói riêng, chúng ta đã nghe Chúa
Giêsu nói đến giới răn cao trọng nhất là giới răn yêu thương,
yêu Chúa hết mình và thương người như mình, thì trong phần áp
dụng thực hành những gì Chúa tỏ dạy cho chúng ta biết ấy, chúng
ta cảm nhận và đáp ứng thế nào trước Lời Chúa? Chắc mỗi người
trong chúng ta đều cảm thấy khó nên thánh quá! Lời Chúa khó áp
dụng quá! Nhưng cũng chính vì Lời Chúa siêu việt trên cả trí
khôn hiểu biết của loài người lẫn khả năng thực hiện của họ mới
thực sự chứng tỏ cho thấy “Đó là Lời Chúa”, chứ không phải là
lời thường, lời của con người, dù là của các bậc hiền triết thánh
nhân, những lời Chúa siêu việt này đều “là thần linh và là sự
sống” (Jn 6:63), như Chúa Giêsu đã khẳng định với các tông đồ.
Đó là lý do, để phấn khích tinh thần Sống Thánh Chứng Nhân của
chúng ta, Chúa đã ban cho chúng ta có các tấm gương của những
vị thánh, những con người cũng hèn yếu như chúng ta. Chẳng hạn
như vị tân chân phước Têrêsa Calcutta được Giáo Hội tuyên phong vào chính Chúa Nhật Truyền Giáo 19/10/2003, “một trong
những vị đại thừa sai của thế kỷ 20”, như ĐTC Gioan Phaolô II
đã công bố ngày 20/10/2003 với phái đoàn hành hương đến dư ï
lễ tuyên phong của Mẹ, vị mà trong hồ sơ phong chân phước đã
được gọi là “biểu hiệu của Đức Ái Kitô giáo”, căn cứ vào các
việc bác ái anh hùng được tỏa sáng từ người nữ tu thánh sống
này.
Mẹ
Têrêsa Calcutta, sau khi đã nghe thấy tiếng Chúa nói trong tâm
hồn của Mẹ, kêu gọi Mẹ là: “Hãy đến, hãy trở thành ánh sáng
của Cha. Hãy mang Cha tới hang hầm tối tăm của thành phần nghèo
khổ”, Mẹ đã bắt đầu đi vào đêm tối tăm nội tâm, một đêm tối
tăm bắt đầu xuất hiện khi Mẹ mới bắt tay vào việc phục vụ người
nghèo
cho tới khi Mẹ qua đời, một đêm tối tăm, như Mẹ chia sẻ với
cha linh hướng và Đức Tổng Giám Mục địa phương, có những lúc
Mẹ thấy
thiên đàng chẳng còn ý nghĩa gì nữa, Thiên Chúa không còn hiện
hữu nữa v.v., nhưng đồng thời đời sống Mẹ lại thực sự chiếu
tỏa “rạng ngời chân lý” Chúa Kitô, mang “Phúc Âm sự sống” chẳng
những
đến cho thế giới Ấn Giáo mà còn cho cả thế giới văn minh duy
nhân bản, duy thực dụng, duy vật vô thần của thế kỷ 20 nữa.
Sau đây hai trường hợp điển hình do Mẹ kể lại cho chúng ta.
“Vào
một buổi tối kia, chúng tôi ra đường và thấy được 4 người. Một
người trong họ hết sức thê thảm. Tôi nói với các chị em
rằng: ‘Các con hãy chăm sóc 3 người kia; còn mẹ lo cho người
tệ nhất
ấy’. Thế là tôi đã làm tất cả những gì tình yêu của tôi có
thể làm cho người phụ nữ này. Tôi đặt người phụ nữ ấy lên
giường và chị đã nở ra một nụ cười tuyệt vời. Chị đã nắm lấy
tay tôi
nói lời duy nhất ‘cám ơn Mẹ’, rồi chị qua đời. Tôi không
thể nào không xét mình trước chị phụ nữ ấy. Tôi ngẫm nghĩ: ‘Tôi
sẽ
nói gì nếu ở vào trường hợp của chị?’ Câu trả lời của tôi
rất
dễ thôi. Tôi sẽ nói rằng: ‘Tôi đói khát, tôi chết mất, tôi
lạnh lẽo, tôi đau đớn’ hay một câu nào đó. Thế nhưng, chị
đã cho tôi
còn hơn thế nữa. Chị đã cho tôi tấm lòng ưu ái tri ân của
chị. Và chị đã chết với một nụ cười trên khuôn mặt.
“Sau
đó chúng tôi đã nhặt được một người đàn ông ở một cái cống rãnh,
một nửa thân mình đã bị sâu bọ rúc rỉa,
và sau khi chúng tôi đã mang ông ta vào nhà, ông chỉ nói rằng:
‘tôi đã sống như một con thú trên đường phố, nhưng tôi sắp
chết như một thiên thần, được yêu thương và chăm sóc’. Đoạn,
sau khi
chúng tôi đã lấy hết mọi thứ sâu bọ khỏi mình mẩy của ông,
tất cả những gì ông nói với chúng tôi kèm theo nụ cười tươi là
‘Sơ
ơi, tôi sắp về cùng Thiên Chúa’, rồi ông tắt thở. Thật là tuyệt
vời khi chứng kiến thấy sự cao cả của con người đàn ông đã
có thể nói như thế mà không trách cứ bất cứ một ai, không so
sánh
bất cứ sự gì. Như một thiên thần, đó là sự cao cả của con người
phong phú về tinh thần ngay cả trong lúc nghèo khổ về vật chất”.
Đó
là lý do, trong bài giảng Lễ Phong Chân Phước cho Mẹ Têrêsa
Calcutta, ĐTC Gioan Phaolô II chẳng những
đã đề cập đến cuộc khủng hoảng nội tâm của Mẹ Maria liên quan
đến lòng mến Chúa hết mình của Mẹ, mà còn hết lời ca ngợi đức
ái xả thân quên mình của Mẹ trước thế giới nơi thành phần cùng
khốn nhất loài người như sau:
“’Khi
các ngươi làm cho một trong thành phần hèn mọn nhất trong anh
em Ta là các ngươi làm cho chính Ta’ (Mt 25:40). Sứ điệp
Phúc Âm này, một sứ điệp rất quan trọng để hiểu được việc
Mẹ Têrêsa phục vụ người nghèo, là nền tảng cho niềm xác tín đầy
tin tưởng của Mẹ đến nỗi khi đụng chạm đến những thân xác
tan
nát của người nghèo là Mẹ sờ chạm tới thân mình của Chúa
Kitô. Chính Chúa Giêsu, ẩn mình dưới bộ mặt buồn thảm của thành
phần
nghèo nhất trong các người nghèo là mục tiêu cho việc phục
vụ của Mẹ nhắm đến. Mẹ Têrêsa đã làm sáng tỏ ý nghĩa sâu
xa nhất
của việc phục vụ, một tác động yêu thương, một hành động
làm cho người đói, kẻ khát, người lạ, kẻ trần trụi, người bệnh,
kẻ tù phạm (x Mt 25:34-36) là làm cho chính Chúa Giêsu” (Đoạn
4).
Phần
Kitô hữu Công giáo chúng ta, đôi khi chúng ta khiêm nhượng quá
đến trốn tránh trách nhiệm, đến sống phản lại
sự thật.
Điển hình nhất là việc thực hành ơn gọi Sống Thánh Chứng
Nhân của
chúng ta đây. Không phải hay sao, trong khi Chúa Giêsu
bảo chúng ta rằng “Các con là ánh sáng thế gian”, thế mà có ai
trong Kitô
hữu chúng ta dám tự nhận mình “là ánh sáng thế gian” không?
Chính vì chúng ta không dám nhận mình “là ánh sáng thế
gian”,
hay thậm
chí phủ nhận căn tính Kitô giáo “là ánh sáng thế gian”,
là truyền giáo, là làm tông đồ, làm chứng nhân cho Chúa Kitô
như thế, mà
chúng ta đã tiếp tục sống tầm thường, sống phản lại với
tinh thần của Chúa Kitô, sống trong tăm tối, theo khuynh hướng
dễ dãi tự nhiên, theo xác thịt phản lại Thần Linh ban sự
sống.
Phải,
chỉ khi nào chúng ta dám chân nhận mình tôi “là ánh sáng thế
gian”, chúng ta mới nỗ lực làm gương sáng, mới
có thể tỏa
Chúa Kitô “là ánh sáng thế gian” ra, mới trở thành chứng
nhân trung thực phản ảnh Chúa Kitô, mới phát tỏa Tin
Mừng Sự Sống
cho thế gian vốn yêu chuộng tối tăm hơn ánh sáng này.
Nếu đức ái trọn hảo của Kitô giáo “là ánh sáng thế gian” thì
ánh sáng
đức ái này được chiếu tỏa từ ngọn đèn đức tin. Đức ái
càng sáng chứng tỏ đức tin càng mạnh và sự sống nội tâm càng
dồi dào nơi
thành phần Kitô hữu môn đệ Chúa Kitô. Nếu đức tin thuộc
về hay liên quan đến đời sống nội tâm cầu nguyện thì
đức ái
thuộc về
hay liên quan tới đời sống hoạt động tông đồ. Trong cuộc
chung thẩm, Vị Thẩm Phán Tối Cao Giêsu chỉ cần xem quả
biết cây (x
Mt 7:15-20), chỉ cần phán xét đức ái là biết đức tin
của con người (x Mt 25:34-37): cả hai thành phần chiên và dê
đều trả
lời không thấy Chúa, nhưng thành phần chiên dù không
thấy vẫn làm việc bác ái.
Đó là hình ảnh một con chiên Têrêsa Calcutta, dù không
thấy Chúa, tức nội tâm của con chiên này bị tối tăm cả
nửa đời
người (1947-1997),
tức suốt thời gian phục vụ người nghèo, không thấy Chúa
đâu, nhưng vẫn hăng say làm việc bác ái, vẫn lấy đức
tin nhìn
nhận Người nơi “những người anh em hèn mọn nhất” của
Người tại miền
đất bần cùng nhất trên thế giới. Chính việc bác ái Kitô
hữu thực hiện chứng tỏ họ thực sự yêu mến Thiên Chúa,
hay thực
sự họ nhận
biết Thiên Chúa, một Thiên Chúa chân thật duy nhất là
Đấng họ phải kính mến hết mình, “hết lòng muốn, hết linh
hồn,
hết trí
khôn và hết sức lực”, như Chúa Giêsu tái xác nhận với
người luật sĩ trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này. Và
chính
kiến thức thần
linh, được sáng tỏ qua đức bác ái, đã cho thấy người
Kitô hữu này đã thực sự sống dồi dào “sự sống đời đời
là nhận
biết Cha
là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha sai là Giêsu
Kitô” (Jn 17:3).
Đaminh
Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
|
|