SUY NIỆM CHÚA NHẬT II PHỤC SINH,
NĂM B
TÍN THÁC LÒNG THƯƠNG XÓT
CHÚA NHẬT II PHỤC SINH, NĂM B
Tín thác vào lòng thương xót của Thiên Chúa là điều vô cùng quan trọng, vì thế nên chính Chúa Giêsu đã dạy Thánh nữ Maria Faustina Kowalska (1905-1938, Dòng Đức Mẹ Thương Xót – O.L.M., Our Lady of Mercy) – và cũng dạy mỗi chúng ta: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài.” Chính Ngài muốn Giáo Hội đặc biệt tôn kính Lòng Chúa Thương Xót (LCTX) vào Chúa Nhật đầu tiên sau Lễ Phục Sinh – tức là CN II PS, và Ngài hứa 10 điều quý báu. Trong Nhật Ký, số 699, Thánh Nữ Faustina cho biết:
1. Vào ngày đó, mọi chiều sâu thẳm nhất về Lòng Nhân Từ của Ta sẽ được rộng mở ra.
2. Ta sẽ tuôn đổ ra cả một đại dương về ơn huệ trên tất cả những linh hồn nào tiếp cận với Nguồn Suối Nhân Từ của Ta qua Bí Tích Hòa Giải và Rước Mình Thánh Chúa.
3. Linh hồn nào đi xưng tội trước đó và lãnh nhận Thánh Thể vào ngày lễ này sẽ lãnh nhận được sự tha thứ trọn vẹn của Ta, thoát khỏi mọi án phạt về tất cả các tội đã phạm.
4. Vào ngày lễ này, tất cả mọi cánh cửa về ơn huệ của Thiên Chúa sẽ được mở rộng ra cho tất cả mọi người.
5. Đừng để một tâm hồn nào phải sợ hãi khi đến gần Ta, thậm chí ngay cả khi người đó đầy các tội lỗi tày trời.
6. Lòng Nhân Từ của Ta cao vời đến nỗi không một tâm trí nào của loài người hoặc thiên thần có thể hiểu và đo lường được mãi cho đến muôn đời.
7. Trong mối quan hệ với Ta, mỗi tâm hồn sẽ suy niệm về tình thương và lòng nhân từ của Ta đến muôn đời.
8. Ngày lễ kính Lòng Thương Xót được nổi bật lên từ chiều sâu thẳm Lòng Nhân Từ của Ta.
9. Mong ước của Ta là ngày lễ này được trọng thể cử hành vào Chúa Nhật đầu tiên sau Lễ Phục Sinh.
10. Nhân loại sẽ không có hòa bình cho đến khi nào biết quay về Nguồn Suối Nhân Từ của Ta.
Quả thật, Thiên Chúa rất yêu thương chúng ta nên tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng ta. Vâng, Ngài yêu thương đến tận cùng, chính cái chết trên Thập Giá là minh chứng hùng hồn về tình yêu thương đó, vấn đề là chúng ta có thành tâm đón nhận và tín thác vào Ngài hay không.
Trong Phúc Âm có nhiều dụ ngôn nói về LCTX, nhưng nhân vật “nổi bật” được nhắc tới là tông đồ Tôma – nickname là “Người Cứng Lòng Tin.” Nhưng đó chỉ là “chuyện nhỏ,” vì chính Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, đã thể hiện lòng thương xót trên Can-vê, chính “người trộm lành” Dismas là người đầu tiên được hưởng LCTX ngay chiều hôm đó. Bất cứ ai thật lòng tin vào LCTX, điều kỳ diệu sẽ xảy ra ngay lập tức.
Người ta sống nhờ tin. Điều đó chứng tỏ rằng đức tin quan trọng và cần thiết. Một lần nọ, Chúa Giêsu đã xác định với Mácta: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết.” (Ga 11:25-26) Chúa Giêsu đã sống lại trước sự kinh ngạc của mọi loài, nhờ sự phục sinh của Ngài mà mọi loài nên mới, tưng bừng vui mừng: “Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ.” (Tv 118:24)
Có lẽ ai trong chúng ta cũng vẫn còn non yếu về đức tin, nhưng có điều chắc chắn hằng ngày chúng ta vẫn được hưởng LCTX. Thánh Vịnh gia nhắc nhở: “Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở.” (Tv 118:1) Đó là lòng thương xót. Hạnh phúc tiếp tục dâng cao, lan tỏa, chúng ta không thể không tạ ơn.
Kinh Thánh cho biết rằng, sau khi Chúa Giêsu phục sinh và lên trời, “cộng đoàn tín hữu đầu tiên đông đảo lắm, nhưng họ chỉ có MỘT LÒNG MỘT Ý, không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, mọi sự đều là của chung.” (Cv 4:32) Sự hiệp nhất thật tuyệt vời, như một thế giới đại đồng. Đó là họ sống theo di ngôn của Chúa Giêsu: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 13:34; Ga 15:12) Đó cũng chính là sống và thực thi lòng thương xót theo Thánh Ý Chúa. Bất cứ ai cũng đã và đang được Thiên Chúa thương xót, thế thì không thể không thương xót nhau.
Mọi thứ phát xuất từ Thiên Chúa. Kinh Thánh cho biết: “Nhờ quyền năng mạnh mẽ Thiên Chúa ban, các Tông Đồ làm chứng Chúa Giêsu đã sống lại. Và Thiên Chúa ban cho tất cả các ông dồi dào ân sủng. Trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tuỳ theo nhu cầu.” (Cv 4:33-35) Có Chúa, sống vì Chúa và vì tha nhân, người ta sẽ thanh thản và bình an. Đó mới là hạnh phúc và tự do đích thực, và được tận hưởng ngay ở đời này.
Tình yêu Thiên Chúa và lòng thương xót của Ngài luôn được đề cập rất nhiều lần trong Kinh Thánh: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” (Tv 118:2-4) Đặc biệt là Tv 136, có 26 câu thì câu nào cũng nhắc lại điệp ngữ đó. Bất kỳ ai, từ dân Ítraen tới nhà Aharon, từ người kính sợ Chúa tới tội nhân, cũng đều hân hoan xưng tụng như vậy. Lời xưng tụng đó cũng chính là lời xưng tụng LCTX bao la muôn thuở. Không xưng tụng sao được, bởi vì “tay hữu Chúa đã ra oai thần lực, tay hữu Chúa giơ cao, tay hữu Chúa đã ra oai thần lực,” nhờ vậy mà “tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống, để loan báo những công việc Chúa làm,” và dù “Chúa sửa phạt tôi, nhưng không nỡ để tôi phải chết.” (Tv 118:16-18) Quả thật, lòng thương xót của Thiên Chúa quá bao la, quá nhân từ, quá diệu kỳ, chúng ta không thể hiểu thấu.
Chắc chắn không ai hiểu hết, bởi vì LCTX vượt quá trí hiểu của phàm nhân: “Như trời xanh trổi cao hơn mặt đất, tình Chúa thương kẻ thờ Người cũng trổi cao.” (Tv 103:11) Thật vậy, Thiên Chúa đã tuyên phán qua miệng ngôn sứ Isaia: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ.” (Is 49:15) LCTX cao vời khôn ví, chúng ta chỉ còn biết cúi đầu tôn kính và cảm tạ. Bức tượng không thể hiểu nổi hoặc đòi hỏi gì ở người tạc tượng. Thụ tạo không thể hiểu nổi Tạo Hóa – Tạo Vật, Ông Trời, Thiên Chúa. Chắc chắn như vậy. Và điều kỳ diệu đã thực sự xảy ra: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.” (Tv 118:22-23)
Thánh Gioan, con người của tình yêu, đã lý luận rất lô-gích: “Phàm ai tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, kẻ ấy đã được Thiên Chúa sinh ra. Và ai yêu mến Đấng sinh thành thì cũng yêu thương kẻ được Đấng ấy sinh ra. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được mình yêu thương con cái Thiên Chúa: đó là chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thi hành các điều răn của Người.” (1 Ga 5:1-2) Yêu thương liên quan niềm tin – và ngược lại. Hai vấn đề không thể tách rời nhau.
Thánh Gioan biện luận: “Yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Người. Mà các điều răn của Người có nặng nề gì đâu, vì mọi kẻ đã được Thiên Chúa sinh ra đều thắng được thế gian. Và điều làm cho chúng ta thắng được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta.” (1 Ga 5:3-4) Yêu và Tin như hai đầu của một sợi dây, không thể có đầu này mà không có đầu kia. Nghe rất đơn giản, luật rất “nhẹ” (có nặng nề gì đâu) mà lại không hề đơn giản chút nào. Nguyên nhân cản trở là chính “cái tôi” của chúng ta, nó gây rắc rối đủ kiểu.
Thánh Gioan cho biết về nguồn đức tin: “Ai là kẻ THẮNG được thế gian, nếu không phải là người TIN rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa? Chính Đức Giêsu Kitô là Đấng đã đến, nhờ NƯỚC và MÁU; không phải chỉ trong nước mà thôi, nhưng trong nước và trong máu. Chính Thần Khí là chứng nhân, và Thần Khí là sự thật.” (1 Ga 5:5-6) Nói kiểu nào cũng vẫn liên quan đức tin, có tin thì mới hành động: Sống yêu thương để minh chứng LCTX.
Trình thuật Ga 20:19-31 kể về chuyện “cứng lòng tin” của tông đồ Tôma – Điđymô. Ông là người đa nghi, theo thuyết thực nghiệm. Cái gì cũng phải rạch ròi như 2 với 2 là 4 vậy.
Thánh Gioan cho biết: Tám ngày sau khi Chúa Giêsu sống lại, vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” Nói xong, Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Ngài lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy thì Thầy cũng sai anh em.” Nói xong, Ngài thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”
Không biết ông Tôma bận chuyện gì mà vắng mặt hôm đó, không hiện diện với các tông đồ khác. Khi nghe các bạn nói Thầy sống lại và đã hiện ra với họ, ông nhất định không tin, cương quyết: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Ngài, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Ngài, tôi chẳng có tin.” Thế thì “bó tay” thôi!
Đá cũng chẳng mồ hôi và cũng mòn vì nức chảy qua. Một tuần sau, các tông đồ lại họp mặt trong nhà, lần này có Tôma. Các cửa vẫn đóng kín, thế mà Đức Giêsu bất ngờ xuất hiện, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em.” Rồi Ngài nói ngay với Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Thật ngại quá chừng, chắc là ông Tôma chẳng dám sờ thử đâu. Có lẽ vậy nên ông cúi đầu thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Chúa Giêsu nói: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!”
Trong cái may lại có cái xui, trong cái xui vẫn có cái may. Cũng nhờ ông Tôma cứng lòng tin mà chúng ta có thêm một mối phúc: “Không thấy mà tin.” Thật lạ quá chừng!
Và Thánh Gioan kết luận: “Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.” (Ga 20:30-31) Chính Chúa Giêsu cũng đã từng nói với Thánh Faustina: “Trước khi Ta đến như một Thẩm Phán công bình, Ta sẽ mở rộng Cửa của Lòng Thương Xót. Ai từ chối bước qua Cửa của Lòng Thương Xót thì phải bước qua Cửa của Sự Công Bình.” (Nhật Ký, 1146)
Thời Cuối Cùng đang diễn tiến, mỗi người phải tự “liệu hồn” mà sám hối khi còn trong thời gian của Giờ Thưng Xót, vì Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn chờ đợi những con chiên chưa cùng một ràn chiên...
Tình yêu Thiên Chúa vô biên và tuyệt đối, Chúa Giêsu quyết yêu thương chúng ta tới cùng, (Ga 13:1) không chỉ chịu chết để giải thoát chúng ta, mà Ngài còn tìm mọi cách để chúng ta được cứu độ. Thánh Faustina cho biết rằng Chúa Giêsu bảo thánh nữ lần chuỗi Lòng Thương Xót trong chín ngày trước Đại Lễ LCTX, bắt đầu từ Thứ Sáu Tuần Thánh: “Nhờ tuần cửu nhật này, Ta sẽ ban mọi ân sủng cho các linh hồn.” (Nhật Ký, 796)
Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, xin tái tạo chúng con nên mới theo đúng Thánh Ý Ngài, xin giúp chúng con biết thể hiện lòng thương xót với bất cứ ai, và xin giúp chúng con kiên trì tin yêu đến hơi thở cuối cùng. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU
▶ Xin Biết Xót Thương – https://youtu.be/EdzMLxMMSmI
THẦN TÍNH CỦA CHÚA GIÊSU TRONG SÁCH KHẢI HUYỀN
CHÚA NHẬT II PHỤC SINH, NĂM B
Hãy tưởng tượng cảnh này: Có người tới gõ cửa nhà bạn và hỏi bạn có tin Đức Giêsu là Thiên Chúa hay không. Bạn nói với họ rằng bạn tin. Sau đó họ yêu cầu bạn chứng minh điều đó từ Kinh Thánh. Bạn nên làm gì? Bạn nên trích dẫn câu Kinh Thánh nào? Đối với nhiều người trong chúng ta, bản năng đầu tiên có lẽ là chỉ đưa ra những câu rõ ràng có chữ “Thiên Chúa” để nói về Đức Giêsu, chẳng hạn: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa.” (Ga 1:1) và “Thiên Chúa đã phán với ông Môsê: Ta muốn thương xót ai thì thương xót, muốn cảm thương ai thì cảm thương.” (Rm 9:5)
Nói chung, đó là những bằng chứng Kinh Thánh rõ ràng và thuyết phục nhất về thần tính của Ngài, nhưng nếu chúng ta tìm hiểu sâu hơn một chút thì hoàn toàn không như chúng ta tưởng.
Người ta thường biết về những đoạn văn đó và chuẩn bị đưa ra những lời giải thích thay thế về chúng – thường xoay quanh các kỹ thuật của ngữ pháp tiếng Hy Lạp cổ đại. Mặc dù bạn cố gắng đọc đi xem lại các bản dịch và ý nghĩa của các văn bản đó, nhưng đó không phải là lựa chọn duy nhất. Tân Ước cũng dạy về thần tính của Đức Giêsu theo những cách khác, tinh vi hơn nhiều, và người ta thường không được chuẩn bị kỹ càng. Trên thực tế, theo kinh nghiệm của tôi, các lập luận đó hiệu quả hơn nhiều so với các lập luận mà người ta thường sử dụng, vì vậy hãy xem xét một trong số trường hợp và xem sách Khải Huyền dạy về thần tính của Đức Giêsu một cách tinh tế mà dứt khoát như thế nào.
TÔN THỜ THIÊN CHÚA
Trong chương 4 của sách Khải Huyền, Thánh Gioan nhìn thấy mặc khải về sự tôn thờ khi thấy Thiên Chúa ngự trên ngai vàng và các sinh vật trên trời xung quanh ngai vàng tôn thờ Ngài không ngừng. (Kh 4:1-11) Sau đó, trong chương tiếp theo, Đức Giêsu xuất hiện, “một Chiên Con, trông như thể đã bị giết,” (Kh 5:6) và các thụ tạo tôn thờ Thiên Chúa trong chương trước, giờ đây đang phủ phục trước Đức Giêsu và thờ lạy Ngài. (Kh 5:8-12) Ở cuối chương này, Thánh Gioan thấy “mọi loài thụ tạo trên trời, dưới đất, trong lòng đất, ngoài biển khơi và vạn vật ở các nơi đó” cùng tôn thờ Thiên Chúa và Đức Giêsu: “Xin kính dâng Đấng ngự trên ngai và Con Chiên lời chúc tụng cùng danh dự, vinh quang và quyền năng đến muôn thuở muôn đời!” (Kh 5:13-14)
Ngay cả khi đọc lướt qua mặc khải này cũng cho thấy rõ rằng Đức Giêsu không chỉ là một người như thiên thần hoặc như chúng ta. Đúng hơn, chính Ngài thực sự là thần thánh, và một vài điều chứng minh điều đó. Để bắt đầu, Ngài nhận được sự tôn thờ như Thiên Chúa. Hãy xem hai lời này:
1. “Con Chiên đã bị giết nay xứng đáng lãnh nhận phú quý và uy quyền, khôn ngoan cùng sức mạnh, danh dự với vinh quang, và muôn lời cung chúc.” (Kh 4:11)
2. “Xin kính dâng Đấng ngự trên ngai và Con Chiên lời chúc tụng cùng danh dự, vinh quang và quyền năng đến muôn thuở muôn đời!” (Kh 5:12)
Hãy lưu ý rằng cả Đức Giêsu và Thiên Chúa đều được gọi là “xứng đáng,” và Đức Giêsu xứng đáng nhận mọi thứ mà Thiên Chúa nhận được: vinh quang, danh dự và quyền năng. Rõ ràng đây là hai trường hợp của cùng một cách tôn thờ, vì vậy rõ ràng Đức Giêsu thực sự là Thiên Chúa.
CÙNG ĐƯỢC TÔN THỜ
Nhưng đó không phải là tất cả. Hãy nhớ rằng, ngay sau đó, Thánh Gioan thấy Thiên Chúa và Đức Giêsu cùng được tôn thờ: Tôi lại nghe mọi loài thụ tạo trên trời, dưới đất, trong lòng đất, ngoài biển khơi và vạn vật ở các nơi đó, tất cả đều tung hô: “Xin kính dâng Đấng ngự trên ngai và Con Chiên lời chúc tụng cùng danh dự, vinh quang và quyền năng đến muôn thuở muôn đời!” Bốn Con Vật thưa: “Amen.” Và các Kỳ Mục phủ phục xuống thờ lạy. (Kh 5:13-14)
Có thêm một bước nữa. Đức Giêsu không chỉ được tôn thờ giống như Thiên Chúa, mà ngài còn được tôn thờ cùng với Thiên Chúa, và điều đó có khá nhiều dấu ấn đối với chúng ta. Bạn không thể tôn thờ Đức Giêsu theo cách giống như Thiên Chúa và cùng với Thiên Chúa mà lại không tin Ngài cũng là Thiên Chúa.
KHÔNG TÔN THỜ CÁC THIÊN THẦN
Nhưng ngay cả điều đó vẫn chưa phải là tất cả. Mặc dù những chương này tự nó đã khá quyết định, nhưng thần tính của Đức Giêsu càng trở nên rõ ràng hơn khi chúng ta đọc những điều đó trong bối cảnh của toàn bộ cuốn sách. Trong sách Khải Huyền, Thánh Gioan hai lần ấn tượng bởi sự uy nghiêm của một thiên thần đến nỗi ngài phải phủ phục trước thiên thần, và cả hai lần thiên thần đều bảo Gioan đứng dậy và chỉ được phép tôn thờ Thiên Chúa mà thôi. (Kh 19:10, 22:8-9)
Tất nhiên, điều này gợi lên một vấn đề. Nếu chúng ta phải tôn thờ Thiên Chúa hơn là các thụ tạo, tại sao không ai có vấn đề về việc Đức Giêsu được tôn thờ? Nếu Đức Giêsu không là Thiên Chúa, đó là sự giám sát lớn đối với mọi nhân vật trong sách Khải Huyền, từ Gioan cho đến chính Thiên Chúa. Mặt khác, nếu Đức Giêsu thực sự là thần thánh, điều đó hoàn toàn hợp lý. Chúng ta không thể tôn thờ các thụ tạo, nhưng chúng ta tôn thờ Đức Giêsu vì ngài là Thiên Chúa.
AI TÔN THỜ THIÊN CHÚA?
Nếu vẫn còn bất kỳ mối nghi ngờ nào, chúng ta hãy cân nhắc điểm cuối cùng. Điều quan trọng là phải để ý xem ai tôn thờ Chúa trong cảnh mở đầu đó. Trước hết, đó là các sinh vật trên trời đứng xung quanh ngai vàng của Ngài, (Kh 4:1-11) và sau đó là “mọi loài thụ tạo trên trời, dưới đất, trong lòng đất, ngoài biển khơi và vạn vật ở các nơi đó.” (Kh 5:13) Nhưng nếu chúng ta đọc kỹ đoạn văn, có một người vắng mặt đáng chú ý: Đức Giêsu.
Thật vậy, chúng ta thấy Thiên Chúa được tôn thờ nhiều lần trong suốt cuốn sách, (ví dụ, Kh 7:11-12, 11:16-18) nhưng Khải Huyền không bao giờ mô tả Đức Giêsu tôn thờ Ngài. Có những lúc Đức Giêsu được tôn thờ cùng với Thiên Chúa, và có những lúc các thụ tạo tôn thờ Thiên Chúa trước sự hiện diện của Đức Giêsu, (Kh 7:9-12) nhưng không có cảnh nào trong toàn bộ cuốn sách mà Đức Giêsu cùng họ tôn thờ Thiên Chúa.
Nếu Đức Giêsu chỉ là một sinh vật được tạo ra thì điều này rất khó hiểu. Tất cả các sinh vật phải tôn thờ người cai trị tối cao và người tạo ra tất cả những gì hiện hữu, vì vậy bạn sẽ mong đợi Đức Giêsu tham gia vào sự tôn thờ này ít nhất một lần. Nhưng Ngài không làm vậy, thế nên chỉ có một lời giải thích duy nhất có thể có ý nghĩa về sự bất thường rõ ràng này: Đức Giêsu không tôn thờ Thiên Chúa vì chính Ngài là một Ngôi Vị Thiên Chúa.
ĐỨC GIÊSU LÀ THIÊN CHÚA
Khi tổng hợp tất cả những điều này, chúng tôi thấy một điều gì đó đáng chú ý. Đây không chỉ là một đoạn Kinh Thánh mà người ta có thể dịch hoặc giải thích theo cách khác, mà đây là một chủ đề trải dài trong toàn bộ Tân Ước. Chúng tôi đã tìm hiểu sách Khải Huyền nói gì về sự tôn thờ và chúng tôi đã thấy nhiều cách diễn đạt về chủ đề đó. Chúng tôi đã xem xét ai tôn thờ và ai không tôn thờ Thiên Chúa, cũng như những ai chúng ta nên và không nên tôn thờ, mỗi bước trong cuộc hành trình của chúng tôi đều đưa ra cùng một kết luận: Đức Giêsu là Thiên Chúa.
Vì vậy, giống như một sợi dây thừng chắc hơn bất kỳ một tao dây đơn nào, lập luận này mạnh hơn nhiều so với chỉ một đoạn đơn lẻ. Ngay cả khi có thể giải thích một trong các yếu tố này, người ta không có cách nào để giải thích toàn bộ ngụ ý rõ ràng của chủ đề. Khi nói đến việc tôn thờ Thiên Chúa trong sách Khải Huyền, Đức Giêsu không đứng về phía thụ tạo, phía người tôn thờ. Không, Ngài ở phía được tôn thờ, vì vậy chúng ta có thể tin rằng Ngài thực sự là Thiên Chúa, như truyền thống Giáo Hội dạy suốt hai ngàn năm qua.
JP NUNEZ
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)
Bát Nhật Phục Sinh – 2021
VÔ ĐIỀU KIỆN
(Chúa Nhật II Mùa Chay, năm B-2018)
Trong đời sống hàng ngày, vâng lời là điều không dễ thực hiện, nói thẳng ra là rất khó. Tại sao vậy? Bởi vì “cái tôi” luôn to lớn khiến người ta tự ái, cảm thấy vâng lời người khác là yếu thế, bị lép vế.
Khó vâng lời không có nghĩa là không thể vâng lời, khó mà làm được mới đáng khen, thế nên vâng lời là một nhân đức quan trọng, nhất là đối với các Kitô hữu. Đức vâng lời liên quan đức khiêm nhu. Chính Chúa Giêsu đã nêu gương: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” (Mt 26:42).
Dẹp được “cái tôi” là vượt qua chính mình để sẵn sàng vâng lời – vô điều kiện chứ không có điều kiện, thì dễ nên thánh. Ngày xưa, ông Samuel đã đặt vấn đề với vua Sa-un: “Đức Chúa có ưa thích các lễ toàn thiêu và hy lễ như ưa thích người ta vâng lời Đức Chúa không? Này, vâng phục thì tốt hơn là dâng hy lễ, lắng nghe thì tốt hơn là dâng mỡ cừu” (1 Sm 15:22; x. Tv 50:8-9). Đức vâng lời rất quan trọng! Thật vậy, vâng lời là một trong ba (hoặc bốn, hoặc năm, tùy dòng) lời khấn của các tu sĩ: Vâng lời, khó nghèo, khiết tịnh (thanh tuân, thanh bần, thanh tịnh). Trong đời sống gia đình và xã hội, con cái phải biết vâng lời cha mẹ, người nhỏ phải biết vâng lời người lớn, nhân viên phải biết vâng lời giám đốc,… Nếu không vâng lời thì mọi thứ mất trật tự.
Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư yên – chỉ ba người thôi cũng có người có thể làm thầy, tức là người đó có thể hướng dẫn người khác, và chắc hẳn hai người kia phải nghe theo lời hay lẽ phải của họ. Tất nhiên vâng lời phải theo nghĩa tích cực, không thể vâng lời khi người trên dạy làm sai do độc đoán, áp chế.
ĐỪNG ĐẮN ĐO !
Đức vâng lời của tổ phụ Ápraham thật là tuyệt vời, không so đo, không nghi ngờ, không thắc mắc. Trình thuật St 22:1-2, 9-13, 15-18 cho biết về đức tin tuyệt đối của ông.
Sau một thời gian, hết chuyện nọ tới chuyện kia, Thiên Chúa tiếp tục thử lòng ông Ápraham. Nghe Đức Chúa gọi đúng tên và ông liền thưa: “Dạ, con đây!”. Ngài truyền lệnh: “Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là Ixaác, hãy đi đến xứ Môrigia mà dâng nó làm lễ toàn thiêu ở đấy, trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho”.
Ông Ápraham chỉ có một đứa con cầu con khẩn, một con trai rất yêu dấu, mà theo tục lệ Do Thái, “anh Hai” rất quan trọng vì là con thừa tự và có quyền trưởng nam, thế mà Thiên Chúa lại bảo dâng chính đứa con đó làm lễ toàn thiêu. Căng quá! Thế nhưng ông Ápraham vẫn không hề đắn đo, không hề thắc mắc, không hề nghi ngờ, không hề tiếc nuối, mà ông lại sẵn sàng tuân phục lệnh truyền của Thiên Chúa một cách mau mắn, dứt khoát, không chút ngần ngại hoặc chần chừ.
Quyết định và làm ngay. Ông chuẩn bị mọi thứ và dẫn con trai theo. Khi tới nơi Thiên Chúa đã chỉ, ông Ápraham dựng bàn thờ tại đó, xếp củi lên, trói Ixaác con ông lại, và đặt lên đống củi trên bàn thờ. Rồi ông Ápraham lấy dao để sát tế con mình. Gay cấn quá! Nhưng sứ thần của Đức Chúa từ trời gọi đích danh ông, và ông cũng lại liền thưa: “Dạ, con đây!”. Ông nghe tiếng Người nói: “Đừng giơ tay hại đứa trẻ, đừng làm gì nó! Bây giờ Ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa: đối với Ta, con của ngươi, con một của ngươi, ngươi cũng chẳng tiếc!”. Ôi, một niềm tin trong ngần như pha lê và hoàn toàn tuyệt đối. Nhờ niềm tin như vậy mà ông được kể là người công chính.
Thật là trên cả tuyệt vời! Ông Ápraham ngước mắt lên nhìn, ông thấy phía sau có con cừu đực bị mắc sừng trong bụi cây. Ông Ápraham liền đi bắt con cừu ấy mà dâng làm lễ toàn thiêu thay cho con mình. Sứ thần của Đức Chúa từ trời gọi ông Ápraham một lần nữa và nói: “Đây là sấm ngôn của Đức Chúa, Ta lấy chính danh Ta mà thề: Bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển. Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ cầu chúc cho nhau được phúc như dòng dõi ngươi, chính vì ngươi đã vâng lời Ta”. Thiên Chúa hứa bất cứ điều gì thì đều ứng nghiệm và nên trọn.
Cũng dễ hiểu rằng người ta càng tin tưởng thì càng dễ dàng dứt khoát và mau mắn vâng lời. Thánh vịnh gia đã bộc bạch: “Tôi đã tin cả khi mình đã nói: Ôi nhục nhã ê chề!” (Tv 116:10). Bị nhục nhã ê chề mà còn tin được sao? Thật khó quá! Đúng vậy, thường thì chúng ta chỉ tạ ơn Chúa khi mình được ơn này, ơn nọ, vì thấy “hợp ý mình”, còn nếu “trái ý mình” thì chắc hẳn chúng ta không muốn tạ ơn Chúa, cho vậy là “phi lý”, thậm chí có người còn có thể trách Chúa.
Tuy nhiên, nếu suy cho thấu đáo, chúng ta sẽ khả dĩ chân nhận tất cả đều là Hồng ân Thiên Chúa, bởi vì như Thánh Vịnh gia xác định: “Thân này là tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi” (Tv 116:16). Do đó, chúng ta càng phải biết “dâng lễ tạ ơn, và kêu cầu thánh danh Đức Chúa” (Tv 116:17). Vâng lời và tạ ơn Chúa không chỉ là bổn phận mà còn là niềm hãnh diện và hạnh phúc của mỗi chúng ta – những “hạt bụi” nhỏ bé nhưng vẫn đáng giá vì được Thiên Chúa tạo nên.
Quả thật, hạt bụi phàm nhân trở nên hạt ngọc của Thiên Chúa. Lạ lùng lắm! Trong trình thuật Rm 8:31-34, Thánh Phaolô đặt ra một loạt câu hỏi: “Vậy còn phải nói gì thêm nữa? Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta? Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta? Ai sẽ buộc tội những người Thiên Chúa đã chọn? Chẳng lẽ Thiên Chúa, Đấng làm cho nên công chính? Ai sẽ kết án họ? Chẳng lẽ Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết, hơn nữa, đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta?”.
Và chính những câu hỏi đó cũng chính là những câu trả lời rạch ròi và chính xác về thân phận của chúng ta. Đúng là không phải nói gì thêm nữa! Vô tri bất mộ – không biết chẳng yêu, nhưng một khi biết rồi thì không thể không yêu mến, không cậy tin, và không ngần ngại xác định: “Giờ đây con biết đợi trông gì, lạy Chúa, hy vọng của con đặt ở nơi Ngài” (Tv 39:8).
CON CỦA CHÚA
Trình thuật Mc 9:2-10 (tương đương Mt 17:1-8; Lc 9:28-36) kể lại cuộc biến hình của Chúa Giêsu trên núi Tabor. Hôm đó, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo tới một ngọn núi cao. Bỗng nhiên Ngài biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Ngài mặc trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy. Các ông còn thấy có ông Êlia và ông Môsê hiện ra đàm đạo với Đức Giêsu. Các ông được thấy “hiện tượng lạ” không chỉ là người “may mắn” mà còn là người có trọng trách nặng nề hơn, đó là sự công bằng. Thật vậy, bất cứ tặng phẩm nào cũng gắn liền với trách nhiệm nào đó, như tục ngữ Việt Nam nói: “Cây càng cao, gió càng lay”. Biết vậy để khiêm nhường chứ không để ỷ lại mà kiêu sa.
Được tận mắt chứng kiến sự lạ lùng đó, ông Phêrô rất phấn khởi, đến nỗi ông phải thưa ngay với Sư Phụ Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia”. Chắc chắn không ai có thể trì hoãn sự sung sướng, nhất lạ khi hưng phấn cao độ. Vừa kinh hoàng vừa hạnh phúc tột đỉnh bởi vì được “nếm thử” vinh quang Thiên Đàng, ông Phêrô không còn nhớ đến hai anh bạn bên cạnh và quên luôn cả chính mình, chỉ muốn dựng lều cho Chúa Giêsu, cho ông Môsê và ông Êlia mà thôi.
Sự lạ nối tiếp, sự ngạc nhiên cũng nối tiếp. Bất chợt có đám mây bao phủ các ông, và có tiếng nói vọng ra: “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người”. Chính Thiên Chúa truyền dạy chúng ta phải vâng lời Đức Kitô – Đấng vừa là “Con Cưng” của Chúa Cha vừa là Ngôi Hai Thiên Chúa, nhưng vẫn thực hiện đức vâng lời tuyệt đối. Điều đó chứng tỏ Thiên Chúa rất quý trọng đức vâng lời, và chính Ngài cũng “đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:8). Không hề đơn giản, và cũng không thể cứ tà tà hoặc cứ khơi khơi mà “thuộc lòng” bài học vâng phục để có thể thành nhân!
Niềm vui sướng trào dâng, niềm hạnh phúc đang lâng lâng khó tả, tuyệt vời biết bao! Nhưng bất chợt các ông nhìn quanh thì không thấy ai nữa, chỉ còn Đức Giêsu với các ông mà thôi. Hẳn là các ông còn dư âm niềm hạnh phúc ấy và chắc là tiếc những giây phút kia lắm. Ở trên núi xuống, Đức Giêsu truyền cho các ông không được kể lại cho ai nghe những điều vừa thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại. Các ông tuân lệnh đó nên giữ bí mật riêng, nhưng vẫn bàn hỏi nhau xem câu “từ cõi chết sống lại” nghĩa là gì. Con người thật yếu đuối, vừa thấy nhãn tiền vinh quang Nước Trời mà vẫn chưa đủ lòng tin!
Hạnh phúc không thể dừng lại ở đó – trên đỉnh Tabor, mà hạnh phúc còn phải trải qua nhiều đau khổ cho tới đỉnh Can-vê – nơi tang thương và chết chóc: chết cho chính mình, chết cho tha nhân và chết vì Chúa. Tình yêu nào không tiết ra chất hy sinh thì không là tình yêu đích thực, và cũng không thể có hạnh phúc thật. Chắc chắn như vậy!
Trình thuật Lv 19:11-18 nói về luật luân lý, cũng có thể coi như Luật Chay, bởi vì giữ chay là sống đúng các nguyên tắc về luân lý. Luật đó được ấn định qua 13 mệnh lệnh phủ định với chữ KHÔNG và 2 mệnh lệnh xác định với chữ PHẢI. Kinh Thánh ghi rõ:
“Các ngươi KHÔNG được trộm cắp, không được nói dối, KHÔNG được lừa gạt đồng bào mình. Các ngươi KHÔNG được lấy danh Ta mà thề gian: làm thế là các ngươi xúc phạm đến danh Thiên Chúa của các ngươi. Ta là Đức Chúa. Ngươi KHÔNG được bóc lột người đồng loại, không được cướp của; tiền công người làm thuê, ngươi KHÔNG được giữ lại qua đêm cho đến sáng. Ngươi KHÔNG được rủa người điếc, đặt chướng ngại cho người mù vấp chân, nhưng phải kính sợ Thiên Chúa của ngươi, Ta là Đức Chúa. Các ngươi KHÔNG được làm điều bất công khi xét xử: KHÔNG được thiên vị người yếu thế, cũng KHÔNG được nể mặt người quyền quý, nhưng hãy xét xử công minh cho người đồng bào. Ngươi KHÔNG được vu khống những người trong dòng họ, không được ra toà đòi người đồng loại phải chết. Ta là Đức Chúa. Ngươi KHÔNG được để lòng ghét người anh em, nhưng PHẢI mạnh dạn quở trách người đồng bào, như thế, ngươi sẽ khỏi mang tội vì nó. Ngươi KHÔNG được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi PHẢI yêu đồng loại như chính mình. Ta là Đức Chúa”.
Thực thi Luật Chay nhưng phải đúng cách, không thể theo kiểu đại khái hoặc cho qua lần, chiếu lệ. Thiên Chúa cảnh báo qua ngôn sứ Isaia: “Này, ngày ăn chay, các ngươi vẫn lo kiếm lợi, vẫn áp bức mọi kẻ làm công cho mình. Này, các ngươi ăn chay để mà đôi co cãi vã, để nắm tay đánh đấm thật bạo tàn. Chính ngày các ngươi muốn ăn chay để tiếng các ngươi kêu thấu trời cao thẳm thì các ngươi lại ăn chay không đúng cách” (Is 58:3b-4).
Thiên Chúa yêu thương và tha thứ cho chúng ta vô điều kiện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Như vậy, chúng ta cũng PHẢI ăn chay, đền tội, và tha thứ cho tha nhân vô điều kiện: “Anh em đã ĐƯỢC CHO KHÔNG thì cũng PHẢI CHO KHÔNG như vậy” (Mt 10:8). Đó là cách chứng tỏ lòng yêu mến Thiên Chúa tuyệt vời khiến Ngài vui lòng chúc lành cho chúng ta – hôm nay và mãi mãi.
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết sống khiêm nhường và vâng lời, đồng thời xin ban cho con thêm đức Tin, đức Cậy và đức Mến, để con có thể làm đẹp lòng Ngài và làm vui lòng tha nhân. Con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô, Thánh Tử Yêu Dấu của Cha, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU
+ PHỤ TRƯƠNG
Hình 1. Chiếc áo được coi là Chúa Giêsu đã mặc khi vác Thập Giá lên Can-vê. Áo này được giữ tại Nhà thờ Thánh Denis d’Argenteuil (Pháp).
Hình 2. Chén Thánh được coi là Chúa Giêsu dùng trong Bữa Tiệc Ly với các môn đệ. Năm 1982, ĐGH Gioan Phaolô II đã sử dụng Chén Thánh này tại Valencia, Tây Ban Nha.
Mầu nhiệm Lòng Chúa Thương Xót
(Chúa Nhật II Phục sinh, năm B)
Chúa Nhật II Phục sinh trước đây được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, nay được gọi là Chúa Nhật Lòng Chúa Thương Xót (LCTX). Hai cách gọi nhưng vẫn là một, không hề đối nghịch. Vả lại, đó cũng chính là ước muốn cú Chúa Giêsu đã mặc khải với Thánh Faustina.
Kinh thánh luôn nói đến LCTX, đặc biệt trong Phúc âm có một số dụ ngôn “điển hình” về Lòng Chúa Thương Xót: Người Samari Tốt Lành (Lc 10:30-37), Con Chiên Bị Mất (Lc 15:4-7), Đồng Bạc Bị Mất (Lc 15:8-10), và Người Cha Nhân Hậu (Lc 15:11-32).
Sách Công vụ Tông đồ cho biết: “Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung” (Cv 4:32). Đó là một thế giới đại đồng lý tưởng biết bao!
Alleluia! “Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118:24). Các Tông đồ đã có thể can đảm “làm chứng Chúa Giêsu đã sống lại”, đó là “nhờ quyền năng mạnh mẽ Thiên Chúa ban” và “Ngài ban cho tất cả các ông dồi dào ân sủng” (Cv 4:33). Đặc biệt, “trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tuỳ theo nhu cầu” (Cv 4:34-35).
Điều đó chứng tỏ người ta đầy Ơn Chúa và thực sự có Chúa trong tâm hồn. Khi có Chúa trong mình, người ta biết khước từ cái-TÔI-đáng-ghét, biết sống đại lượng hơn, biết CHO hơn là NHẬN, biết sống VỚI và sống VÌ người khác. Đó là cách sống mầu nhiệm Đức Kitô phục sinh.
“Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” là điệp ca trong Tv 118, đặc biệt trong Tv 136. Tác giả Thánh vịnh cho biết: “Chúng xô đẩy tôi, xô cho ngã, nhưng Chúa đã phù trợ thân này. Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi, chính Người cứu độ tôi” (Tv 118:13-14), bởi vì “tay hữu Chúa giơ cao, tay hữu Chúa đã ra oai thần lực” (Tv 118:15). Thiên Chúa luôn làm những việc lạ lùng, hoàn toàn “ngược đời”, ngoài sức tưởng tượng của con người: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường” (Tv 118:22). Vì “đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” và là “ngày Chúa đã làm ra”, nên chúng ta “hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118:23-24).
(1 Ga 5:1-6)
Thánh sử Gioan nói: “Ai tin Đức Giêsu là Đấng Kitô, kẻ ấy đã được Thiên Chúa sinh ra. Và ai yêu mến Đấng sinh thành, thì cũng yêu thương kẻ được Đấng ấy sinh ra” (1 Ga 5:1). Tôi được Thiên Chúa tái sinh, bạn cũng được Thiên Chúa tái sinh, vậy tôi phải yêu thương bạn, nếu không thì tôi là chỉ người ích kỷ và nói dối. Yêu thương cũng là thương xót. Thánh Gioan phân tích: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được mình yêu thương con cái Thiên Chúa: đó là chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thi hành các điều răn của Ngài. Quả thật, yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Người. Mà các điều răn của Người có nặng nề gì đâu, vì mọi kẻ đã được Thiên Chúa sinh ra đều thắng được thế gian” (1 Ga 5:2-4). Thánh Gioan nói “có nặng nề gì đâu”, thế nhưng lại không hề đơn giản, nếu không cầu nguyện và cố gắng thì không dễ thực hiện “luật nhẹ nhàng” ấy của Chúa.
Chúng ta thắng được thế gian là nhờ lòng tin, không tin thì không thể làm gì, điều này chứng tỏ lòng tin cực kỳ quan trọng, Chúa Giêsu đã luôn nhắc nhở về lòng tin. Thánh Gioan đặt vấn đề: “Ai là kẻ thắng được thế gian, nếu không phải là người tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa?” (1 Ga 5:5). Câu hỏi đó cũng chính là câu trả lời. Thánh Gioan giải thích luôn: “Chính Đức Giêsu Kitô là Đấng đã đến, nhờ Nước và Máu; không phải chỉ trong Nước mà thôi, nhưng trong Nước và trong Máu. Chính Thần Khí Chúa là chứng nhân, và Thần Khí Chúa là sự thật” (1 Ga 5:6). Máu và nước rất mềm nhưng lại không gì mạnh bằng, thiếu máu và nước thì không ai khả dĩ sống!
Chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” (Ga 20:19). Nói xong, Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn. Ngài cho các ông xem để trấn an và củng cố đức tin cho họ. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Ngài lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20:21). Rồi Ngài thổi hơi vào họ và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20:22-23). Ngài “sai đi” là Ngài trao trọng trách, nhưng Ngài cũng ban Chúa Thánh Thần để hỗ trợ chúng ta hằng ngày.
Chúa Giêsu đã dùng Máu và Nước để rửa sạch tội lỗi và tái sinh chúng ta, đồng thời ban Thần Khí Chúa để giúp chúng ta can đảm làm chứng về LCTX vô biên, vì Ngài biết chúng ta còn “yếu cơ” lắm!
Một người trong Nhóm Mười Hai là Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa!”. Ông Tôma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20:25). Động thái của ông Tôma cũng chính là động thái của chúng ta, vì đôi khi ngay lúc chúng ta nói tin nhưng hành động của chúng ta lại không chứng tỏ niềm tin đó, thậm chí là trái ngược!
Và tám ngày sau, các môn đệ lại có mặt trong nhà, lần này có cả ông Tôma. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em”. Rồi Ngài bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20:27). Ông Tôma hết hồn và choáng váng, liền thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20:28). Ông không nói tin hay không, nhưng câu “lạy Chúa” của ông đã nói lên tất cả. Đức Giêsu bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29). Nếu chúng ta thật lòng tin Chúa-Giêsu-tử-nạn-và-phục-sinh thì chúng ta có phúc hơn Tông đồ Tôma đấy!
Thánh sử Gioan kết luận: “Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Ngài” (Ga 20:30-31).
LCTX thật là mầu nhiệm biết bao! Chúng ta được tận hưởng LCTX thì chúng ta phải thực thi LCTX với tha nhân: “Phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Ep 4:32). Trong tâm tình đó, Tông đồ Giuđa gởi lời chúc tới tất cả chúng ta: “Chúc anh em được đầy tràn lòng thương xót, sự bình an và tình thương” (Gđ 1:2), và “hãy cố gắng sống mãi trong tình thương của Thiên Chúa, hãy chờ đợi lòng thương xót của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, để được sống đời đời” (Gđ 1:21).
Lạy Thiên Chúa hằng hữu, xin thương xót chúng con. Vì cuộc khổ nạn đau thương của Đức Giêsu Kitô, xin thương xót chúng con và toàn thế giới. Xin Thánh Faustina và Chân phước Gioan Phaolô II nâng đỡ chúng con luôn. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
TIN ĐỂ ĐƯỢC SỐNG
(Chúa Nhật II PS, năm B – Đại lễ Lòng Chúa Thương Xót)
Qua Thánh nữ Maria Faustina Kowalska (1905-1938, Dòng Đức Mẹ Thương Xót – O.L.M., Our Lady of Mercy), Chúa Giêsu đã muốn Giáo Hội dùng Chúa Nhật II Phục Sinh để đặc biệt tôn kính Lòng Chúa Thương Xót (*). Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, vấn đề là chúng ta phải biết tin vào tình yêu thương đó, như Chúa Giêsu đã dạy: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài”.
Có nhiều dụ ngôn nói về Lòng Chúa Thương Xót (LCTX), nhưng hôm nay, nhân vật “nổi bật” được nhắc tới là Tông đồ Tôma – người có “biệt danh” là Tông-Đồ-Cứng-Lòng-Tin. Nhưng tất cả chỉ là “chuyện nhỏ”, vì chính Con Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô, đã thực hiện lòng thương xót trên đồi Gôn-gô-tha, và “đại ca” Dismas là người được hưởng LCTX ngay buổi chiều hôm đó. Thật kỳ diệu xảy ra ngay lập tức nếu chúng ta thật lòng tin vào LCTX.
Đức tin rất quan trọng và rất cần thiết, vì nhờ tin mà sống, như Chúa Giêsu đã xác định với cô Mác-ta: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết ” (Ga 11:25-26). Chính Chúa Giêsu đã sống lại trước sự kinh ngạc của mọi loài, nhờ sự phục sinh của Ngài mà mọi loài nên mới, tưng bừng rộn rã: “Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118:24).
Dù đức tin của chúng ta còn non yếu, nhưng chắc chắn ai trong chúng ta cũng đã và đang được hưởng LCTX qua từng ngày sống. Vì thế, chúng ta phải thực hiện lời khuyên của Thánh Vịnh: “Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở” (Tv 118:1). Đức từ bi đó cũng chính là lòng thương xót. Niềm hạnh phúc cứ tiếp tục dâng cao, lan tỏa... Và cuối năm nay, ĐGH Phanxicô sẽ mở Năm Thánh Từ Bi Thương Xót, thời gian từ 8-12-2015 tới 20-11-2016.
Sau khi Chúa Giêsu phục sinh và lên trời, “cộng đoàn tín hữu đầu tiên đông đảo lắm, nhưng họ chỉ có một lòng một ý, không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, mọi sự đều là của chung” (Cv 4:32). Họ sống như vậy là sống theo di ngôn của Chúa Giêsu: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34; Ga 15:12). Đó cũng chính là sống và thực thi lòng thương xót theo Tôn Ý Ngài. Chúng ta đã và đang được Thiên Chúa thương xót thì chúng ta cũng phải biết thương xót nhau. Đó là hệ lụy tất yếu vậy!
Kinh Thánh cho biết thêm: “Nhờ quyền năng mạnh mẽ Thiên Chúa ban, các Tông Đồ làm chứng Chúa Giêsu đã sống lại. Và Thiên Chúa ban cho tất cả các ông dồi dào ân sủng. Trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tuỳ theo nhu cầu” (Cv 4:33-35). Có Chúa, sống vì Chúa và vì tha nhân, người ta sẽ an tâm, chẳng lo gì cả. Đó mới là hạnh phúc và tự do đích thực!
Kinh Thánh luôn nhắc đi nhắc lại: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118:2-4). Dù là ai, từ dân Ít-ra-en tới nhà A-ha-ron, từ người kính sợ Chúa tới tội nhân, cũng đều hân hoan xưng tụng như vậy. Lời xưng tụng đó cũng chính là lời xưng tụng LCTX bao la muôn thuở. Không xưng tụng sao được, vì “tay hữu Chúa đã ra oai thần lực, tay hữu Chúa giơ cao, tay hữu Chúa đã ra oai thần lực”, nhờ vậy mà “tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống, để loan báo những công việc Chúa làm”, và dù “Chúa sửa phạt tôi, nhưng không nỡ để tôi phải chết” (Tv 118:16-18). Quả thật, lòng thương xót của Thiên Chúa quá đỗi bao la, quá đỗi nhân từ, quá đỗi kỳ diệu!
Phàm nhân không thể nào hiểu nổi, vì LCTX vượt quá trí hiểu của con người. Thật vậy, Thiên Chúa đã tuyên phán qua miệng ngôn sứ Isaia: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình,hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49:15). Ôi, LCTX cao vời khôn ví, chúng ta chỉ còn biết cúi đầu tôn kính và cảm tạ! Vâng, bức tượng làm sao hiểu nổi người tạc tượng? Thụ tạo làm sao hiểu nổi Tạo Hóa? Chắc chắn như vậy. Và điều kỳ diệu đã thực sự xảy ra: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” (Tv 118:22-23).
Nhờ TIN mà được SỐNG. Ngược lại, KHÔNG TIN thì KHÔNG ĐƯỢC SỐNG, tức là PHẢI CHẾT. Tin là khôn ngoan, không tin là ngu dại. Vậy thì tại sao lại không TIN để ĐƯỢC SỐNG đời đời?
Thánh Gioan, con-người-của-tình-yêu, đã lý luận rất lô-gích: “Phàm ai tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, kẻ ấy đã được Thiên Chúa sinh ra. Và ai yêu mến Đấng sinh thành thì cũng yêu thương kẻ được Đấng ấy sinh ra. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được mình yêu thương con cái Thiên Chúa: đó là chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thi hành các điều răn của Người” (1 Ga 5:1-2). Yêu thương liên quan niềm tin, và ngược lại. Hai vấn đề nhưng không thể tách rời.
Thánh Gioan giải thích: “Quả thật, yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Người. Mà các điều răn của Người có nặng nề gì đâu, vì mọi kẻ đã được Thiên Chúa sinh ra đều thắng được thế gian. Và điều làm cho chúng ta thắng được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta” (1 Ga 5:3-4). Rõ ràng YÊU và TIN là hai “đầu mối” của một sợi dây, không thể có đầu này mà không có đầu kia. Nghe rất đơn giản, luật rất “nhẹ” (có nặng nề gì đâu), thế nhưng lại không hề đơn giản để thực thi cho vuông tròn!
Về “nguồn mạch đức tin”, Thánh Gioan cho biết: “Ai là kẻ thắng được thế gian, nếu không phải là người TIN rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa? Chính Đức Giêsu Kitô là Đấng đã đến, nhờ NƯỚC và MÁU; không phải chỉ trong nước mà thôi, nhưng trong nước và trong máu. Chính Thần Khí là chứng nhân, và Thần Khí là sự thật” (1 Ga 5:5-6). Nói gì thì nói vẫn liên quan đức tin, có tin thì mới hành động. Đó là hành động gì? Yêu thương và làm chứng nhân về LCTX.
Vẫn liên quan vấn đề đức tin, trình thuật Ga 20:19-31 kể về việc “độ cứng” trong đức tin của Tông Đồ Tôma Điđymô. Tại sao ông Tôma “nhà ta” lại có “máu” đa nghi như Tào Tháo thế nhỉ? Nói khôi hài theo Việt ngữ, vì tên ông là một câu hỏi. Lúc nào ông cũng thắc mắc: “Đi đi mô?”. Cách hỏi “đi mô” của người miền Trung tức là “đi đâu?”. Thảo nào…!
Tám ngày sau khi Chúa Giêsu sống lại, vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!”. Nói xong, Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Ngài lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy thì Thầy cũng sai anh em”. Nói xong, Ngài thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”.
Hôm đó, không biết ông Tôma bận chuyện gì mà vắng mặt, không hiện diện với các Tông Đồ. Nghe các bạn nói Thầy sống lại và đã hiện ra với họ. Ông nhất định không tin, nói chắc nịch: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Ngài, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Ngài, tôi chẳng có tin”. Mấy Tông Đồ kia lắc đầu và cũng đành “bó tay”, chẳng biết nói chi cả. Ui da, cứng gì mà cứng như đá xanh thế không biết!
Rồi lại tám ngày sau, các ông lại họp mặt trong nhà, lần này có cả ông Tôma. Các cửa vẫn đóng kín như bưng, con muỗi chui qua còn chưa lọt. Thế mà bỗng Đức Giêsu xuất hiện. Không biết lúc đó có ông nào giật mình mà tưởng là ma không nhỉ? Ngài đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em”. Phim có ghép tài tình cách mấy cũng vẫn thua xa. Nói rồi Ngài nói ngay với ông Tôma: “Này, cậu đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy đây này. Nhìn cho rõ nhá. Rồi hãy đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy đây này. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin thật nghe chưa!”. Ui da, ông Tôma xấu hổ quá sức, chắc là chẳng dám sờ nữa đâu. Thế nên ông chỉ còn biết cúi đầu mà thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”. Và Chúa Giêsu bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!”.
Nói nào ngay, cũng nhờ ông Tôma cứng lòng tin mà chúng ta có thêm một mối phúc: “Không thấy mà tin”. Dẫu sao thì cũng cảm ơn ông Tôma, nhờ lòng tin của ông cứng như sáp nguội mà hậu sinh chúng con được hưởng thêm một mối phúc nữa đấy!
Thánh Gioan cho biết: “Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em TIN rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em TIN mà ĐƯỢC SỰ SỐNG nhờ danh Người” (Ga 20:30-31).
Lại vẫn liên quan đức tin, Chúa Giêsu đã nói với Thánh nữ Faustina: “Trước khi Ta đến như một Thẩm Phán công bình, Ta sẽ mở rộngCửa của Lòng Thương Xót. Ai từ chối bước qua Cửa của Lòng Thương Xót thì phải bước qua Cửa của Sự Công Bình” (Nhật Ký, số 1146).
Lạy Thiên Chúa, xin biến trái tim sắt đá của chúng con thành trái tim mềm mại chứa máu-yêu-thương và máu-thương-xót, xin giúp chúng con biết duy trì và bảo vệ đức tin đến hơi thở cuối cùng. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ giàu Lòng Thương Xót của chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
(*) Nhật Ký của Thánh Nữ Faustina [số 699] đề cập Đại Lễ Kính Lòng Chúa Thương Xót với 10 điều này:
1. Vào ngày đó, mọi chiều sâu thẳm nhất về Lòng Nhân Từ của Ta sẽ được rộng mở ra.
2. Ta sẽ tuôn đổ ra cả một đại dương về ơn huệ trên tất cả những linh hồn nào tiếp cận với Nguồn Suối Nhân Từ của Ta qua Bí Tích Hòa Giải và Rước Mình Thánh Chúa.
3. Linh hồn nào đi xưng tội trước đó và lãnh nhận Thánh Thể vào ngày lễ này sẽ lãnh nhận được sự tha thứ trọn vẹn của Ta, thoát khỏi mọi án phạt về tất cả các tội đã phạm.
4. Vào ngày lễ này, tất cả mọi cánh cửa về ơn huệ của Thiên Chúa sẽ được mở rộng ra cho tất cả mọi người.
5. Đừng để một tâm hồn nào phải sợ hãi khi đến gần Ta, thậm chí ngay cả khi người đó đầy các tội lỗi tày trời.
6. Lòng Nhân Từ của Ta cao vời đến nỗi không một tâm trí nào của loài người hoặc thiên thần có thể hiểu và đo lường được mãi cho đến muôn đời.
7. Trong mối quan hệ với Ta, mỗi tâm hồn sẽ suy niệm về tình yêu thương và lòng nhân từ của Ta mãi cho đến muôn đời.
8. Ngày lễ kính Lòng Chúa Thương Xót được nổi bật lên từ chiều sâu thẳm Lòng Nhân Từ của Ta.
9. Mong ước của Ta là ngày lễ này được trọng thể cử hành vào Chúa Nhật đầu tiên sau Lễ Phục Sinh.
10. Nhân loại sẽ không có được nền hòa bình mãi cho đến khi nào biết quay về Nguồn Suối Nhân Từ của Ta.
HAI ĐỘNG THÁI
“Lời Chúa là lời chân thật” (Tv 12:7) và “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119:105). Đó là điều tất nhiên, vì chúng ta vẫn tâm niệm: “Lời Chúa hứa, lòng con ấp ủ” (Tv 119:11). Có khi Lời Chúa làm cho chúng ta thực sự phấn khởi và vui mừng, nhưng có khi Lời Chúa lại làm cho chúng ta đau điếng và phải… giật mình!
Trong trình thuật Lc 18:9-14 cho biết Đức Giêsu kể dụ ngôn về hai động thái trái ngược nhau: Kiêu ngạo và Khiêm nhường. Trong cuộc sống thường nhật chúng ta vẫn thấy có những người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác, thậm chí chính chúng ta cũng đã từng hơn một lần nhìn người khác bằng “nửa con mắt” như vậy!
Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế. Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc 18:11-12).
Người Pharisêu “đứng thẳng” và tự nhận mình “không như tên thu thuế kia”. Đó là hai động thái đầy vẻ kiêu ngạo và ảo tưởng. Không chỉ vậy, ông ta còn “khoe mẽ” là “ăn chay mỗi tuần hai lần” và “dâng cho Chúa một phần mười thu nhập”.
Đạo đức và thánh thiện quá! Thảo nào ông ta không “vênh vang” sao được, vì ông ta vừa tỏ ra đạo đức vừa tỏ ra hào phóng với Chúa bằng chính tiền bạc của ông ta. Chắc là ông ta cũng thường xuyên “đi làm từ thiện” lắm! Loại người này được người ta gọi là “ông kia, bà nọ”, được “chú ý”, được “tâng bốc”, được “đưa đón”, được “ăn trên, ngồi tróc”,…
Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18:13). Ngày xưa, người thu thuế “bị” coi là “phường tội lỗi” – vì thường “bóp chẹt” dân. Thế nên loại người này bị gọi là “thằng”, là “nó”, khá lắm cũng chỉ là “anh”.
Hẳn là người thu thuế biết “thân phận” mình nên khi anh ta vào nhà thờ chỉ “đứng ở góc cuối” và “không dám ngước mặt nhìn ai”, vừa đấm ngực vừa lâm râm cầu xin ơn tha thứ cho mình. Anh ta biết người ta luôn nhìn mình bằng ánh-mắt-mang-hình-viên-đạn, thế nên anh ta đành nín thinh và không dám nói nửa lời.
Chúa Giêsu bảo: “Tôi nói cho các ông biết: người này (người thu thuế), khi trở xuống mà về nhà thì đã được nên công chính rồi; còn người kia (người Phariêu) thì không” (Lc 18:14a). Và Ngài xác định: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18:14b). Khiêm nhường là nền tảng mọi nhân đức. Kinh “Cải Tội Bảy Mối” đã đặt “khiêm nhường” vào “mối” thứ nhất: “Khiêm nhường chớ kiêu ngạo”. Nói đến đức-khiêm-nhường là có “đụng chạm” tới tính-kiêu-ngạo.
Sau giây phút cầu nguyện trước mặt Chúa, người-tự-nhận-tội-lỗi kia đã lãnh nhận được Lòng Chúa Thương Xót, còn người-tự-nhận-công-chính lại không nhận được Ơn Chúa. Chính Chúa Giêsu xác định: “Chẳng có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa” (Lc 18:19). Trước mặt Chúa, tất cả chúng ta (không trừ ai) đều là tội nhân khốn nạn. Đó là sự thật trăm phần trăm. Đừng ảo tưởng mà kiêu ngạo!
Ở Lc 19:1-10, chúng ta cũng biết được chuyện ông Da-kêu. Ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có. Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn. Ông chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để chờ xem Đức Giêsu đi qua đó. Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, Ngài nhìn lên và nói với ông: “Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay Tôi phải ở lại nhà ông!” (Lc 19:5). Chúa Giêsu tự nhận trách nhiệm “phải ở lại” nhà ông Da-kêu. Chắc hẳn Chúa vào nhà ông không phải vì ông là người-giàu-nứt-đố-đổ-vách hoặc lắm-của-nhiều-tiền, mà chỉ vì ông là người-tội-lỗi, Chúa muốn “giải thoát” ông-mập-lùn ấy.
Nghe Chúa Giêsu nói vậy, ông khoái chí nên vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Ngài. Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!” (Lc 19:7). Ở đây chúng ta cũng thấy rõ hai động thái: Kiêu ngạo và Khiêm nhường.
Ông Da-kêu không cần tính toán, liền thưa với Chúa: “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19:8). Biết nghề của mình “không trong sạch” và “lóm lém” ít nhiều, ông sẵn sàng trả lại công lý cho những người đã bị đối xử bất công, và ông sẵn sàng “đền gấp bốn” cho người bị hại. Quá tuyệt vời! Thế nên Đức Giêsu mới nói về ông ta: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19:9-10).
Ông Da-kêu mang tiếng là “phường tội lỗi” nhưng ông đã thật lòng sám hối, quyết từ bỏ “con người cũ” để trở nên “con người mới”, và ông đã được lãnh nhận Lòng Chúa Thương Xót ngay lập tức. Chúa Giêsu luôn nhấn mạnh mà chúng ta lại thường không muốn nhớ: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”.
Vừa qua, ngày 5-4-2012 (Thứ Năm Tuần Thánh), Đài truyền hình quốc gia Venezuela (cơ quan thông tấn chính thức) đã đưa bản tin gây sửng sốt đối với dân chúng và các giám mục của Venezuela về tổng thống Hugo Chavéz. Chuyện lạ hơn nữa là ông đeo một chuỗi tràng hạt như một người Công Giáo mộ đạo, và khóc ngay trước mặt mọi người trong Thánh lễ hôm đó. Báo The Wall Street tường thuật rằng, tổng thống Hugo Chavéz đứng trên bục giảng, quay mặt xuống anh chị em giáo dân, vừa khóc vừa nói: “Lạy Chúa xin cho con cuộc sống, thậm chí là một cuộc sống bị thiêu đốt, hoặc đau đớn đi nữa cũng không quan trọng [miễn còn sống là được]”.
Ngài tổng thống Hugo Chavéz bị ung thư. Khi ĐGH Bênêđictô XVI sang thăm Cuba (từ 26 đến 28-3-2012), tổng thống Hugo Chavéz đã có mặt tại đó vào ngày 24-3-2012 để xạ trị và ông tỏ ý muốn được gặp ĐGH. Tuy nhiên, sau đó chuyện không thành. Thiết tưởng điều đó cũng không thành vấn đề.
Vấn đề cần lưu ý ở đây là “lòng thành” của một vị tổng thống. Có thể chính căn bệnh ung thư của ông khiến ông đang phải đối diện với cái chết, và cũng nhờ đó mà ông biết cầu nguyện, biết khao khát, biết trông mong và biết tín thác vào Thiên Chúa. Thánh Ý Chúa quá mầu nhiệm!
Theo Thánh Phaolô, chúng ta “đừng hoá ra ngu xuẩn, nhưng hãy tìm hiểu đâu là ý Chúa” (Ep 5:17), và “xin cho ý Chúa được thể hiện!” (Cv 21:14). Đó là điều tối cần thiết đối với chúng ta đang trên đường lữ hành tiến về Nước Trời.
Nhờ Ơn Chúa, chúng ta phải quyết tâm và tự nhủ: “Hãy tỉnh thức, hãy đứng vững trong đức tin, hãy làm mọi sự vì đức ái” (1 Cr 16:13-14). Đó là bí quyết sống khiêm nhường và tránh kiêu ngạo, đồng thời là cách sống Mầu nhiệm Phục sinh và sống tinh thần của Lòng Chúa Thương Xót.
TRẦM THIÊN THU
Thứ Năm trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh – 2012
TIN
Nghe người ta cứ xôn xao
Tôma chắc nịch, lắc đầu nói ngay:
“Tôi đây phải ngó thấy Thầy
Phải sờ vào ngực, vào tay chân Thầy
Rồi tôi đây sẽ tin ngay
Chứ giờ chưa thấy, tôi đầy nghi nan”
Một hôm, cửa vẫn cài then
Hiện ra Chúa chúc bình an, rồi cười
Ngó quanh, Ngài nói nhẹ lời:
“Đến xem thử, Tôma ơi, xem nè!
Thầy đây chứ chẳng phải ma
Lỗ đinh thấy rõ, còn nghi gì nào?”
Tôma mắc cở cúi đầu:
“Ôi Thiên Chúa, Đấng chí cao, lạy Thầy!
Lòng con cứng hóa mềm ngay
Xin Thầy tha thứ, từ nay con chừa”
Chúa cười: “Chuyện nhỏ, đáng chi
Hãy tin, đừng có hồ nghi bao giờ
Một lần nhìn thấy dẫu chưa
Nhưng mà tin thật, ấy là phúc thay!”
Con đây vẫn tưởng mình hay
Mà bao lần cứ loay hoay nghi ngờ
Ngỡ rằng Chúa ở rất xa
Nào ngờ Ngài vẫn cận kề bên con
Khi con sầu khổ, héo hon
Ngài âm thầm ủi an con sớm chiều
Bao lần con đã tự kiêu
Ngài thương xót kéo xuống mau, kẻo mà…
Lạy Thầy, xin hãy thứ tha
Nay con tin thật Chúa vừa phục sinh
TRẦM THIÊN THU
Thứ Tư trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh – 2015
KHOA HỌC CHỨNG TỎ CÓ THIÊN CHÚA
Vấn đề liên quan đức tin và khoa học là vấn đề “nóng” của mọi thời, nhất là trong thời đại khoa học ngày nay. Đối thoại với một khoa học gia tên lửa và một phi hành gia, tiến sĩ Leslie Wickman còn hơn là một khoa học gia. Bà chứng tỏ rằng khoa học đã phát hiện Thiên Chúa, đồng thời giải thích cách thức mà đức tin và khoa học đồng hiện hữu. Bà xác nhận rằng khoa học hiện đại cho thấy có một “bức tranh lớn” khởi đầu với vũ trụ bao la của chúng ta.
Đây là các tranh luận về vấn đề khoa học và Thiên Chúa. Có cuộc tranh luận về vũ trụ học cho rằng có nguyên nhân và hệ quả, như vậy phải có người tạo nên – tức là Tạo Hóa. Cuộc tranh luận về bản thể học cho rằng có tư tưởng trong chúng ta, như vậy Thiên Chúa là nguyên nhân. Cuộc tranh luận về nhân chủng học cho rằng các giá trị luân lý tuyệt đối vì người ta cảm nghiệm được Thiên Chúa, như vậy Ngài hiện hữu. Cuộc tranh luận về thuyết mục đích quan tâm trật tự và kế hoạch, như vậy phải có người Tạo Hóa.
VỤ BIG BANG – TS Wickman nói: “Khi tôi nhìn vào những gì khoa học cho chúng ta biết về sự hiện hữu của Thiên Chúa, điều tôi tìm kiếm là chứng cớ chúng ta có và cho biết rằng chính Thiên Chúa là lời giải thích đúng nhất. Đã có các chứng cớ tích lũy về cách thức big bang của vũ trụ – chúng ta gọi là Vụ Nổ Lớn. Điều đó cho biết rằng đã có một sự khởi đầu. Từ điểm khởi đầu này, không gian, vật chất và thời gian đã xuất hiện. Sáng Thế cho biết rằng Thiên Chúa đã tạo nên trời và đất, vụ big bang cho chúng ta biết chắc rằng đã có sự khởi đầu. Những người có niềm tin có thể cúi đầu khép nép vì điều đó căn cứ vào tự nhiên, nhưng thực tế là vụ big bang chính là Thiên Chúa”.
MỘT SỰ KHỞI ĐẦU – Thiên văn học chứng tỏ rằng vũ trụ bao la được đan kết rất tài tình, và cho chúng ta thấy rằng có một người tạo dựng rất hợp lý. Trước vụ big bang đã có tình trạng ổn định để “giữ” cho vũ trụ luôn hiện hữu. Nhiều khoa học gia và triết gia rất thoải mái về điều này vì không cần cách giải thích nào khác. Khi có nhiều chứng cớ về vụ big bang, nhiều người cảm thấy không thoải mái về cách chúng ta phải xử lý về sự khởi đầu này. Rõ ràng là nếu đã có một sự khởi đầu thì phải có một người bắt đầu hoặc nguyên nhân tạo nên.
QUY LUẬT GOLDILOCKS – Khoa học gọi là “Vùng Goldilocks” (*). Hãy nhìn trái đất. Nhiệt độ, nước, đất mênh mông, và cách chúng phụ thuộc lẫn nhau. Các đặc tính hài hòa của trái đất, phức tạp như chính nó, làm cho hành tinh này có thể cư ngụ, đó là cách giải thích về sự sáng tạo. Quy luật Goldilocks cho rằng phải có cái gì đó trong những “khe” nhỏ hẹp thay vì cực độ. Khoảng cách từ trái đất tới mặt trời, kích cỡ của nó, tầng khí quyển, vùng từ tính, xoay quanh 24 giờ, và trục nghiêng của trái đất cho chúng ta có bốn mùa tuyệt vời. Đó chỉ là điển hình nhỏ, nhưng còn có hàng chục thông số khác cần xảy ra để trái đất đúng trật tự cho chúng ta sống.
TRẬT TỰ – Để có trái đất hài hòa như vậy thì phải có Tạo Hóa. Một số người cố gắng tính toán tính khả dĩ của việc làm cho trái đất hài hòa, nhưng đó là chuyện không thể. Chẳng khác gì muốn trích ra một nguyên tử từ vô số vũ trụ khác, và các nhà thống kê có thể nói rằng “đó là điều hoàn toàn bất khả thi”. Nghĩa là trái đất đã được Tạo Hóa thiết kế đặc biệt cho sự sống. Thật vậy, vũ trụ được thiết lập trật tự theo quy luật vật lý phù hợp mà chúng ta có thể nghiên cứu và hiểu được.
SỰ SỐNG Ở NƠI KHÁC – TS Wickman nói: “Tôi không biết có sự sống ở các hành tinh khác hay không. Nhưng tôi hơi ngạc nhiên là chúng ta có phải là loài thông minh duy nhất được Thiên Chúa tạo nên hay không. Có thể là kiêu ngạo khi chúng ta nghĩ mình là loài thông minh duy nhất”. Vũ trụ rất bao la, một vũ trụ đa dạng khác có thể còn lớn hơn, nhưng tôi không bị đe dọa với ý tưởng về vũ trụ đa dạng. Luôn có một thời kỳ điều chỉnh mà đức tin phải trải qua, mỗi khi khoa học có một phát hiện mới. Hàng trăm năm trước, các triết gia tự nhiên cũng đã tin rằng trái đất nằm ở tâm điểm của mọi thứ. Tư tưởng về những thứ không biết khiến người ta... sợ lắm!
Khoa học không là mối đe dọa đối với đức tin, nhưng khoa học chứng tỏ có Thiên Chúa hiện hữu. Đó là điều TS Wickman chia sẻ, và bà tái xác nhận rằng chúng ta tin vào Đấng Tạo Hóa vô cùng kỳ diệu – Thiên Chúa Ba Ngôi hằng sinh và hằng hữu.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)
(*) Chuyện kể rằng, có cô bé tên là Goldilocks bị lạc trong rừng. Cô đi mãi và cuối cùng đến một ngôi nhà nhỏ của gia đình gấu gồm gấu bố, gấu mẹ và gấu con. Khi vào trong nhà, Goldilocks nhìn thấy ba chiếc ghế: chiếc thứ nhất quá cao, chiếc thứ hai quá rộng, chỉ có chiếc thứ ba vừa vặn. Cô ngồi lên chiếc ghế thứ ba. Cô bé lại nhìn thấy ba đĩa súp ở trên bàn: đĩa thứ nhất quá nóng, đĩa thứ hai quá nguội, đĩa thứ ba rất vừa. Cô bé ăn đĩa súp thứ ba. Cô bé đi lên thang gác và nhìn thấy ba chiếc giường: chiếc thứ nhất dài quá, chiếc thứ hai rộng quá, chỉ có chiếc thứ ba vừa vặn. Cô bé leo lên chiếc giường thứ ba và ngủ ngon lành.
"Thế giới ngày nay cần đến tình thương của Thiên Chúa biết bao.... Trong tình thương của Thiên Chúa, thế giới mới tìm thấy hòa bình và nhân loại mới tìm thấy hạnh phúc. Tôi ký thác công việc này cho anh chị em... Anh chị em phải là chứng nhân cho tình thương..." (Balan 17/8/2002);
"Hôm nay đây dường như chúng ta được đặc biệt kêu gọi để loan báo sứ điệp này trước thế giới. Chúng ta không thể lơ là với sứ điệp này, nếu chính Thiên Chúa đã kêu gọi chúng ta thực hiện sứ vụ này qua chứng từ của Thánh Faustina. Thiên Chúa đã chọn thời đại chúng ta cho mục đích này" (Balan - 18/8/2002)
April 9, 2021