ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ

Thứ Tư Hàng Tuần Năm 2024

 

Đức Thánh Cha giải thích tại sao Giáo hoàng lại mặc áo màu trắng

Đức Thánh Cha đã giải thích cho phóng viên của đài truyền hình Thuỵ Sĩ, trong cuộc phỏng vấn được công bố ngày 09 tháng 3 năm 2024 về màu áo của Giáo hoàng và những biểu tượng màu trắng khác trong đời sống Giáo hội và cuộc sống thường ngày.

Vatican News

Phóng viên hỏi: “Màu trắng là biểu tượng của sự tinh khiết, đơn sơ. Áo của Đức Thánh Cha có màu trắng. Truyền thống này đến từ đâu? Tại sao Giáo hoàng lại mặc áo màu trắng?”. Đức Thánh Cha trả lời rằng, trong lịch sử Giáo hội, từng có một Giáo hoàng là tu sĩ Dòng Đa Minh. Ngài mặc tu phục trắng của Dòng Đa Minh. Từ đó tất cả Giáo hoàng đều sử dụng màu trắng. Và nếu ngài không nhầm thì đó là Đức Giáo Hoàng Pio V, hiện được chôn cất ở Đền thờ Đức Bà Cả ở Roma. Từ đó truyền thống các Giáo hoàng đều mặc áo màu trắng.

Từ màu áo Giáo hoàng, Đức Thánh Cha giải thích về giá trị chính của màu trắng trong Giáo hội. Đó là màu của niềm vui, bình an, điều đẹp đẽ, vì thế trong Mùa Phục Sinh và Giáng Sinh phẩm phục luôn là màu trắng.

Đi vào đời sống đạo đức, màu trắng là màu của sự tinh khiết. Về điều này, Đức Thánh Cha so sánh một bộ trang phục màu trắng nếu bị bẩn người ta dễ nhận ra, cũng vậy một linh mục, Giám mục hay Giáo hoàng nếu có một vết nhơ thì cũng sẽ dễ bị nhận ra, bởi vì các vị là chứng tá của điều tốt đẹp, tuyệt vời. Đây là một thách đố.

Đức Thánh Cha còn nói đến vết bẩn tập thể, đó là chiến tranh. Chiến tranh thật khủng khiếp với khoản lợi nhuận cao trong việc sản xuất vũ khí. Không có chiến tranh màu trắng, chiến tranh luôn có màu đỏ hoặc màu đen, và đó là tội tập thể.

Ngài mạnh mẽ nói: “Chiến tranh là bóng tối, luôn luôn tối tăm. Sức mạnh của bóng tối. Khi nói đến màu trắng là chúng ta nói đến sự ngây thơ, tốt lành và nhiều điều đẹp đẽ. Nhưng khi nói về tối tăm, chúng ta nói về sức mạnh của bóng tối, về những điều chúng ta không hiểu, về những điều bất công. Kinh Thánh nói về điều này. Bóng tối có sức mạnh hủy diệt mạnh mẽ. Đó là một cách nói mang tính văn học, nhưng khi một người giết người - như Cain - là một người ở trong bóng tối. Khi một người chỉ quan tâm đến lợi ích của riêng mình, như với người lao động, thì người này sẽ giết người khác về mặt luân lý”.

Mặc dù màu trắng là biểu hiện của sự tốt đẹp, nhưng đôi khi có nguy cơ chỉ là màu trắng ở bề mặt, Đức Thánh Cha giải thích có những người che giấu điểm yếu của mình và thể hiện bản thân cách giả tạo, đó là những người đạo đức giả. Cả xã hội đôi khi cũng có thể đạo đức giả, như trường hợp tiến hành chiến tranh sau đó gửi viện trợ nhân đạo.

Câu hỏi cuối cùng liên quan đến tính trung tính của màu trắng, và giá trị trung lập trong cuộc sống, Đức Thánh Cha nói trong cuộc sống khi cần viết một điều gì đó người ta hay sử dụng một tờ giấy trắng. Cuộc sống là một trang giấy trắng, mà mỗi người phải tự mình đưa ra quyết định trên đó. Cuộc sống là một tờ giấy trắng và sẽ đẹp nếu chúng ta có thể viết trên đó những điều tốt đẹp, nhưng nếu chúng ta viết những điều xấu thì trang đó sẽ không đẹp.

 

Tiếp kiến chung thứ Tư 6 tháng 3 năm 2024: Chống lại thói kiêu ngạo bằng tính khiêm nhường

Theo Đức Thánh Cha, khiêm nhường chính là phương thuốc chữa trị thói kiêu ngạo. Trong bài ca Magnificat, Mẹ Maria hát về Thiên Chúa, Đấng hạ thấp kẻ kiêu ngạo và nâng cao kẻ hèn mọn. Khi viết cho cộng đoàn đang bị tổn thương bởi sự đấu đá nội bộ do lòng kiêu ngạo gây ra, Thánh Tông đồ Giacôbê lặp lại câu nói này: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (Gc 4,6).

Vatican News 

Sáng thứ Tư ngày 6 tháng 3 năm 2024, trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung tại Quảng trường Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha đã nói về thói xấu kiêu ngạo, tội đầu tiên trong số các mối tội đầu và, đối với các tác giả cổ xưa, là “nữ hoàng của mọi thói xấu”. Đức Thánh Cha nói rằng ẩn giấu trong tội kiêu ngạo là một tội còn lớn hơn: tự xưng cách phi lý rằng mình giống như Thiên Chúa. Kiêu ngạo khiến con người xa rời Thiên Chúa và hủy hoại các mối quan hệ giữa con người với nhau.

Theo Đức Thánh Cha, khiêm nhường chính là phương thuốc chữa trị thói kiêu ngạo. Do đó, Đức Thánh Cha mong ước Mùa Chay này là cơ hội để các tín hữu chiến thắng tính kiêu ngạo và đón nhận sự khiêm nhường, theo gương Mẹ Maria và Thánh Giuse, để chúng ta có thể đến gần Chúa hơn và nhận được ân sủng dồi dào của Người.

Sau khi Đức Thánh Cha làm Dấu Thánh Giá và chúc bình an cho cộng đoàn, đoạn sách Huấn ca (10,7.9.12.14) đã được đọc bằng các ngôn ngữ Ý, Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ả Rập và Ba Lan:

Đức Chúa và người phàm đều chê ghét tính kiêu căng...
Làm sao tro bụi lại dám kiêu căng?...
Con người bắt đầu kiêu căng khi lìa xa Đức Chúa,
khi lòng nó lìa xa Đấng Tạo Thành...
Đức Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
và đặt kẻ hiền lành ngồi lên thay.

Do Đức Thánh Cha vẫn còn bị cảm nên Đức ông Pierluigi Giroli đã đọc bài giáo lý thay cho ngài.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong loạt bài giáo lý về các thói xấu và nhân đức, hôm nay chúng ta nói đến thói xấu cuối cùng: thói kiêu ngạo. Người Hy Lạp cổ xưa đã định nghĩa nó bằng một từ có thể dịch là “sự huy hoàng lộng lẫy thái quá”. Thực ra, kiêu ngạo là tự đề cao mình, tự phụ, phù phiếm. Thuật ngữ này cũng xuất hiện trong hàng loạt thói xấu mà Chúa Giêsu liệt kê để giải thích rằng sự ác luôn xuất phát từ trái tim con người (xem Mc 7,22). Người kiêu ngạo là người nghĩ rằng mình giỏi hơn nhiều so với thực tế; một người nôn nóng muốn được thừa nhận giỏi hơn người khác, luôn muốn công lao của mình được công nhận và coi thường người khác, cho rằng họ thấp kém hơn mình.

Thói kiêu ngạo: mối tội đầu

Từ sự mô tả đầu tiên này, chúng ta thấy thói xấu kiêu ngạo rất gần với thói háo danh mà chúng ta đã trình bày lần trước. Tuy nhiên, nếu thói háo danh là một căn bệnh của cái tôi của con người, thì nó vẫn là một căn bệnh non nớt nếu so với sự tàn phá mà thói kiêu ngạo có thể gây ra. Khi phân tích sự ngu dại của con người, các đan sĩ thời cổ xưa đã nhận ra một trật tự nhất định trong chuỗi các tệ nạn: chúng ta bắt đầu bằng những tội lỗi rõ ràng nhất, chẳng hạn như thói háu ăn, và đến những con quái vật đáng lo ngại nhất. Thói kiêu ngạo là nữ hoàng của mọi thói xấu. Không phải ngẫu nhiên mà trong tác phẩm Thần khúc, thi sĩ Dante đặt nó ngay ở tầng đầu tiên của luyện ngục: ai nhượng bộ thói xấu này là xa rời Chúa, và việc sửa đổi thói xấu này đòi hỏi thời gian và công sức, hơn bất kỳ cuộc chiến nào khác mà Kitô hữu được kêu gọi để chống lại.

Tội lỗi gốc rễ của thói kiêu ngạo: tự xưng cách phi lý rằng mình giống như Thiên Chúa

Trên thực tế, bên trong thói xấu này ẩn chứa tội lỗi gốc rễ, đó là tự xưng cách phi lý rằng mình giống như Thiên Chúa. Tội lỗi của tổ phụ chúng ta, được kể trong sách Sáng Thế, xét về mọi mặt đều là tội kiêu ngạo. Kẻ cám dỗ nói với họ: “Khi ông bà ăn nó, mắt ông bà sẽ mở ra và ông bà sẽ trở nên giống Thiên Chúa” (St 3,5). Các tác giả tu đức đặc biệt chú ý đến việc mô tả những hậu quả của tính kiêu ngạo trong cuộc sống hàng ngày, minh họa việc nó hủy hoại các mối quan hệ giữa con người với nhau như thế nào, nêu bật cách mà sự ác này đầu độc tình huynh đệ vốn dĩ phải đoàn kết con người với nhau.

Người kiêu ngạo thì kiêu căng, xét đoán người khác cách khinh miệt

Sau đây là danh sách dài các triệu chứng cho thấy một người đang sa vào thói xấu kiêu ngạo. Đó là một thói xấu có biểu hiện rõ rệt: kẻ kiêu ngạo thì kiêu căng, “cứng cổ”, tức là cổ cứng, không cúi xuống. Anh ta là một người có xu hướng phán xét khinh miệt: anh ta đưa ra những phán xét không thể thay đổi đối với những người khác mà chẳng vì lý do gì, những người mà đối với anh ta dường như là những kẻ kém cỏi và không có khả năng. Trong sự kiêu ngạo của mình, anh ta quên rằng trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta rất ít giới luật đạo đức, nhưng Người không khoan nhượng về một trong số đó: đừng bao giờ phán xét. Bạn nhận ra rằng bạn đang đối mặt với một người kiêu ngạo khi đưa ra cho anh ta một lời phê bình nhỏ mang tính xây dựng hoặc một lời nhận xét hoàn toàn vô hại, anh ta phản ứng một cách cường điệu, như thể ai đó đã xúc phạm đến sự tôn kính của anh ta: anh ta nổi cơn thịnh nộ, la hét, cắt đứt mối quan hệ với người khác một cách bực bội.

“Sự kiêu hãnh đi đến bằng ngựa và đi bộ trở về”

Chúng ta không thể làm được gì nhiều với một người mắc thói kiêu ngạo. Không thể nói chuyện với họ, càng không thể sửa sai cho họ, bởi vì cốt yếu họ không còn là họ nữa. Đối với họ bạn chỉ có cách kiên nhẫn, vì một ngày nào đó tòa nhà của họ sẽ sụp đổ. Tục ngữ Ý có câu: “Sự kiêu hãnh đi đến bằng ngựa và đi bộ trở về”. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu gặp nhiều người kiêu ngạo, và Người thường vạch trần thói xấu này ngay cả với những người giấu kín rất giỏi. Thánh Phêrô phô trương lòng trung thành tín trung của mình: “Ngay cả khi mọi người bỏ rơi Thầy, con cũng sẽ không!” (xem Mt 26,33). Ngược lại, Phêrô sẽ sớm giống như những người khác; chính ngài cũng quá sợ hãi khi đối mặt với cái chết điều mà ngài không tưởng tượng được lại có thể gần đến vậy. Và thế là Phêrô thứ hai, người không còn hếch cằm lên nhưng là người khóc những giọt nước mắt mặn đắng, sẽ được Chúa Giêsu chữa lành và cuối cùng sẽ đủ sức gánh vác gánh nặng của Giáo hội. Trước đây Phêrô phô trương một sự kiêu ngạo mà lẽ ra là không nên phô trương; giờ đây, ngài là một người môn đệ trung thành mà như dụ ngôn nói, ông chủ có thể giao “quản lý mọi tài sản của mình" (Lc 12,44).

Khiêm nhường: phương thuốc thực sự cho mọi hành vi kiêu ngạo

Ơn cứu độ đến từ sự khiêm nhường, phương thuốc thực sự cho mọi hành vi kiêu ngạo. Trong bài ca Magnificat, Đức Maria hát về Thiên Chúa, Đấng bằng quyền năng của Người dẹp tan những kẻ kiêu ngạo lòng trí kiêu căng. Thật là vô ích khi lấy trộm một điều gì đó từ Chúa, như những kẻ kiêu ngạo hy vọng, bởi vì cuối cùng thì Người muốn ban cho chúng ta mọi thứ. Vì lý do này, Thánh Tông đồ Giacôbê đã viết cho cộng đoàn của ngài, bị tổn thương bởi những cuộc đấu tranh nội bộ do thói kiêu ngạo, rằng: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ân sủng cho kẻ khiêm nhường” (Gc 4,6).

Vì thế, anh chị em thân mến, chúng ta hãy tận dụng Mùa Chay này để chiến đấu chống lại tính kiêu ngạo của mình.

Buổi tiếp kiến kết thúc với kinh Lạy Cha và phép lành Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

 

Tiếp kiến chung (28/2/24): Ghen tị và kiêu ngạo háo danh khiến thù ghét tha nhân

Trong bài giáo lý trong buổi tiếp kiến chung vào sáng thứ Tư ngày 28/2/2024 Đức Thánh Cha nói về hai thói xấu: ghen tị và kiêu ngạo. Ngài mời gọi nghe lời Tem hánh Phaolô để chữa thói ghen tị: "Hãy thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình” (Rm 12,10); và chống lại tính kiêu ngạo háo danh bằng cách khoe sự yếu đuối của mình hơn là khoe thành tích, khi biết rằng ân sủng của Thiên Chúa là đủ, vì quyền năng của Người được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.

Vatican News

Trở lại buổi tiếp kiến chung hàng tuần vào sáng thứ Tư ngày 28/2/2024 sau một tuần tĩnh tâm, Đức Thánh Cha vẫn còn bị cảm và còn bị mất tiếng. Do đó, Đức Thánh Cha đã nhờ Đức ông Filippo Ciampanelli đọc bài giáo lý của ngài. Trong bài giáo lý tuần này Đức Thánh Cha nói về hai thói xấu: ghen tị và kiêu ngạo háo danh. Đây là hai thói xấu của người muốn được sự chú ý của toàn thế giới, chỉ chú trọng vào mình. Thói ghen tị, khi bị thúc đẩy bởi sự oán giận người khác, có thể dẫn đến sự căm thù sát hại người khác. Để chữa thói xấu này, Đức Thánh Cha mời gọi nghe lời kêu gọi của Thánh Phaolô: “Hãy thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình” (Rm 12,10).

Đối với thói xấu kiêu ngạo tìm hư vinh, được đánh dấu bằng lòng tự trọng quá cao, khao khát được khen ngợi liên tục và thường có xu hướng lợi dụng người khác vì mục đích riêng của mình, Đức Thánh Cha mời gọi chống lại thói xấu này bằng cách noi gương Thánh Phaolô về việc khoe sự yếu đuối của mình hơn là khoe thành tích, khi biết rằng ân sủng của Thiên Chúa là đủ, vì quyền năng của Người được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối. Khi chúng ta đón nhận và thậm chí chấp nhận những điểm yếu của mình, thì quyền năng của Chúa Kitô sẽ giải phóng chúng ta để yêu thương người khác một cách quảng đại hơn.

Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu trong Mùa Chay này hãy cố gắng không đặt mình vào trung tâm, thay vào đó hãy cố gắng bước sang một bên để nhường chỗ cho người khác, đề cao họ và vui mừng trước những phẩm chất và thành công của họ.

Sau khi Đức Thánh Cha làm Dấu Thánh Giá và chúc bình an cho cộng đoàn, mọi người cùng nghe đoạn thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Galát (5,24-26):

Những ai thuộc về Đức Ki-tô Giê-su thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê. Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước. Chúng ta đừng có tìm hư danh, đừng khiêu khích nhau, đừng ganh tị nhau.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha

 Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay chúng ta xem xét hai mối tội đầu mà chúng ta tìm thấy trong những danh sách dài mà truyền thống tu đức đã để lại cho chúng ta: thói ghen tị và thói kiêu ngạo háo danh.

Thói ghen tị nếu không được kiểm soát sẽ dẫn đến việc căm ghét người khác

Chúng ta hãy bắt đầu với thói ghen tị. Nếu chúng ta đọc Kinh Thánh (xem St 4), chúng ta thấy nó như một trong những thói xấu lâu đời nhất: Cain tỏ ra căm ghét Abel khi nhận ra rằng các của lễ hy sinh của em trai mình đều đẹp lòng Thiên Chúa. Cain là con trai cả của ông Adam và bà Evà, đã chiếm phần lớn tài sản thừa kế của cha mình; tuy nhiên, chỉ cần em trai Abel thành công trong một việc nhỏ là đủ khiến vẻ mặt Cain trở nên tối xầm. Vẻ mặt của kẻ đố kỵ luôn buồn bã: ánh mắt anh ta cụp xuống, dường như anh ta đang liên tục rà soát mặt đất, nhưng thực tế anh ta không nhìn thấy gì, bởi vì tâm trí bị bao phủ bởi những suy nghĩ đầy ác ý. Sự ghen tị đố kỵ nếu không được kiểm soát sẽ dẫn đến việc căm ghét người khác. Abel sẽ bị giết dưới tay Cain, kẻ không thể chịu nổi trước hạnh phúc của em trai mình.

Ghen tị là một tội ác đã được tìm hiểu không chỉ trong bối cảnh Kitô giáo: nó đã thu hút sự chú ý của các triết gia và học giả thuộc mọi nền văn hóa. Về cơ bản, có một mối quan hệ giữa ghét và yêu: chúng ta muốn điều xấu cho người khác, nhưng trong thâm tâm chúng ta muốn giống họ. Người khác là sự tỏ hiện của những gì chúng ta muốn trở thành và điều mà trong thực tế chúng ta không được như vậy. Sự may mắn của họ dường như là một sự bất công đối với chúng ta: chắc chắn - chúng ta nghĩ - chúng ta xứng đáng nhận được những thành công hoặc vận may tốt đẹp hơn họ nhiều!

Phương thuốc chữa thói ghen tị: “Hãy thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình” (Rm 12,10)

Gốc rễ của thói xấu này là một quan niệm sai lầm về Thiên Chúa: chúng ta không chấp nhận rằng Thiên Chúa có “toán học” của riêng mình, khác với của chúng ta. Ví dụ, trong dụ ngôn của Chúa Giêsu về những người thợ được ông chủ gọi vào làm vườn nho vào những thời điểm khác nhau trong ngày, những người đến trước tin rằng họ có quyền được trả lương cao hơn những người đến sau cùng; nhưng ông chủ trả lương cho mọi người như nhau và nói: “Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?” (Mt 20,15). Chúng ta muốn áp đặt logic ích kỷ của mình cho Thiên Chúa, nhưng logic của Thiên Chúa là tình yêu. Của cải mà Người ban cho chúng ta được tạo ra để chia sẻ. Đó là lý do tại sao Thánh Phaolô khuyên các Kitô hữu: “Hãy thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình” (Rm 12,10). Đây là phương thuốc chữa thói ghen tị!

Người kiêu ngạo có cái “tôi” cồng kềnh

Và chúng ta đến với thói xấu thứ hai mà chúng ta đang xem xét hôm nay: thói kiêu ngạo háo danh. Thói xấu này song hành với con quỷ đố kỵ, và hai thói xấu này cùng nhau là điển hình của một người khao khát trở thành trung tâm của thế giới, tự do lợi dụng mọi thứ và mọi người, đối tượng của mọi lời khen ngợi và yêu mến. Thói kiêu ngạo háo danh là lòng tự trọng bị thổi phồng và vô căn cứ. Người háo danh có cái “tôi” cồng kềnh: anh ta không có sự đồng cảm và không nhận ra rằng trên thế giới này còn có những người khác ngoài mình. Các mối quan hệ của anh ta luôn mang tính công cụ, đặc trưng bởi sự lấn áp người khác. Con người của anh ta, những chiến công, những thành công của anh ta phải được mọi người nhìn thấy: anh ta luôn là kẻ ăn xin sự chú ý. Và nếu đôi khi những phẩm chất của anh ta không được thừa nhận thì anh ta sẽ trở nên tức giận dữ dội. Những người khác thật bất công, họ không hiểu, họ không đủ trình độ.

Trong các tác phẩm của mình, Evagrius Ponticus mô tả câu chuyện cay đắng của một tu sĩ bị thương tổn bởi sự háo danh. Chuyện xảy ra là, sau những thành công đầu tiên trong đời sống thiêng liêng, tu sĩ này đã cảm thấy mình như đắc đạo, và sau đó lao vào thế giới để nhận được lời khen ngợi. Nhưng tu sĩ này không hiểu rằng mình chỉ mới bắt đầu cuộc hành trình thiêng liêng của mình, và một sự cám dỗ đang rình rập sẽ sớm khiến vị này sa ngã.

“Tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi” (2 Cr 12,9)

Để chữa lành tính háo danh, các bậc thầy tu đức không đề xuất nhiều phương thuốc. Bởi vì về căn bản, tính xấu kiêu ngạo cũng có cách chữa trị của nó: những lời khen ngợi mà kẻ háo danh hy vọng gặt hái được trên thế giới sẽ sớm chống lại anh ta. Và biết bao người, bị ảo tưởng bởi hình ảnh sai lầm của mình, đã sa vào những tội lỗi mà họ sẽ sớm phải xấu hổ!

Lời hướng dẫn hay nhất để vượt thắng thói háo danh có thể được tìm thấy trong chứng từ của Thánh Phaolô. Thánh Tông đồ luôn phải đối mặt với một khuyết điểm mà ngài không bao giờ có thể khắc phục được. Ba lần ngài cầu xin Chúa giải thoát ngài khỏi cực hình đó, nhưng cuối cùng Chúa Giêsu đã trả lời ngài: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối”. Từ ngày đó, Thánh Phaolô được tự do. Và kết luận của ngài cũng nên là của chúng ta: “Tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi” (2 Cr 12,9).

25 năm Công ước cấm mìn sát thương

Sau bài giáo lý, Đức Thánh Cha nhắc đến ngày 1/3 là ngày kỷ niệm 25 năm Công ước cấm mìn sát thương, là thứ “tiếp tục nhắm vào thường dân vô tội, đặc biệt là trẻ em, thậm chí nhiều năm sau khi chiến sự kết thúc”.

Đức Thánh Cha bày tỏ sự cảm thông đối với vô số nạn nhân của những thiết bị lệch lạc này. Ngài nói rằng những vũ khí này nhắc nhở chúng ta về sự tàn khốc khủng khiếp của chiến tranh và cái giá mà dân thường buộc phải gánh chịu.

Đức Thánh Cha cảm ơn tất cả những người đã đóng góp để hỗ trợ các nạn nhân và dọn dẹp những khu vực bị ô nhiễm: “công việc của họ là một câu trả lời cụ thể cho lời kêu gọi phổ quát hãy trở thành những người kiến tạo hòa bình, chăm sóc anh chị em của chúng ta”.

Đừng quên các dân tộc đang sống trong cảnh chiến tranh

Đức Thánh Cha cũng kêu gọi đừng quên các dân tộc đang sống trong cảnh chiến tranh như Ucraina, Israel và Palestine, và nhiều nơi khác nữa trên thế giới.

Ngài tiếp tục cầu nguyện cho các nạn nhân của các cuộc tấn công vào nhà thờ Công giáo và đền thờ Hồi giáo ở Burkina Faso và cầu nguyện cho Haiti, nơi các tội ác và nạn bắt cóc do các băng đảng có vũ khí vẫn tiếp tuc.

Buổi tiếp kiến kết thúc với Kinh Lạy Cha va phép lành Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

 

Tiếp kiến chung 14/2/2024: Sự biếng nhác làm cho cuộc sống trở nên đơn điệu, nhàm chán

Sáng ngày 14/02, Đức Thánh Cha đã có buổi tiếp kiến chung thứ Tư hằng tuần với chủ đề “sự biếng nhác” trong loạt bài giáo lý về các thói xấu và các nhân đức. Buổi tiếp kiến diễn ra tại Hội trường Phaolô VI với khách hành hương chật kín các chỗ ngồi trong Hội trường. Đây là buổi tiếp kiến đông nhất kể từ mùa đông, khi các buổi tiếp kiến diễn ra tại Hội trường Phaolô VI thay vì tại quảng trường thánh Phêrô, vì trời lạnh.

Vatican News

Bài Tin Mừng (Mt 26,36.40-41) trước bài giáo lý

Bấy giờ Đức Giê-su đi cùng với các ông đến một thửa đất gọi là Ghết-sê-ma-ni. Người nói với các môn đệ: “Anh em ngồi lại đây, Thầy đến đàng kia cầu nguyện.” … Rồi Người đến chỗ các môn đệ, thấy các ông đang ngủ, liền nói với ông Phê-rô: “Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao?  Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn.”

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong số tất cả các mối tội đầu, có một thói xấu thường không được chú ý, có lẽ vì cái tên của nó khiến nhiều người khó hiểu, tôi đáng nói đến sự biếng nhác. Vì lý do này, trong danh mục các thói xấu, thuật ngữ biếng nhác/uể oải thường được thay thế bằng một thuật ngữ khác được sử dụng phổ biến hơn: sự lười biếng. Trên thực tế, sự lười biếng là một hệ quả hơn là một nguyên nhân. Khi một người ngồi không, nhàn rỗi, dửng dưng, chúng ta nói người đó lười biếng. Nhưng, như sự khôn ngoan của các tổ phụ sa mạc cổ xưa đã dạy, gốc rễ của sự lười biếng thường là biếng nhác, theo nghĩa đen từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “thiếu sự trông nom”.

Đây là một cám dỗ rất nguy hiểm mà chẳng phải đùa. Ai trở thành nạn nhân của nó thì giống như bị đè bẹp bởi ý muốn chết: người đó cảm thấy chán ghét mọi thứ; mối tương quan với Chúa trở nên nhàm chán đối với họ; và ngay cả những hành động thánh thiện nhất, những hành động từng sưởi ấm trái tim họ trong quá khứ, giờ đây dường như hoàn toàn vô dụng đối với họ. Họ bắt đầu nuối tiếc về thời gian trôi qua và tuổi trẻ không thể cứu vãn đã để lại đằng sau.

Biếng nhác được định nghĩa là “con quỷ giữa trưa”: nó tóm lấy chúng ta vào giữa ban ngày, khi sự mệt mỏi lên đến đỉnh điểm và những giờ phút phía trước dường như đơn điệu và không thể sống nổi. Trong một mô tả nổi tiếng, tu sĩ Evagrius thể hiện sự cám dỗ này như sau: “Mắt của người biếng nhác liên tục dán vào cửa sổ, và trong tâm trí anh ta tưởng tượng về những vị khách […] Khi đọc, người biếng nhác thường ngáp và dễ dàng bị cơn buồn ngủ khuất phục, anh ta dụi mắt, xoa tay và rời mắt khỏi cuốn sách, nhìn chằm chằm vào tường; sau đó lật lại cuốn sách, anh ta đọc thêm một chút [...]; cuối cùng, cúi đầu, đặt cuốn sách xuống và chìm vào giấc ngủ chập chờn, cho đến khi cơn đói đánh thức và buộc anh ta phải quan tâm đến những nhu cầu của mình”; tóm lại, “kẻ biếng nhác không nhiệt tình thực hiện công việc của Chúa”.

Độc giả đương thời nhìn thấy trong những mô tả này một điều gì đó gợi lên gần với chứng bệnh trầm cảm, cả từ quan điểm tâm lý và triết học. Thực tế, đối với những người bị sự biếng nhác trói buộc, cuộc sống mất đi ý nghĩa, việc cầu nguyện trở nên nhàm chán, mọi sự chiến đấu dường như vô nghĩa. Nếu từ thời trẻ, chúng ta đã nuôi dưỡng những niềm đam mê thì giờ đây chúng có vẻ vô lý đối với chúng ta, những ước mơ không còn khiến chúng ta hạnh phúc. Vì thế chúng ta buông thả mình và xao lãng, không suy nghĩ, dường như đó là những lối thoát duy nhất: chúng ta muốn lơ mơ, muốn đầu óc hoàn toàn trống rỗng... Giống như một cái chết trước vậy, và thật tệ.

Đối mặt với thói xấu này, mà chúng ta nhận thấy là rất nguy hiểm, các bậc thầy thiêng liêng đã đưa ra nhiều phương thuốc khác nhau. Tôi muốn chỉ ra điều mà đối với tôi là quan trọng nhất và điều mà tôi gọi là sự kiên nhẫn của đức tin. Do sự biếng nhác, ước muốn của người ta là ở “một nơi khác”, để thoát khỏi thực tại, ngược lại chúng ta phải có can đảm để ở lại và đón nhận cái hiện tại, “ở đây và lúc này” của tôi, đón nhận hoàn cảnh của tôi như nó vốn là, sự hiện diện của Thiên Chúa. Các đan sĩ nói rằng đối với họ, phòng giam là người thầy tốt nhất của cuộc sống, bởi vì đó là nơi nói với bạn một cách cụ thể và hàng ngày về câu chuyện tình yêu của bạn với Chúa. Con quỷ biếng nhác muốn tiêu diệt chính niềm vui đơn giản này của cái “ở đây và lúc này”, sự kinh ngạc biết ơn này của thực tại; nó muốn bạn tin rằng tất cả đều vô ích, không có ý nghĩa gì, không có gì hoặc bất cứ ai đáng để quan tâm. Trong cuộc sống, chúng ta gặp những người biếng nhác, những người nói rằng: “Cái này thật nhàm chán!” và chúng ta không muốn ở với người ấy; và người có thái độ nhàm chán thì nó cũng lây lan. Đó là sự biếng nhác.

Có bao người, vì sự biếng nhác, bị tác động bởi một mối lo chẳng vào đâu, đã dại dột từ bỏ con đường điều thiện mà họ đã theo đuổi! Đối diện với sự biếng nhác là một trận chiến quyết định, mà cần phải chiến thắng bằng mọi giá. Và đó là một trận chiến không trừ ai ngay cả với các vị thánh, bởi vì trong nhật ký của nhiều vị có một số trang kể lại những khoảnh khắc khủng khiếp, về những đêm tối đức tin thực sự, nơi mọi thứ dường như đen tối. Các vị thánh này dạy chúng ta kiên nhẫn bước đi trong đêm tối, chấp nhận sự nghèo khó của đức tin. Họ đã khuyến khích rằng, dưới áp lực của sự biếng nhác, hãy giữ mức độ cam kết nhỏ hơn, đặt ra những mục tiêu trong tầm tay hơn, nhưng đồng thời cũng phải kháng cự và kiên trì bằng cách nương tựa vào Chúa Giêsu, Đấng không bao giờ bỏ rơi chúng ta trong cơn cám dỗ.

Đức tin, bị dày xéo bởi thử thách của đêm tối, không mất đi giá trị của nó. Thật vậy, đó là đức tin đích thực, đức tin rất nhân bản, bất chấp mọi sự, bất chấp bóng đêm mù tối, vẫn khiêm tốn tin tưởng. Đức tin đó nằm ở trái tim, như than hồng ở dưới lớp tro. Nó luôn luôn còn đó. Nếu có ai rơi vào thói xấu này hay trong cơn cám dỗ biếng nhác, hãy tìm cách nhìn vào bên trong lòng mình và giữ lấy than hồng của đức tin và như thế tiến bước.

 

Tiếp kiến chung 07/02/24: Khi buồn, tôi nên làm gì?

Sáng thứ Tư ngày 07 tháng 02 năm 2024 , trong buổi tiếp kiến chung, Đức Thánh Cha đã tiếp tục loạt bài giáo lý về các thói xấu và các nhân đức. Chủ đề cho bài giáo lý hôm nay là “Nỗi buồn”. Đức Thánh Cha phân biệt hai nỗi buồn: một nỗi buồn tốt đáng có và một nỗi buồn tiêu cực làm suy yếu con người.

Vatican News

Bài đọc trước bài giáo lý được trích từ Thánh Vịnh 13,2-3.6:

Lạy CHÚA, Ngài quên con mãi tới bao giờ ?
Tới bao giờ còn ngoảnh mặt làm ngơ?
Tới bao giờ hồn con vẫn còn lo lắng
và lòng con ủ rũ đêm ngày ?
Tới bao giờ kẻ thù con thắng mãi ? […]
Phần con đây, con tin cậy vào tình thương CHÚA,
được Ngài cứu độ, lòng con sẽ vui mừng.
Con sẽ hát bài ca dâng CHÚA, vì phúc lộc Ngài ban.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong hành trình giáo lý về các thói xấu và các nhân đức, hôm nay chúng ta dừng lại ở một thói xấu là nỗi buồn, được hiểu như một sự chán nản của tâm hồn, một nỗi đau khổ thường xuyên ngăn cản con người cảm nhận niềm vui trong cuộc sống của chính mình.

Trước hết, cần phải lưu ý rằng, liên quan đến nỗi buồn, các Giáo phụ đã phát triển một sự phân biệt quan trọng. Thật vậy, có một nỗi buồn thích hợp với đời sống Kitô hữu và với ân sủng của Thiên Chúa, nó trở thành niềm vui: điều này rõ ràng không nên bị bỏ qua và là một phần của hành trình hoán cải. Nhưng cũng có một loại nỗi buồn thứ hai len lỏi vào tâm hồn và đánh ngã tâm hồn trong trạng thái chán nản: loại nỗi buồn thứ hai này phải được chiến đấu một cách kiên quyết và bằng tất cả sức mạnh, vì nó đến từ Ma quỷ. Chúng ta cũng tìm thấy sự khác biệt này nơi Thánh Phaolô, người viết cho giáo đoàn Côrintô, ngài đã nói: “Quả vậy, nỗi ưu phiền theo ý Thiên Chúa làm cho chúng ta hối cải để được cứu độ : đó là điều không bao giờ phải hối tiếc; còn nỗi ưu phiền theo kiểu thế gian thì gây ra sự chết” (2Cr 7,10).

Do đó, có một nỗi buồn thân hữu dẫn chúng ta đến ơn cứu độ. Chúng ta hãy nghĩ đến người con hoang đàng trong dụ ngôn: khi chạm tới đáy của tha hóa, anh ta cảm thấy vô cùng cay đắng, và điều này thúc đẩy anh ta trở về với chính mình và quyết định trở về nhà cha mình (xem Lc 15,11-20). Thật là một ân sủng khi khóc về tội lỗi của chúng ta, nhớ lại tình trạng ân sủng mà chúng ta mất khi sa ngã, khóc vì chúng ta đã đánh mất sự trong sạch mà Thiên Chúa đã mơ ước cho chúng ta.

Nhưng còn có nỗi buồn thứ hai, đó là một căn bệnh của tâm hồn. Nó nảy sinh trong trái tim con người khi một ước muốn hay hy vọng tan biến. Ở đây chúng ta có thể đề cập đến câu chuyện của hai môn đệ đi Emmaus. Hai môn đệ này rời Giêrusalem với lòng thất vọng, và đến một lúc, họ tâm sự với người lạ đến cùng đi với họ rằng: “Chúng tôi đã hy vọng rằng chính Người – tức là Chúa Giêsu – sẽ giải phóng dân Israel” (Lc 24:21). Động lực của nỗi buồn gắn liền với trải nghiệm mất mát. Trong trái tim con người nảy sinh những hy vọng nhưng đôi khi lại bị tiêu tan. Đó có thể là sự khao khát sở hữu một thứ gì đó không thể có được; nhưng cũng có thể là điều gì đó quan trọng, chẳng hạn như sự mất mát về mặt cảm xúc. Khi điều này xảy ra, trái tim của người ấy như thể rơi vào vực thẳm, và những cảm giác mà người ấy trải qua là chán nản, yếu đuối về tinh thần, đau buồn, thống khổ. Tất cả chúng ta đều trải qua những thử thách tạo nên nỗi buồn trong lòng, bởi vì cuộc sống khiến chúng ta mơ những giấc mơ rồi tan vỡ. Trong tình huống này, có người sau một thời gian hỗn loạn, đã đặt niềm tin vào hy vọng; nhưng có người lại chìm đắm trong nỗi u sầu, để nó làm hư hoại trái tim của họ. Có phải người ta thích điều này không? Hãy nhìn xem: nỗi buồn là một sự thích điều không thích; giống như thể ăn một viên kẹo đắng, không đường, rất đắng, ngậm viên kẹo đắng đó. Nỗi buồn là một sự thích điều không thích.

Đan sĩ Evagrius nói rằng mọi tật xấu đều nhắm đến một điều vui thú, dù nó có thể phù du đến đâu, trong khi nỗi buồn thì ngược lại: bị ru ngủ trong nỗi đau vô tận. Một số tang chế kéo dài, trong đó một người tiếp tục nới rộng sự trống vắng về một người không còn nữa, không phải là biểu hiện của cuộc sống trong Thánh Thần. Một số sự cay đắng đầy thù hận, trong đó một người luôn ám ảnh trong đầu rằng họ là nạn nhân, không tạo ra nơi chúng ta một cuộc sống tốt lành, càng không phải là một Kitô hữu. Có điều gì đó trong quá khứ của mỗi người cần được chữa lành. Nỗi buồn có thể biến từ một cảm xúc tự nhiên trở thành một trạng thái linh hồn nguy hại.

Nỗi buồn này là một ác thần lén lút. Những giáo phụ sa mạc mô tả nó như một con sâu trong trái tim, ăn mòn và làm trống rỗng những ai mang nó. Hình ảnh này diễn tả tốt giúp chúng ta hiểu. Vậy khi buồn tôi phải làm gì? Hãy dừng lại và xem: đây có phải là một nỗi buồn tốt không? Hay nó là một nỗi buồn tồi tệ? Và phản ứng theo bản chất của nỗi buồn. Đừng quên rằng nỗi buồn có thể là một điều rất tồi tệ khiến chúng ta bi quan, nó dẫn chúng ta đến sự ích kỷ khó chữa lành.

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy chú ý nỗi buồn này và nghĩ rằng Chúa Giêsu mang lại niềm vui phục sinh cho chúng ta. Dù cuộc sống có thể chứa đầy những mâu thuẫn, những ước muốn thất bại, những giấc mơ bất thành, tình bạn bị đánh mất, nhưng nhờ sự phục sinh của Chúa Giêsu, chúng ta có thể tin rằng mọi sự sẽ được cứu. Chúa Giêsu không chỉ sống lại cho chính mình mà còn cho chúng ta, để chuộc lại tất cả những hạnh phúc còn chưa thành toàn trong cuộc đời chúng ta. Đức tin xua tan nỗi sợ, và sự phục sinh của Chúa Kitô cất đi nỗi buồn như tảng đá khỏi nấm mồ. Mỗi ngày của Kitô hữu là một bài tập về sự phục sinh. Georges Bernanos, trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Nhật ký của một linh mục miền quê, đã nói với cha xứ Torcy như thế này: “Giáo hội có niềm vui, tất cả niềm vui đó được tặng riêng cho thế giới buồn bã này. Những gì bạn làm chống lại Giáo hội là bạn đã làm chống lại niềm vui”. Và một nhà văn người Pháp khác, León Bloy, đã để lại cho chúng ta câu nói tuyệt vời là: “Chỉ có một nỗi buồn duy nhất, […] đó là không nên thánh”. Xin Thánh Thần của Chúa Giêsu phục sinh giúp chúng ta chiến thắng nỗi buồn bằng sự thánh thiện.

Cuối buổi tiếp kiến, Đức Thánh Cha đã cùng với các tín hữu đọc Kinh Lạy Cha bằng tiếng Latinh, và ngài ban phép lành cho tất cả mọi người.

 

Tiếp kiến chung ngày 24/1/2024 - ĐTC Phanxicô: Tham lam là căn bệnh của tâm hồn

Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư ngày 24/1/2024, Đức Thánh Cha suy tư về sự tham lam. Đó là thói xấu gây ra ham muốn tiền bạc. Nó làm băng hoại ý chí con người, khiến con người chỉ chú tâm vào của cải vật chất. Đức Thánh Cha khuyên chúng ta đừng để của cải chiếm hữu chúng ta, nhưng trái lại, hãy học nơi Chúa Kitô, Đấng dù giàu có, đã trở nên nghèo để làm cho chúng ta trở nên giàu có bằng sự nghèo khó của Người (x. 2 Cor 8,9).

Vatican News 

Sau lời chào phụng vụ của Đức Thánh Cha, cộng đoàn cùng lắng nghe đoạn sách trích từ thư thứ nhất của Thánh Phaolô gửi cho Timôthêô (1 Tm 6,8-10):

Vậy nếu có cơm ăn áo mặc, ta hãy lấy thế làm đủ. Còn những kẻ muốn làm giàu, thì sa chước cám dỗ, sa vào cạm bẫy và nhiều ước muốn ngu xuẩn độc hại; đó là những thứ làm cho con người chìm đắm trong cảnh huỷ diệt tiêu vong. Thật thế, cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé.

Và Đức Thánh Cha bắt đầu bài giáo lý như sau:

Tham lam là căn bệnh của tâm hồn

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Chúng ta tiếp tục các bài giáo lý về các thói xấu và các nhân đức và hôm nay chúng ta nói về sự tham lam, tức là về hình thức gắn bó với tiền bạc khiến con người không thể rộng lượng quảng đại.

Đó không phải là thứ tội chỉ liên quan đến những người sở hữu tài sản to lớn, nhưng là một tội lỗi gián tiếp, thường không liên quan gì đến số tiền trong tài khoản của mình. Đó là căn bệnh của tâm hồn, không phải của ví tiền.

Sự tích lũy bệnh hoạn

Các phân tích được các thánh ẩn sĩ trong sa mạc thực hiện về thói xấu này đã cho thấy rõ rằng tính tham lam cũng có thể làm chủ các tu sĩ; sau khi đã từ bỏ những tài sản thừa kế to lớn, đơn độc trong căn phòng, họ đã trở nên gắn chặt với những đồ vật ít giá trị: họ không cho mượn, không chia sẻ chúng, càng không sẵn sàng cho đi. Những đồ vật đó đã trở thành một thứ họ tôn thờ và họ không thể dứt ra được. Một kiểu hồi tưởng về thời trẻ thơ, nắm chặt lấy đồ chơi và lặp đi lặp lại: “Của tôi! Nó là của tôi!”. Sự bám chặt như thế lấy mất đi tự do. Trong tuyên bố này ẩn chứa một mối quan hệ không lành mạnh với thực tế, điều có thể dẫn đến các hình thức bị thúc đẩy chiếm hữu hoặc tích lũy bệnh hoạn.

Của cải không thể theo ta vào quan tài

Để chữa lành căn bệnh này, các đan sĩ đã đề xuất một phương pháp quyết liệt nhưng rất hiệu quả: suy niệm về sự chết. Dù một người có tích lũy của cải trên đời này bao nhiêu đi chăng nữa, có một điều chúng ta hoàn toàn chắc chắn: chúng sẽ không theo ta vào quan tài. Chúng ta không thể mang của cải theo mình. Điều này bộc lộ sự vô nghĩa của thói xấu này. Mối ràng buộc sở hữu mà chúng ta xây dựng bằng vật chất chỉ là bề ngoài, bởi vì chúng ta không phải là chủ nhân của thế giới: trái đất mà chúng ta yêu quý này thực ra không phải của chúng ta, và chúng ta di chuyển trên đó như những ngoại kiều và những người hành hương (xem Lv 25,23).

Lý do của lòng tham: muốn xua tan nỗi sợ chết

Những suy tư đơn giản này giúp chúng ta hiểu được sự điên rồ của lòng tham nhưng cũng là lý do được che dấu nhất của nó. Đó là một nỗ lực để xua tan nỗi sợ chết: tìm kiếm những điều chắc chắn mà trên thực tế sẽ sụp đổ ngay khi chúng ta nắm bắt được chúng. Anh chị em hãy nhớ câu chuyện ngụ ngôn về người khờ dại, có cánh đồng sinh được một mùa màng bội thu, và sau đó ông chìm đắm trong suy nghĩ về việc làm thế nào để mở rộng nhà kho của mình để chứa toàn bộ những gì thu hoạch được. Người đàn ông đó đã tính toán mọi thứ, lên kế hoạch cho tương lai. Tuy nhiên, ông vẫn chưa xem xét yếu tố chắc chắn biến đổi nhất của cuộc sống: đó là cái chết. Tin Mừng nói: “Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?” (Lc 12,20).

Hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời

Trong những trường hợp khác, chính những kẻ trộm có lợi cho chúng ta. Họ cũng xuất hiện cả trong Tin Mừng rất nhiều lần và, mặc dù hành động của họ đáng chê trách, nhưng nó có thể trở thành một lời cảnh báo hữu ích. Chúa Giêsu rao giảng như thế trong Bài Giảng Trên Núi: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi” (Mt 6,19-20). Cũng trong những câu chuyện của các bậc tu hành trong sa mạc có kể câu chuyện về một tên trộm đã đến bất ngờ khi vị đan sĩ đang ngủ và đánh cắp một ít tài sản mà ông cất giữ trong phòng. Khi thức dậy, không hề băn khoăn về những gì đã xảy ra, vị đan sĩ bắt đầu lần theo dấu vết của tên trộm và khi tìm thấy hắn, thay vì đòi lại đồ ăn trộm, ông đưa cho hắn vài thứ còn lại và nói: “Anh quên lấy những thứ này!”.

Đức Kitô vốn giàu có nhưng vì chúng ta, Người đã trở nên nghèo khó 

Chúng ta có thể là chủ nhân của những thứ chúng ta sở hữu, nhưng điều ngược lại thường xảy ra: cuối cùng chúng sở hữu chúng ta. Một số người giàu có không còn tự do, thậm chí không còn thời gian để nghỉ ngơi, họ phải cảnh giác vì việc tích lũy của cải cũng cần có sự bảo vệ của họ. Họ luôn lo lắng vì một gia sản được xây dựng bằng bao nhiêu mồ hôi nhưng có thể biến mất chỉ trong chốc lát. Họ quên lời rao giảng của Phúc Âm; Phúc Âm không cho rằng sự giàu có tự bản thân nó là tội lỗi, nhưng chắc chắn đó là một trách nhiệm. Thiên Chúa không nghèo: Người là Chúa của mọi sự, tuy nhiên - Thánh Phaolô viết – “Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để nhờ sự nghèo khó của Người mà anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8,9).

Hãy quảng đại

Đây là điều mà kẻ keo kiệt không hiểu được. Thay vì có thể là nguồn phúc lành cho nhiều người, ngược lại, họ lại rơi vào ngõ cụt của bất hạnh. Và cuộc đời của một người keo kiệt thật tồi tệ. Tôi nhớ trường hợp của một người đàn ông tôi gặp ở giáo phận kia, một người rất giàu và có người mẹ bị bệnh. Ông đã có gia đình. Các anh em thay phiên nhau chăm sóc mẹ; bà ăn một ly sữa chua vào mỗi buổi sáng. Người đàn ông này cho bà ăn một nửa vào buổi sáng và nửa còn lại vào buổi chiều và tiết kiệm được một nửa. Đây là thói keo kiệt, đây là cách bám víu vào của cải. Sau đó, người đàn ông này qua đời, và những người đến dự buổi cầu nguyện nhận xét: “Nhưng, chúng ta có thể thấy rằng người đàn ông này chẳng có gì trên người cả: ông đã bỏ lại đàng sau mọi thứ”. Sau đó, họ nói cách hơi giễu cợt: “Không, không, người ta không thể đóng quan tài vì ông muốn mang theo mình mọi thứ”. Và điều này khiến người khác cười nhạo, tính tham lam keo kiệt: cuối cùng, chúng ta phải dâng thân xác, linh hồn của mình cho Chúa và chúng ta phải bỏ lại tất cả. Chúng ta hãy cẩn thận và quảng đại: quảng đại với mọi người và quảng đại với những người cần chúng ta nhất. Xin cảm ơn.

Vào cuối buổi tiếp kiến, trong lời chào các tín hữu hành hương, Đức Thánh Cha cầu nguyện xin Chúa ban cho chúng ta có tâm hồn không dính bén với của cải vật chất, không tích lũy của cải dưới đất này nhưng là ở trên trời, và xin ân sủng để gắn bó với điều tốt đích thực duy nhất, đó là tình yêu của Người và tình yêu dành cho anh chị em chúng ta.

Buổi tiếp kiến kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

 

Tiếp kiến chung thứ Tư 17/1/2024 : Dục vọng

Sáng thứ Tư ngày 17/1, Đức Thánh Cha có buổi Tiếp kiến chung thứ Tư hằng tuần với bài giáo lý có tựa đề “Dục vọng” trong loạt bài giáo lý về các thói xấu và các nhân đức.

Vatican News

Bài đọc Sách thánh trước bài giáo lý (1 Tx 4,3-5)

[Anh em thân mến], Ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh , tức là xa lánh gian dâm, 4mỗi người hãy biết lấy cho mình một người vợ để sống cách thánh thiện và trong danh dự, 5chứ không buông theo đam mê dục vọng như dân ngoại, là những người không biết Thiên Chúa.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha

Anh chị em thân mến, chào anh chị em,

Hôm nay, chúng ta tiếp tục hành trình về những thói xấu và nhân đức; và các Giáo phụ xưa đã dạy chúng ta rằng, sau thói háu ăn, thì “quỷ dữ” thứ hai , là thói xấu, luôn rình rập trước cửa trái tim là dục vọng. Trong khi háu ăn là “sự ham muốn” trước thức ăn, thì thói xấu thứ hai này là một loại “ham muốn” về người khác, tức là mối liên kết độc hại mà con người tạo ra giữa nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực tình dục.

Cần lưu ý: trong Kitô giáo, không có sự lên án bản năng tình dục – không lên án. Một sách trong Kinh thánh, sách Diễm ca, là một bài tình ca tuyệt vời giữa đôi yêu nhau. Tuy nhiên, chiều kích tốt đẹp này, chiều kích tính dục, chiều kích tình yêu của nhân loại chúng ta không tránh khỏi những nguy hiểm, đến nỗi Thánh Phaolô đã phải đề cập đến vấn đề này trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô. Ngài viết như sau: “Đi đâu cũng chỉ nghe nói đến chuyện dâm ô xảy ra giữa anh em, mà là thứ dâm ô không thấy xảy ra ngay cả nơi dân ngoại” (5:1). Lời quở trách của Thánh Tông đồ liên quan chính xác đến việc sử dụng tình dục một cách không lành mạnh của một số Kitô hữu.

Nhưng hãy nhìn vào kinh nghiệm con người, kinh nghiệm của việc yêu và được yêu. Có nhiều cặp vợ chồng mới cưới ở đây, anh chị em có thể nói về điều này! Tại sao mầu nhiệm này xảy ra và tại sao nó lại là một kinh nghiệm đáng kinh ngạc như thế trong cuộc đời con người, mà không ai trong chúng ta biết, khi một người yêu người khác thì tình yêu đến: đó là một trong những thực tế đáng kinh ngạc nhất của sự hiện hữu. Hầu hết các bài hát chúng ta nghe trên radio đều nói về điều này: những tình yêu tỏa sáng, người ta luôn theo đuổi tình yêu nhưng không bao giờ cho đủ, những tình yêu tràn ngập niềm vui, hay những tình yêu làm đau khổ đến mức rơi nước mắt.

Nếu không bị ô nhiễm bởi thói xấu thì yêu là một trong những cảm xúc thuần khiết nhất. Người đang yêu trở nên hào phóng, thích tặng quà, thích viết thư và làm thơ. Họ ngừng suy nghĩ về bản thân để hoàn toàn hướng tới người khác. Và nếu bạn hỏi một người đang yêu tại sao họ yêu, thì người ấy sẽ chẳng tìm ra câu trả lời: bằng nhiều cách, tình yêu của người ấy là tình yêu vô điều kiện, không cần lý do. Cần kiên nhẫn, nếu tình yêu đó, dù rất mạnh mẽ, cũng có chút ngây thơ: người đang yêu không thực sự biết sự thật khuôn mặt của đối phương, vì họ có khuynh hướng lý tưởng hóa người ấy, sẵn sàng đưa ra những lời hứa mà lúc đó họ không lường trước được sức nặng. Tuy nhiên, “khu vườn” nơi những điều kỳ diệu được nhân lên thì không miễn trừ khỏi cái ác. Nó bị quỷ dục vọng làm biến dạng, và thói xấu này đặc biệt đáng ghét, ít nhất vì hai lý do.

Trước hết vì nó tàn phá mối tương quan giữa con người với nhau. Thật không may, tin tức hàng ngày cũng đủ để ghi lại một thực tế như vậy. Có bao nhiêu mối quan hệ bắt đầu một cách tốt đẹp nhất nhưng sau đó lại biến thành những mối quan hệ độc hại, chiếm hữu người kia, không có sự tôn trọng và cảm giác gò bó? Đây là những tình yêu thiếu khiết tịnh: là một nhân đức không nên nhầm lẫn với việc kiêng tránh quan hệ tình dục, mà đúng hơn là với ý muốn không bao giờ chiếm hữu người khác. Yêu có nghĩa là tôn trọng người khác, tìm kiếm hạnh phúc cho họ, vun trồng sự đồng cảm với cảm xúc của họ, đặt mình vào sự hiểu biết về một thể xác, tâm lý và tâm hồn khác với mình và phải chiêm ngưỡng vẻ đẹp nơi người sở hữu nó. Mặt khác, dục vọng chế diễu tất cả những điều này: dục vọng cướp bóc, trấn lột, vội vàng, không muốn lắng nghe người khác mà chỉ muốn chiều theo nhu cầu và thú vui của riêng mình; dục vọng coi việc âu yếm là nhàm chán, nó không tìm kiếm sự tổng hoà giữa lý trí, động lực và cảm giác vốn giúp chúng ta sống sự hiện hữu cách khôn ngoan. Con người dục vọng chỉ tìm kiếm những con đường tắt: người ấy không hiểu rằng con đường tình yêu phải tiến bước cách chậm rãi, và sự kiên nhẫn này, không đồng nghĩa với sự nhàm chán, cho phép chúng ta làm cho mối quan hệ yêu đương của mình được hạnh phúc.

Nhưng có lý do thứ hai khiến dục vọng là một thói xấu nguy hiểm. Trong số tất cả những thú vui của con người, tình dục có tiếng nói mạnh mẽ. Nó liên quan đến tất cả các giác quan; nó hiện diện trong cả thể xác lẫn tinh thần, và điều này thật đẹp; nhưng nếu không kỷ luật bằng sự kiên nhẫn, nếu không được khắc ghi trong một mối quan hệ và trong một câu chuyện mà hai cá nhân làm cho nó thành một điệu nhảy tình yêu, thì nó sẽ biến thành một sợi dây xiềng xích tước đoạt tự do của con người. Niềm vui tình dục, vốn là món quà của Thiên Chúa, bị tổn hại bởi nội dung khiêu dâm: sự thỏa mãn không tương quan thì chỉ có thể tạo ra các hình thức nghiện. Chúng ta phải bảo vệ tình yêu, tình yêu của con tim, của lý trí, tình yêu trong sáng trao ban cho người khác. Và đây là điều đẹp của tương quan tình dục.

Chiến thắng trong cuộc chiến chống lại dục vọng, chống lại việc “xem người khác là đồ vật”, có thể là một nhiệm vụ suốt đời. Tuy nhiên, phần thưởng của trận chiến này là quan trọng nhất, bởi vì nó liên quan đến việc bảo tồn vẻ đẹp mà Thiên Chúa đã viết ra trong công trình sáng tạo của Người khi Người tưởng nghĩ đến tình yêu giữa người nam và người nữ, vốn không phải để sử dụng mà là để yêu thương. Vẻ đẹp đó khiến chúng ta tin rằng việc cùng nhau xây dựng một câu chuyện thì tốt hơn là đuổi bắt những cuộc phiêu lưu, vun đắp sự dịu dàng hơn là cúi đầu trước quỷ dữ chiếm hữu – tình yêu đích thực thì không chiếm hữu nhưng trao ban -, phục vụ hơn là chinh phục. Bởi nếu không có tình yêu thì cuộc sống sẽ buồn sầu cô đơn.

Trước khi buổi tiếp kiến kết thúc, một đoàn xiếc đã biểu diễn một tiết mục trên khán đài của hội trường Phaolô VI. Cuối cùng, mọi người hát Kinh Lạy Cha bằng tiếng Latinh và Đức Thánh Cha ban phép lành cho tất cả mọi người.

 

Tiếp kiến chung (10 tháng 1 năm 2024): Thói xấu về ăn uống

Sáng thứ Tư ngày 10/1, Đức Thánh Cha có buổi Tiếp kiến chung thứ Tư hằng tuần với bài giáo lý có tựa đề “Thói háu ăn” trong loạt bài giáo lý về các thói xấu và các nhân đức.

Vatican News

Bài trích sách Châm ngôn (23,15.20-21):

Hỡi con, tâm trí con khôn ngoan thì lòng dạ thầy cũng vui sướng. […]
Đừng nhập bọn với quân chè chén say sưa, với những kẻ chỉ mê ăn mê nhậu. 
Bởi vì kẻ say sưa ăn nhậu ắt sẽ phải túng nghèo; kẻ mơ màng buồn ngủ sẽ khố rách áo ôm.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong hành trình các bài giáo lý mà chúng ta đang thực hiện về các thói xấu và nhân đức, hôm nay chúng ta tập trung vào thói xấu về ăn uống (háu ăn).

Tin Mừng nói gì với chúng ta về điều này? Chúng ta hãy nhìn Chúa Giêsu, phép lạ đầu tiên tại tiệc cưới Cana biểu lộ sự cảm thông của Người đối với những niềm vui của con người: Người quan tâm để bữa tiệc kết thúc tốt đẹp và cho đôi tân hôn một lượng lớn rượu ngon. Trong suốt hành trình sứ vụ, Chúa Giêsu tỏ ra như một vị ngôn sứ rất khác biệt với Gioan Tẩy Giả: nếu Gioan được nhớ đến với lối sống khổ hạnh - ông đã ăn những gì tìm thấy trong sa mạc - thì ngược lại Chúa Giêsu là Đấng Mêsia mà chúng ta thường thấy ở bàn ăn. Cách hành xử của Người tạo nên cú sốc cho một số người, bởi vì Người không chỉ nhân từ với tội nhân, mà còn ăn uống với họ; và cử chỉ này thể hiện mong muốn hiệp thông và gần gũi với tất cả mọi người.

Nhưng cũng có một điều gì đó khác. Trong khi Chúa Giêsu chu toàn Lề Luật đối với các giới răn Do Thái, tuy nhiên, Người tỏ ra thông cảm với các môn đệ của mình: khi họ phạm lỗi, vì đói họ bứt bông lúa để ăn, Người biện minh cho họ, bằng cách nhắc lại việc ngay cả vua Đa-vít và các thuộc hạ của vua đã lấy bánh tiến để ăn (x. Mc 2,23-26). Nhưng trên hết, Chúa Giêsu đã nêu lên một nguyên tắc mới: khách dự tiệc cưới không thể ăn chay khi chàng rể còn ở với họ. Chúa Giêsu muốn chúng ta vui mừng khi ở bên Người, Người là chàng rể của Giáo hội; nhưng Người cũng muốn chúng ta tham dự vào những đau khổ của Người, đó cũng là những đau khổ của những kẻ bé nhỏ và người nghèo. Chúa Giêsu là phổ quát.

Một khía cạnh quan trọng khác. Chúa Giêsu bỏ sự phân biệt giữa thực phẩm thanh sạch và thực phẩm ô uế, vốn là một sự phân biệt trong luật Do Thái.

Và về điều này, Chúa Giêsu nói rõ ràng rằng điều làm nên tốt hay xấu - có thể nói - xấu của một thức ăn, không phải là do tự bản thân thức ăn mà là mối liên hệ của chúng ta với nó. Và chúng ta thấy điều đó, khi một người có mối liên hệ không điều độ với thức ăn, thì chúng ta có thể nhìn cách họ ăn, ăn vồn vã, như thể để thỏa mãn bản thân và không bao giờ thỏa mãn được, không có cảm giác thỏa mãn; nếu không có liên hệ tốt với thức ăn thì làm nô lệ của thức ăn. Chúa Giêsu coi trọng thức ăn. Việc ăn uống có tính xã hội. Cũng có những biểu hiện của sự mất cân bằng và nhiều bệnh lý. Người ta ăn quá nhiều hoặc quá ít. Người ta thường ăn một mình. Chứng rối loạn ăn uống đang lan rộng: biếng ăn, cuồng ăn, béo phì... Và y học, tâm lý học đang cố gắng giải quyết mối liên hệ không tốt với thực phẩm. Mối liên hệ không tốt với thực phẩm sẽ tạo ra tất cả những căn bệnh này.

Đây là những căn bệnh, thường rất đau khổ, liên quan nhiều hơn đến những nỗi khổ về tâm lý và tâm hồn. Như Chúa Giêsu đã dạy, không phải tự bản thân thức ăn là điều xấu, nhưng mối liên hệ của chúng ta với chúng. Thực phẩm là biểu hiện của một điều gì đó bên trong: khuynh hướng cân bằng hoặc thái quá; khả năng tạ ơn hoặc kiêu ngạo cho rằng mình tự lập; sự đồng cảm của những người biết chia sẻ miếng ăn cho người túng thiếu, hay sự ích kỷ của những người tích trữ mọi thứ cho riêng mình. Hãy cho tôi biết bạn ăn uống thế nào, tôi sẽ cho bạn biết bạn có tâm hồn thế nào.

Các Giáo Phụ xưa gọi thói háu ăn là “gastrimargia”, một thuật ngữ có thể dịch là “sự điên cuồng của cái bụng”. Đây là một câu châm ngôn, có nghĩa là chúng ta ăn để sống chứ không phải sống để ăn. Thói háu ăn là một tật xấu gắn liền với một trong những nhu cầu thiết yếu của chúng ta, như thực phẩm chẳng hạn. Chúng ta để ý điều này.

Nếu chúng ta đọc nó từ góc độ xã hội, thì thói háu ăn có lẽ là thói xấu nguy hiểm nhất đang giết chết hành tinh. Bởi vì tội lỗi của những người đầu hàng trước một miếng bánh, xét về cho cùng, không gây ra thiệt hại lớn, nhưng tính phàm ăn mà chúng ta đã buông thả, trong vài thế kỷ nay, đối với tài nguyên của hành tinh đang làm tổn hại đến tương lai của mọi người. Chúng ta vồ lấy mọi thứ, trở thành chủ nhân của mọi thứ, trong khi mọi thứ đã được giao cho chúng ta trông coi, gìn giữ chứ không phải để bóc lột. Như vậy, đây là tội lỗi lớn, cơn giận dữ của cái bụng: chúng ta đã từ bỏ danh nghĩa con người, để nhận lấy danh nghĩa khác là “người tiêu dùng”. Và ngày nay người ta nói như vậy trong đời sống xã hội: người tiêu dùng. Chúng ta thậm chí còn không để ý rằng ai đó đã bắt đầu gọi chúng ta như vậy. Chúng ta được tạo dựng để trở thành những người nam nữ “thánh thể”, có khả năng tạ ơn, cẩn trọng trong việc sử dụng trái đất, nhưng thay vào đó, có nguy hiểm là chúng ta lại biến mình thành những kẻ săn mồi, và giờ đây chúng ta nhận ra rằng hình thức “háu ăn” này đã gây ra rất nhiều tai hại cho thế giới. Chúng ta cầu xin Chúa giúp chúng ta biết điều độ để những hình thức “háu ăn” không chiếm hữu đời sống chúng ta. Xin cảm ơn anh chị em!

Cuối buổi tiếp kiến, Đức Thánh Cha ban phép lành cho những người hiện diện.

 

Tiếp kiến chung của ĐTC, thứ Tư 3 tháng 1 năm 2024

Sáng thứ Tư, ngày 3 tháng 1 năm 2024, Đức Thánh Cha đã có buổi Tiếp kiến chung hằng tuần với bài giáo lý thứ hai trong loạt bài giáo lý về những thói xấu và những nhân đức. Bài giáo lý thứ hai có tựa đề “Chiến đấu thiêng liêng”. Đức Thánh Cha nhấn mạnh: trong thân phận con người, ai cũng gặp cám dỗ, nhưng Chúa luôn đồng hành để chúng ta chiến đấu và chiến thắng những cám dỗ, bởi vì Chúa luôn luôn tha thứ và trợ giúp chúng ta, bất chấp những tội lỗi nghiêm trọng của chúng ta.

Vatican News

Buổi tiếp kiến chung mở đầu với dấu Thánh Giá và đoạn trích Tin Mừng theo thánh Matthêu (3, 13-15):
Bấy giờ, Đức Giê-su từ miền Ga-li-lê đến sông Gio-đan, gặp ông Gio-an để xin ông làm phép rửa cho mình. 14Nhưng ông một mực can Người và nói: “Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !” 15Nhưng Đức Giê-su trả lời : “Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính.” Bấy giờ ông Gio-an mới chiều theo ý Người.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha:

Anh chị em thân mến, chào anh chị em,

Tuần trước chúng ta đã giới thiệu về chủ đề các thói xấu và các nhân đức. Nó gợi lại cuộc chiến đấu thiêng liêng của Kitô hữu. Thực ra, đời sống thiêng liêng của người Kitô hữu không hề bình lặng, thẳng tắp và không có thử thách, trái lại, đời sống Kitô hữu đòi hỏi phải chiến đấu liên tục. Không phải ngẫu nhiên mà việc xức dầu đầu tiên mà mọi Kitô hữu lãnh nhận trong bí tích Rửa tội - việc xức dầu dự tòng - không có bất kỳ loại hương liệu nào và báo hiệu một cách biểu tượng rằng cuộc sống là một cuộc chiến đấu. Thật vậy, thời xa xưa, các đô vật được xức dầu toàn thân trước trận đấu, vừa để làm săn chắc cơ bắp, vừa giúp cơ thể thoát khỏi sự tóm bắt của đối thủ. Việc xức dầu cho các dự tòng ngay lập tức làm sáng tỏ rằng người Kitô hữu không tránh khỏi cuộc chiến: ngay cả sự hiện hữu của họ, cũng như của mọi người, sẽ phải bước vào đấu trường, bởi vì cuộc sống là một chuỗi những thử thách và cám dỗ.

Một câu nói nổi tiếng của thánh Tổ phụ Antôn, người cha vĩ đại đầu tiên của đời sống đan tu, như thế này: “Hãy loại bỏ các cám dỗ và chẳng ai sẽ được cứu”. Các vị thánh không phải là những người thoát khỏi cám dỗ, nhưng đúng hơn, con người ý thức rõ ràng rằng trong cuộc sống họ phải liên tục đối diện với những cám dỗ về cái xấu, để vạch trần và đẩy lùi nó. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm về điều này, tất cả chúng ta: rằng một ý nghĩ xấu đến với bạn, rằng ước muốn làm điều này hoặc nói xấu người khác đến với bạn... Mọi người, mọi người đều bị cám dỗ, và chúng ta phải chiến đấu để không thua cuộc trước những cám dỗ này. Nếu ai trong anh chị em không bị cám dỗ thì xin nói cho tôi biết, vì đó thật là một điều phi thường! Tất cả chúng ta đều có những cám dỗ và tất cả chúng ta đều cần học cách đối phó với những tình huống này.

Có nhiều người tự hoá giải cho mình, nhiều người cho rằng mình “ổn”, nói rằng: “Không, tôi tốt lắm, tôi chẳng có những vấn đề này”. Nhưng chẳng ai trong chúng ta đã ổn rồi; nếu ai cảm thấy ổn rồi, thì có lẽ đang mơ; mỗi người trong chúng ta có nhiều điều cần phải điều chỉnh, và ngay cả phải cảnh giác. Và đôi khi chúng ta đến với bí tích Hoà Giải, và nói bằng sự chân thành rằng: “Thưa cha, con chẳng nhớ, con không biết là con có tội hay không…”. Đây là sự thiếu sót về sự nhận biết những gì xảy ra trong trái tim mình. Tất cả chúng ta là tội nhân, tất cả. Và việc xét mình, nhìn lại nội tâm của mình sẽ giúp chúng ta tốt hơn. Nếu không, chúng ta có nguy cơ sống trong bóng tối, bởi vì cuối cùng họ đã quen với bóng tối và không còn biết phân biệt tốt xấu. Isaac ở Nineveh nói rằng trong Giáo hội, người biết tội lỗi của mình và than khóc chúng thì lớn lao hơn người làm cho kẻ chết sống lại. Tất cả chúng ta phải cầu xin Thiên Chúa ban ơn nhận ra mình là những tội nhân đáng thương, cần hoán cải, giữ trong lòng niềm tin tưởng rằng không có tội lỗi nào quá lớn đối với lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa Cha. Đây là bài học vỡ lòng mà Chúa Giêsu dạy cho chúng ta.

Chúng ta thấy điều đó trong những trang đầu tiên của Tin Mừng, trước hết khi chúng ta được nghe kể về phép rửa của Đấng Messia trong dòng nước sông Giođan. Trình thuật này tự nó có một điều gì đó gây hoang mang: tại sao Chúa Giêsu lại chịu phép rửa như vậy? Người là Thiên Chúa, là Đấng hoàn hảo. Chúa Giêsu cần phải ăn năn tội lỗi nào? Chẳng có. Ngay cả Gioan Tẩy Giả cũng bị sốc, đến mức bản văn viết: “Ông Gioan muốn ngăn cản Người và nói: ‘Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !” (Mt 3,14). Nhưng Chúa Giêsu là một Đấng Mêsia rất khác với cách Gioan đã trình bày về Người và người ta tưởng tượng về Người: Người không là hiện thân của Thiên Chúa giận dữ và Người không triệu gọi để phán xét, nhưng trái lại, Người xếp hàng với những tội nhân. Sao như vậy được? Vâng, Chúa Giêsu đồng hành với chúng ta, tất cả chúng ta là những kẻ tội lỗi. Người không phải là tội nhân, nhưng Người ở giữa chúng ta. Và đây là một điều thật đẹp. Chúng ta có thể nói: “Thưa cha, con có quá nhiều tội lỗi!” – “Nhưng Chúa Giêsu ở cùng bạn: hãy nói về điều đó, Người sẽ giúp bạn thoát khỏi nó”. Chúa Giêsu không bao giờ để chúng ta cô đơn, không bao giờ! Hãy nghĩ kỹ về điều này. “Thưa Cha, con đã phạm những điều nghiêm trọng rồi!” – “Nhưng Chúa Giêsu hiểu bạn và đồng hành với bạn: Người hiểu tội lỗi của bạn và tha thứ”. Đừng bao giờ quên điều này! Trong những lúc tồi tệ nhất, trong những lúc chúng ta sa vào tội lỗi, Chúa Giêsu ở bên cạnh để giúp nâng chúng ta lên. Điều này mang lại sự an ủi. Chúng ta không được đánh mất sự chắc chắn này: Chúa Giêsu ở bên cạnh chúng ta để giúp đỡ, bảo vệ chúng ta, thậm chí giúp chúng ta đứng dậy sau tội lỗi. “Thưa Cha, có phải Chúa Giêsu tha thứ tất cả không?” – “Tất cả. Người đến để tha thứ, để cứu rỗi. Chỉ có điều Chúa Giêsu cần trái tim của bạn mở rộng”. Người không bao giờ quên tha thứ: chính chúng ta nhiều khi mất khả năng cầu xin sự tha thứ. Hãy lấy lại khả năng này để cầu xin sự tha thứ. Mỗi người chúng ta có nhiều điều cần xin tha thứ: mỗi người chúng ta hãy suy nghĩ về điều đó trong lòng mình và hôm nay nói chuyện đó với Chúa Giêsu. Hãy thưa với Chúa Giêsu về điều này: “Lạy Chúa, con không biết điều này có đúng hay không, nhưng con chắc chắn rằng Chúa sẽ không rời xa con. Con chắc chắn rằng Chúa tha thứ cho con. Lạy Chúa, con là một tội nhân, nhưng xin đừng quay mặt đi”. Đây sẽ là một lời cầu nguyện tuyệt vời dâng lên Chúa Giêsu hôm nay: “Lạy Chúa, xin đừng lìa xa con”.

Và ngay sau phép rửa, các Tin Mừng kể rằng Chúa Giêsu rút lui vào sa mạc, nơi Người bị Satan cám dỗ. Ngay cả trong trường hợp này, chúng ta cũng tự hỏi: tại sao Con Thiên Chúa lại phải chịu cám dỗ? Ngay cả trong trường hợp này, Chúa Giêsu thể hiện tình liên đới với bản chất con người mong manh của chúng ta và trở thành gương mẫu vĩ đại của chúng ta: những cơn cám dỗ mà Người nếm trải và vượt qua giữa những tảng đá khô cằn của sa mạc là bài học đầu tiên Người dạy cho đời sống môn đệ của chúng ta. Người đã nếm trải điều mà chúng ta cũng phải luôn chuẩn bị để đối mặt: cuộc sống được tạo nên từ những thách đố, thử thách, những ngã rẽ, những cái nhìn đối lập, những cám dỗ tiềm ẩn, những tiếng nói trái ngược nhau. Một số tiếng nói thậm chí còn có sức thuyết phục cao, đến mức Sa-tan cám dỗ Chúa Giê-su bằng cách dùng đến những lời trong Kinh thánh. Chúng ta phải giữ gìn sự sáng suốt bên trong để chọn con đường thực sự đưa chúng ta đến hạnh phúc và sau đó cam kết không dừng lại trên cuộc hành trình.

Chúng ta hãy nhớ rằng chúng ta luôn bị giằng xé giữa những thái cực trái ngược nhau: niềm kiêu hãnh thách thức sự khiêm nhường; hận thù tương phản với lòng bác ái; nỗi buồn cản trở niềm vui đích thực của Thánh Thần; sự cứng lòng từ chối lòng thương xót. Kitô hữu liên tục bước đi trên những rặng núi này. Vì vậy, điều quan trọng là phải suy ngẫm về những thói xấu và những nhân đức: nó giúp chúng ta thắng vượt văn hóa hư vô, nơi đó ranh giới giữa thiện và ác vẫn còn mập mờ, đồng thời, nó nhắc nhở chúng ta rằng con người, không giống bất kỳ thụ tạo nào khác, có thể luôn vượt lên trên chính mình, mở lòng ra với Thiên Chúa và tiến tới sự thánh thiện.

Do đó, cuộc chiến thiêng liêng khiến chúng ta nhìn kỹ vào những thói xấu đang xiềng xích chúng ta và bước đi, với ân sủng của Thiên Chúa, hướng tới những nhân đức có thể làm nở hoa trong chúng ta, mang nguồn suối Thánh Thần vào cuộc sống của chúng ta.

 

Tiếp kiến chung thứ Tư 27/12/2023: Gìn giữ trái tim

Trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư hằng tuần vào ngày 27/12, Đức Thánh Cha Phanxicô đã bắt đầu loạt bài giáo lý mới về các thói xấu và các nhân đức với bài đầu tiên về “gìn giữ trái tim”.

Vatican News

Mở đầu bài giáo lý, như thường lệ, là bài đọc Kinh Thánh, được trích từ Tin Mừng theo thánh Marcô (7,14-15.21):

Đức Giê-su  gọi đám đông lại mà bảo : “Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ : Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được ; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu.”

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha:

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay tôi muốn giới thiệu một loạt bài giáo lý mới về chủ đề các thói xấu và nhân đức. Và chúng ta có thể khởi đi từ đầu Kinh thánh, trong đó sách Sáng thế, qua câu chuyện về nguyên tổ, trình bày cách thế của sự ác và của cám dỗ. Chúng ta nghĩ đến Thiên đàng ở trần thế này. Trong bức tranh bình dị mà Vườn Địa Đàng thể hiện, một nhân vật xuất hiện như biểu tượng của sự cám dỗ: con rắn, nhân vật cám dỗ. Rắn là một loài động vật quỷ quyệt: nó di chuyển chậm rãi, bò trên mặt đất và đôi khi người ta thậm chí không nhận thấy sự hiện diện của nó – nó âm thầm, vì nó nguỵ trang trùng với môi trường. Do đó, đây là lý do tại sao nó nguy hiểm.

Khi bắt đầu đối thoại với Adam và Eva, con rắn chứng tỏ rằng nó cũng là một nhà biện chứng tinh tế. Nó bắt chuyện với kiểu ngồi lê đôi mách xấu xa, với một câu hỏi tinh quái: “Có đúng là Chúa đã dạy: Các ngươi không được ăn bất kỳ cây nào trong vườn không?” (St 3,1). Câu này sai: Trên thực tế, Thiên Chúa đã ban cho con người mọi trái cây trong vườn, ngoại trừ trái của một loại cây cụ thể: cây biết điều thiện và điều ác. Sự cấm đoán này không nhằm mục đích cấm con người sử dụng lý trí, như đôi khi bị hiểu sai, mà là thước đo của sự khôn ngoan. Như muốn nói: hãy nhận ra giới hạn, đừng tưởng mình là chủ nhân của mọi thứ, vì kiêu ngạo là khởi đầu của mọi điều xấu. Như thế, Thiên Chúa đặt nguyên tổ làm người cai quản và bảo vệ công trình sáng tạo, nhưng muốn giữ họ khỏi sự tự cho mình là toàn năng, biến mình thành chủ nhân của thiện và ác, vốn là một cám dỗ, ngay cả cám dỗ trong thời đại chúng ta. Đây là cạm bẫy nguy hiểm nhất đối với trái tim con người.

Như chúng ta biết, Adam và Eva đã không thể cưỡng lại sự cám dỗ của con rắn. Ý tưởng về một vị Chúa không tốt lành, muốn bắt họ phải phục tùng, len lỏi vào tâm trí họ: từ đó mà mọi thứ sụp đổ.

Với những câu chuyện này, Kinh Thánh giải thích cho chúng ta rằng cái ác không bắt đầu trong con người với một phát dội ầm, với một hành động xuất hiện rõ ràng, nhưng sự dữ bắt đầu từ trước rất lâu, khi người ta bắt đầu tương tác với nó, đung đưa nó trong trí tưởng tượng và suy nghĩ, rồi kết thúc bằng việc bị mắc bẫy bởi những lời xu nịnh của nó. Vụ sát hại Abel không bắt đầu bằng một hòn đá ném vào người nhưng bằng mối hận thù mà Cain khổ sở nuôi dưỡng trong lòng, khiến anh trở thành một con quái vật trong chính mình. Ngay cả trong trường hợp này, những lời khuyên của Chúa cũng vô ích.

Anh chị em thân mến, với ma quỷ thì đừng bao giờ đối thoại. Đừng bao giờ nên tranh luận với ma quỷ. Chúa Giêsu đã không bao giờ đối thoại với ma quỷ; Người đã đuổi nó đi. Và khi ở trong sa mạc, với cám dỗ, Chúa đã không trả lời nó bằng cách đối thoại; nhưng Người đơn giản trả lời nó bằng Kinh Thánh, với Lời Chúa. Anh chị em hãy chú ý: ma quỷ là kẻ dụ dỗ. Đừng bao giờ đối thoại với nó, bởi vì nó tinh ranh hơn chúng ta và nó muốn chiếm đoạt chúng ta. Khi một cám dỗ đến thì đừng đối thoại, nhưng hãy đóng cửa lại, đóng trái tim của chúng ta lại. Như vậy, chúng ta có thể bảo vệ được sự dụ dỗ này, bởi vì ma quỷ rất xảo quyệt và thông minh. Khi nó tìm cách cám dỗ Chúa Giêsu thì Người đáp lại bằng Kinh Thánh. Khi cám dỗ đến thì hãy đóng cửa lại để gìn giữ trái tim của chúng ta.

Cần phải bảo vệ trái tim mình. Đó là lời khuyên mà chúng ta tìm thấy nơi nhiều tổ phụ, nơi các vị thánh khác nhau. Hãy gìn giữ con tim của mình. Chúng ta hãy xin ơn để học cách gìn giữ con tim. Xin Chúa giúp chúng ta trong việc này. Ai gìn giữ được con tim thì gìn giữ được một kho tàng. Anh chị em thân mến, chúng ta hãy học cách gìn giữ trái tim mình. Xin cảm ơn.

Kết bài giáo lý, Đức Thánh Cha chào các nhóm ngôn ngữ được dùng trong buổi tiếp kiến. Ngài khuyến khích các tín hữu để ý canh giữ con tim của mình. Và trước thềm năm mới, Đức Thánh Cha chúc mọi người một năm mới bình an và tràn đầy phúc lành của Thiên Chúa.

Cuối buổi tiếp kiến, mọi người cùng đọc Kinh Lạy Cha bằng tiếng Latinh và Đức Thánh Cha ban phép lành cho tất cả mọi người.

 

Tiếp kiến chung 20/12/2023:
Khám phá ý nghĩa hang đá giáng sinh - sự điều độ và niềm vui

Sáng thứ Tư ngày 20/12/2023, trong buổi tiếp kiến chung hằng tuần tại hội trường Phaolô VI, Đức Thánh Cha đã dành bài giáo lý đặc biệt về Giáng sinh cho các tín hữu để chuẩn bị tâm hồn mừng đại lễ Giáng Sinh. Ngài nói về hang đá giáng sinh lần đầu tiên được làm tại Greccio, nước Ý, bởi thánh Phanxicô Assisi.

Vatican News

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha

Tin Mừng theo thánh Luca (2,10-12):

Trong đêm đó, sứ thần nói với các mục đồng: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân : Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa.  Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người : anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”.

Sau khi đoạn Tin Mừng được công bố bằng nhiều thứ tiếng, Đức Thánh Cha bắt đầu bài giáo lý:

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Cách đây 800 năm, vào lễ Giáng Sinh năm 1223, Thánh Phanxicô đã dựng nên cảnh Chúa Giáng Sinh sống động ở Greccio. Trong khi hang đá giáng sinh đang được chuẩn bị hoặc hoàn thiện tại các gia đình và nhiều nơi khác, chúng ta nên khám phá lại nguồn gốc của nó.

Hang đá giáng sinh đã khởi đầu như thế nào? Ý hướng của Thánh Phanxicô là gì? Thánh nhân nói thế này: “Tôi muốn diễn tả Hài nhi sinh ra ở Bêlem, và bằng cách nào đó nhìn bằng con mắt của thân xác những khó khăn mà Người gặp phải do thiếu những thứ cần thiết cho một em bé sơ sinh, Người được đặt trong máng cỏ thế nào, và Người nằm thế nào trên cỏ khô giữa bò lừa” (Tommaso Da Celano, Vita prima, XXX, 84: FF 468). Thánh Phanxicô không muốn tạo ra một tác phẩm nghệ thuật đẹp đẽ, nhưng khơi dậy, qua hang đá giáng sinh, sự kinh ngạc trước sự khiêm nhường tột cùng của Chúa, trước những khó khăn mà Người phải chịu, vì tình yêu dành cho chúng ta, trong hang đá Bêlem nghèo khó. Thật vậy, người viết tiểu sử Thánh Phanxicô Assisi lưu ý: “Trong khung cảnh cảm động đó, sự đơn sơ của Tin Mừng tỏa sáng, sự khó nghèo được ca ngợi, sự khiêm nhường được khuyến khích. Greccio đã trở nên giống như một Bêlem mới” (ibid., 85: FF 469). Tôi nhấn mạnh một lời: sự kinh ngạc. Và điều này rất quan trọng. Nếu chúng ta những Kitô hữu nhìn hang đá giáng sinh như một điều đẹp đẽ, như một điều lịch sử, thậm chí là tôn giáo, và chúng ta cầu nguyện, điều này vẫn chưa đủ. Đối diện với mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Lời, với sự ra đời của Chúa Giêsu, thì cần phải thái độ ngạc nhiên. Nếu tôi không đạt đến sự kinh ngạc này trước các mầu nhiệm, thì đức tin của tôi chỉ là hời hợt; một niềm tin bởi “khoa học máy tính”. Đừng quên điều này.

Và một đặc điểm của hang đá giáng sinh, đây như là một trường dạy về sự điều độ. Và ở đây có nhiều điều để nói ngay cả với chúng ta. Thật vậy, ngày nay, nguy cơ đánh mất những gì quan trọng trong cuộc sống là rất lớn và gia tăng một cách nghịch lý ngay trong Lễ Giáng sinh – cần phải thay đổi não trạng Lễ Giáng Sinh: ngập chìm trong chủ nghĩa tiêu thụ làm xói mòn ý nghĩa của nó. Chủ nghĩa tiêu dùng của Giáng sinh. Đúng là bạn muốn tặng quà, điều đó không sao cả, điều đó tốt, nhưng việc điên cuồng đi mua sắm, và điều này thu hút sự chú ý ở nơi khác và không còn có sự điều độ của Giáng sinh. Chúng ta nhìn vào hang đá: sự kinh ngạc trước hang đá. Đôi khi bên trong không có không gian cho sự ngạc nhiên mà chỉ còn tổ chức lễ tiệc.

Và hang đá giáng sinh được tạo ra để đưa chúng ta trở lại với những gì quan trọng: với Thiên Chúa, Đấng cư ngụ giữa chúng ta. Do đó, thật quan trọng khi nhìn vào hang đá giáng sinh, bởi vì nó giúp chúng ta hiểu điều gì là quan trọng và những tương quan xã hội của Chúa Giêsu vào thời đó, gia đình, Thánh Giuse và Mẹ Maria, và những người thân yêu, các mục đồng. Con người trước sự vật. Và nhiều khi chúng ta đặt những sự vật trước con người. Điều này không ổn.

Nhưng hang đá giáng sinh ở Greccio, hơn cả sự điều độ như chúng ta thấy, cũng nói với chúng ta về niềm vui, bởi vì niềm vui là điều gì đó khác với giải trí. Nhưng giải trí không phải là điều xấu nếu được thực hiện trên những cách thức tốt; Đó không phải là điều xấu, đó là điều con người. Nhưng niềm vui còn sâu xa hơn, nhân văn hơn. Và đôi khi có sự cám dỗ giải trí mà không phải là niềm vui; vui chơi ồn ào nhưng niềm vui thì không có. Nó hơi giống hình tượng chú hề, cười, cười, làm bạn cười nhưng lòng lại buồn. Niềm vui là gốc rễ của sự giải trí trong Mùa Giáng sinh. Và về niềm vui, những tin tức thời đó ghi: “Và đến ngày vui mừng, thời điểm hân hoan! […] Francesco […] rạng rỡ […]. Mọi người đến và vui mừng trong niềm vui mà họ chưa từng nếm trải trước đây […]. Mỗi người trở về nhà đều tràn ngập niềm vui khôn tả” (Vita prima, XXX, 85-86: FF 469-470). Sự điều độ, sự kinh ngạc mang đến cho bạn niềm vui, niềm vui thực sự chứ không phải niềm vui giả tạo.

Nhưng niềm vui Giáng sinh này đến từ đâu? Chắc chắn không phải vì đã mang quà về nhà hay vì đã trải qua những cử hành xa hoa. Không, đó là niềm vui trào dâng từ trái tim khi bạn chạm vào bằng chính đôi tay của mình sự gần gũi của Chúa Giêsu, sự dịu dàng của Thiên Chúa, Đấng không để bạn cô đơn nhưng an ủi bạn. Sự gần gũi, dịu dàng và cảm thông là ba thái độ của Thiên Chúa. Và chúng ta nhìn xem cảnh giáng sinh, cầu nguyện trước hang đá, chúng ta có thể cảm nhận những điều này của Chúa, Đấng giúp chúng ta trong đời sống hằng ngày.

Anh chị em thân mến, hang đá giáng sinh giống như một cái giếng nhỏ để từ nơi đó có thể kín múc được sự gần gũi của Thiên Chúa, nguồn hy vọng và niềm vui. Hang đá giống như một Tin Mừng sống động, một Tin Mừng gia đình. Nó giống như cái giếng trong Kinh thánh, đó là nơi gặp gỡ, nơi người ta có thể mang đến cho Chúa Giêsu những mong đợi và lo lắng của cuộc sống, như các mục đồng ở Bêlem và dân chúng Greccio đã làm. Chúng ta mang đến với Chúa Giêsu những mong đợi và lo lắng của cuộc sống chúng ta. Nếu trước hang đá chúng ta phó thác cho Chúa Giêsu những gì thân yêu của chúng ta, thì chúng ta cũng sẽ cảm nghiệm được “niềm vui lớn lao” (Mt 2:10), một niềm vui đến từ việc chiêm niệm, từ sự ngạc nhiên mà từ đó tôi đi đến việc chiêm ngắm những mầu nhiệm này. Chúng ta hãy đi trước hang đá giáng sinh. Mỗi người hãy nhìn và để cho trái tim cảm nhận điều gì đó.

Sau bài giáo lý, trong lời chào các tín hữu nói tiếng Tây Ban Nha, Đức Thánh Cha khuyến khích các tín hữu: “Trong những ngày cuối cùng của Mùa Vọng này, tôi mời gọi anh chị em chuẩn bị đón nhận Chúa Giêsu Hài Đồng với niềm vui và lòng can đảm, qua việc cầu nguyện, tham dự các bí tích và các công việc bác ái”.

Cuối buổi tiếp kiến, tất cả các tín hữu cùng đọc Kinh Lạy Cha bằng tiếng Latinh và Đức Thánh Cha ban phép lành cho tất cả mọi người.

 

Tiếp kiến chung của ĐTC, ngày 13/12/2023

ĐTC Phanxicô: Chúa Giêsu mời gọi mọi Kitô hữu mở lòng với Chúa và phục vụ tha nhân

Trong bài giáo lý cuối cùng về chủ đề say mê loan báo Tin Mừng, Đức Thánh Cha suy tư về từ "Ép-pha-tha" có nghĩa là “hãy mở ra”. Ngài nói rằng đây là lời mời gọi cởi mở hoàn toàn để đón nhận lời loan báo về Chúa Giêsu và ra đi thi hành sứ vụ. Lời mời gọi "Ép-pha-tha", “hãy mở ra”, cũng hướng đến các Kitô hữu chúng ta. Chúng ta hãy mở tai lắng nghe Lời Chúa, mở miệng công bố Lời Chúa, và mở lòng đón nhận tha nhân.

Vatican News 
Trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư ngày 13/12/2023 Đức Thánh Cha đã kết thúc loạt bài giáo lý về lòng nhiệt thành tông đồ, sau hành trình gần một năm với 30 bài. Trong hành trình này, Đức Thánh Cha nói rằng chúng ta đã được Lời Chúa và cuộc sống của một số Kitô hữu, những mẫu mực của lòng say mê loan báo Tin Mừng, soi sáng cho chúng ta.

Trong bài giáo lý cuối cùng về chủ đề say mê loan báo Tin Mừng, Đức Thánh Cha suy tư về từ "Ép-pha-tha" có nghĩa là “hãy mở ra”. Đó là câu nói mà vị chủ tế nói khi rửa tội, khi đồng thời chạm vào tai và môi của người được rửa tội. Đức Thánh Cha nói rằng đây là lời mời gọi cởi mở hoàn toàn để đón nhận lời loan báo về Chúa Giêsu và ra đi thi hành sứ vụ.

Đức Thánh Cha nói rằng lời mời gọi "Ép-pha-tha", “hãy mở ra”, cũng hướng đến các Kitô hữu chúng ta. Chúng ta hãy để Chúa chạm vào và mở tai của chúng ta và giúp lưỡi của chúng ta không còn bị buộc chặt, để chúng loan báo sự hiện diện giải thoát và an ủi của Chúa cho mọi người, đặc biệt là những người đau khổ nhất. Chúng ta hãy mở tai lắng nghe Lời Chúa, mở miệng công bố Lời Chúa, và mở lòng đón nhận tha nhân.

Buổi tiếp kiến chung được bắt đầu với việc công bố đoạn Tin Mừng trích từ Tin Mừng Thánh Marco (7,31-35):
Đức Giêsu lại bỏ vùng Tia, đi qua ngả Xiđôn, đến biển hồ Galilê vào miền Thập Tỉnh. Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng đến với Đức Giêsu, và xin Người đặt tay trên anh. Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. Rồi Người ngước mắt lên trời, rên một tiếng và nói: “Ép-pha-tha!”, nghĩa là: “Hãy mở ra!” Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha 

Anh chị em thân mến!

Hôm nay chúng ta kết thúc loạt bài giáo lý nói về lòng nhiệt thành tông đồ. Trong loạt bài giáo lý này, chúng ta đã để cho Lời Chúa soi sáng cho chúng ta để nuôi dưỡng lòng say mê loan báo Tin Mừng. Lời loan báo Tin Mừng liên quan đến mọi Kitô hữu. Chúng ta hãy nghĩ đến sự kiện là trong Bí tích Rửa tội, vị chủ tế nói khi chạm vào tai và môi của người được rửa tội: “Xin Chúa Giêsu, Đấng đã làm cho người điếc được nghe và người câm nói được, ban cho bạn được mau mắn lắng nghe lời Người và tuyên xưng đức tin của bạn".

Câm và điếc: đóng kín trước lời mời gọi của Chúa
Và chúng ta đã nghe phép lạ của Chúa Giêsu. Thánh sử Marco mô tả rất nhiều về nơi xảy ra sự việc: hướng tới "biển hồ Galilê...”. Những vùng đất này có điểm chung nào? Đó là những nơi phần lớn dân ngoại sinh sống. Đó không phải là vùng lãnh thổ có người Do Thái sinh sống, mà chủ yếu là người ngoại giáo. Các môn đệ cùng đi với Người đến đó, nơi Chúa Giêsu có khả năng mở tai và mở miệng. Hiện tượng câm và điếc, trong Kinh Thánh, cũng có nghĩa ẩn dụ; chúng có nghĩa là khép kín trước lời kêu gọi của Thiên Chúa. Có tật điếc thể lý, nhưng trong Kinh Thánh nói đến bịnh điếc đối với Lời Chúa, và người câm là người không nói Lời Chúa.

"Ép-pha-tha": mở lòng ra với Lời Chúa và với việc phục vụ tha nhân
Đức Thánh Cha nói tiếp: Có một dấu hiệu khác chỉ dẫn cho chúng ta: Tin Mừng thuật lại những lời quyết định của Chúa Giêsu bằng tiếng Aramai. "Ép-pha-tha" có nghĩa là “hãy mở ra”, nghĩa là các đôi tai mở ra, là mở miệng. Đây là một lời mời gọi không nói với người câm điếc, là người không thể nghe thấy lời mời này, nhưng chính là dành cho các môn đệ khi đó và của mọi thời đại. Cả chúng ta nữa, những người đã nhận được "ép-pha-tha" (sự mở ra) của Chúa Thánh Thần trong Bí tích Rửa tội, cũng được mời gọi hãy cởi mở. “Hãy mở ra”, Chúa Giêsu nói với mọi tín hữu và với Giáo hội của Người: hãy mở ra bởi vì thông điệp Tin Mừng cần bạn để được làm chứng và được công bố! Và điều này cũng khiến chúng ta suy nghĩ về thái độ của người Kitô hữu: người Kitô hữu phải mở lòng ra với Lời Chúa và với việc phục vụ tha nhân. Những Kitô hữu khép kín luôn có kết cục tồi tệ, bởi vì họ không phải là Kitô hữu, họ là những nhà tư tưởng, những nhà tư tưởng khép kín. Người Kitô hữu phải cởi mở: trong việc loan báo Lời Chúa, trong việc chào đón anh chị em. Và vì lý do này, "ép-pha-tha", việc “hãy mở ra” này, cởi mở chính mình, là một lời mời gọi tất cả chúng ta.

Ở cuối các Tin Mừng, Chúa Giêsu cũng truyền cho chúng ta ước muốn truyền giáo này của Người: hãy đi, đi chăm sóc đoàn chiên, đi rao giảng Tin Mừng.

Tôi có thực sự yêu mến Chúa đến mức muốn loan báo về Người không?
Anh chị em thân mến, tất cả chúng ta hãy cảm thấy mình được mời gọi, vì đã được lãnh nhận bí tích rửa tội, làm chứng và loan báo về Chúa Giêsu. Và là một Giáo hội, chúng ta cầu xin ơn biết thực hiện một cuộc hoán cải mục vụ và truyền giáo. Trên bờ Biển hồ Galilê, Chúa hỏi Phêrô có yêu mến Người không rồi bảo ông chăm sóc các con chiên của Người (xem câu 15-17). Chúng ta cũng hãy tự hỏi, mỗi người chúng ta tự đặt câu hỏi cho mình: tôi có thực sự yêu mến Chúa đến mức muốn loan báo về Người không? Tôi có muốn trở thành chứng nhân của Người hay tôi hài lòng là môn đệ của Người? Tôi có quan tâm đến những người tôi gặp gỡ, đưa họ đến với Chúa Giêsu trong cầu nguyện không? Tôi có muốn làm điều gì đó để niềm vui Tin Mừng, niềm vui đã biến đổi cuộc đời tôi, cũng có thể làm cho cuộc sống của họ trở nên tốt đẹp hơn không? Chúng ta hãy nghĩ về điều này, về các câu hỏi này và chúng ta tiến bước với việc làm chứng tá. Cám ơn anh chị em!

Kêu gọi chấm dứt chiến tranh ở Gaza
Vào cuối buổi tiếp kiến chung, Đức Thánh Cha đã lặp lại lời kêu gọi về việc chấm dứt chiến tranh ở Gaza. Ngài nói: “Tôi tiếp tục theo dõi cuộc xung đột ở Israel và Palestine với nhiều lo lắng và đau khổ. Tôi nhắc lại lời kêu gọi ngừng bắn nhân đạo ngay lập tức: ở đó có quá nhiều đau khổ rồi”.

Đức Thánh Cha nói thêm: “Tôi khuyến khích tất cả các bên liên quan nối lại các cuộc đàm phán và kêu gọi mọi người thực hiện một cam kết khẩn cấp để nhận viện trợ nhân đạo cho người dân Gaza”. Ngài nhấn mạnh rằng người dân Gaza thực sự cần điều đó.

Ngài cũng nhắc lại lời kêu gọi trả tự do ngay lập tức cho tất cả các con tin Israel, khi nói rằng “Hãy để tất cả các con tin, những người đã nhìn thấy hy vọng vào lệnh ngừng bắn vài ngày trước, được trả tự do ngay lập tức, để nỗi đau khổ lớn lao này đối với người Israel và người Palestine có thể đến đi đến kết thúc".

Đức Thánh Cha kết thúc với lời kêu gọi: “Xin nói không với vũ khí và nói có với hòa bình”.

 

Tiếp kiến chung 6/12/2023 -

ĐTC Phanxicô: Học loan báo Tin Mừng cách sáng tạo và đơn giản của Chúa Thánh Thần

Trong bài giáo lý tại buổi Tiếp kiến chung 6/12/2023, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng nếu không có Chúa Thánh Thần, lòng nhiệt thành tông đồ sẽ trở nên vô ích, lời loan báo sẽ trở thành của riêng chúng ta và sẽ không mang lại hoa trái đích thực. Chúa Thánh Thần khơi dậy sứ mạng một cách sáng tạo và đơn giản. Đây là hai điểm đặc biệt mà chúng ta cũng được kêu gọi thực hiện khi loan báo Tin Mừng.

Vatican News 

Trong bài giáo lý Đức Thánh Cha trình bày đặc tính cốt yếu cuối cùng của lời loan báo Tin Mừng: phải được thực hiện trong Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, nhân vật chính của việc loan báo là Chúa Thánh Thần. Ngài nhấn mạnh rằng nếu không có Chúa Thánh Thần, lòng nhiệt thành tông đồ sẽ trở nên vô ích, lời loan báo sẽ trở thành của riêng chúng ta và sẽ không mang lại hoa trái đích thực. Giáo hội không công bố chính mình, nhưng công bố một ân sủng, một món quà, chính xác là “Quà tặng của Thiên Chúa”, là Thánh Thần của Chúa.

Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng Chúa Thánh Thần khơi dậy sứ mạng một cách sáng tạo và đơn giản; hai điểm đặc biệt mà chúng ta cũng được kêu gọi để sống. Trước hết là tính sáng tạo mục vụ, để loan báo Chúa Giêsu trong mọi hoàn cảnh và luôn tìm kiếm những con đường truyền giáo mới để gặp gỡ những người nam nữ của thời đại chúng ta. Và sự đơn giản nữa, bởi vì được Chúa Thánh Thần soi sáng, chúng ta biết cách quay trở lại nguồn gốc của lời loan báo đầu tiên và truyền tải những điều cốt yếu của đức tin chúng ta, một cách tươi mới và nhiệt tình. Đó là "Chúa Giêsu Kitô, qua cái chết và sự phục sinh của Người, mặc khải và thông truyền cho chúng ta lòng thương xót vô biên của Chúa Cha”.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha

Nếu không có Chúa Thánh Thần thì tất cả lòng nhiệt thành đều vô ích và mang tính tông đồ giả tạo

Anh chị em thân mến!
trong các bài giáo lý trước, chúng ta đã thấy rằng lời loan báo của Tin Mừng là niềm vui, dành cho mọi người và phải được nói vào ngày hôm nay. Hôm nay chúng ta hãy khám phá ra một đặc tính cốt yếu cuối cùng: lời loan báo phải được thực hiện trong Chúa Thánh Thần. Thực ra, để "thông truyền Thiên Chúa", sự đáng tin cậy đầy hân hoan của chứng tá, tính phổ quát của lời loan báo và tính hợp thời của thông điệp thôi chưa đủ. Nếu không có Chúa Thánh Thần thì tất cả lòng nhiệt thành đều vô ích và mang tính tông đồ giả tạo: lời loan báo sẽ chỉ là của chúng ta và không mang lại kết quả

Giáo hội không loan báo về chính mình, nhưng về một ân sủng

Trong Tông huấn Evangelii gaudium - Niềm vui của Tin Mừng - tôi đã nhắc lại rằng "Chúa Giêsu là người loan báo Tin Mừng đầu tiên và vĩ đại nhất”; rằng “Trong mọi hoạt động loan báo Tin Mừng, vị trí hàng đầu luôn luôn thuộc về Thiên Chúa”, Đấng “kêu gọi chúng ta hợp tác với Người và dẫn đưa chúng ta đi tới bằng sức mạnh Thần Khí của Người” (số 12). Đây là vị trí hàng đầu của Chúa Thánh Thần! Vì thế, Chúa so sánh tính năng động của Nước Thiên Chúa với “một người gieo vãi hạt giống xuống đất. Đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào, thì người ấy không biết” (Mc 4,26-27). Chúa Thánh Thần là nhân vật chính, Người luôn đi trước các nhà truyền giáo và làm trổ sinh hoa trái. Nhận thức này an ủi chúng ta rất nhiều! Và nó giúp chúng ta làm sáng tỏ một điều khác, cũng có tính quyết định không kém: đó là, trong lòng nhiệt thành tông đồ của mình, Giáo hội không loan báo về chính mình, nhưng về một ân sủng, một quà tặng và Chúa Thánh Thần chính là Quà tặng của Thiên Chúa, như Chúa Giêsu đã nói với người phụ nữ Samaria (x. Ga 4,10).

Vai trò chính của Chúa Thánh Thần không được khiến chúng ta trở nên thụ động lười biếng

Đức Thánh Cha lưu ý: Tuy nhiên, vai trò chính của Chúa Thánh Thần không được khiến chúng ta trở nên thụ động lười biếng. Sự tin tưởng không biện minh cho việc không hoạt động. Sức sống của hạt giống có thể tự mọc lên không cho phép người nông dân bỏ bê ruộng đồng. Khi đưa ra những khuyến nghị cuối cùng trước khi về trời, Chúa Giêsu đã nói: “Các con sẽ nhận được sức mạnh từ Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ ngự xuống trên các con, và các con sẽ là chứng nhân của Thầy […] cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Chúa không để lại cho chúng ta những tài liệu thần học hay một cẩm nang mục vụ để áp dụng, nhưng là Chúa Thánh Thần, Đấng soi sáng cho sứ vụ. Và sáng kiến can đảm mà Chúa Thánh Thần khơi dậy trong chúng ta sẽ khiến chúng ta bắt chước phong cách của Người, một phong cách luôn có hai đặc điểm: sáng tạođơn giản.

Phong cách sáng tạo

Sự sáng tạo, để vui mừng loan báo Chúa Giêsu, cho mọi người và vào ngày hôm nay. Trong thời đại của chúng ta, thời đại không giúp chúng ta có cái nhìn tôn giáo về cuộc sống và trong đó việc loan báo Tin Mừng ở nhiều nơi trở nên khó khăn, mệt mỏi và dường như không có kết quả, có thể làm nảy sinh cám dỗ từ bỏ công việc mục vụ. Có thể là chúng ta ẩn náu trong những vùng an toàn, chẳng hạn như thói quen lặp đi lặp lại những việc chúng ta luôn làm, hoặc trong những lời mời gọi đầy cám dỗ của một nền tu đức hướng nội, hoặc thậm chí trong việc hiểu sai về tính trung tâm của phụng vụ. Chúng là những cơn cám dỗ đội lốt lòng trung thành với truyền thống, nhưng thường thì, thay vì đáp lại Thần Khí, chúng là những phản ứng của sự bất mãn cá nhân. Ngược lại, sự sáng tạo mục vụ, mạnh dạn trong Chúa Thánh Thần, nhiệt thành trong ngọn lửa truyền giáo, là bằng chứng về lòng trung thành với Người. Do đó, tôi đã viết rằng "Chúa Giêsu cũng có thể chọc thủng những phạm trù nhàm chán mà chúng ta dùng để giam hãm Người và Người luôn luôn làm chúng ta ngạc nhiên bằng sự sáng tạo thần linh của Người. Mỗi khi chúng ta cố gắng trở về nguồn và khôi phục lại sự tươi trẻ của Tin Mừng, những đại lộ mới sẽ xuất hiện, những con đường sáng tạo mới sẽ mở ra, với những hình thức biểu hiện khác nhau, những dấu chỉ và từ ngữ phong phú mang theo ý nghĩa mới cho thế giới hôm nay" (Evangelii gaudium, 11).

Sự đơn giản

Do đó, trước hết là tính sáng tạo; và tiếp đến là sự đơn giản, chính xác là vì Chúa Thánh Thần đưa chúng ta đến nguồn cội, đến “lời loan báo đầu tiên”. Thực ra, “chính ngọn lửa của Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng bằng cái chết và sự phục sinh của Người mặc khải và thông truyền cho chúng ta lòng thương xót vô biên của Chúa Cha” (ibid., 164). Đây là lời loan báo đầu tiên, điều “phải chiếm vị trí trung tâm của tất cả hoạt động loan báo Tin Mừng và mọi nỗ lực canh tân Giáo hội”; cần lặp đi lặp lại: “Chúa Giêsu Kitô yêu thương anh chị em, Người đã hiến mạng sống để cứu độ anh chị em; và bây giờ Người đang sống ở bên anh chị em mỗi ngày để soi sáng, củng cố và giải thoát anh chị em” (ibid).

Với Chúa Thánh Thần chúng ta không cần phải sợ hãi

Thưa anh chị em, chúng ta hãy để mình được Chúa Thánh Thần thu hút và cầu khẩn Người mỗi ngày; xin Người là nguyên lý cuộc sống và công việc của chúng ta; xin Người hiện diện vào lúc bắt đầu mỗi hoạt động, mỗi cuộc gặp gỡ, quy tụ và loan báo Tin Mừng. Người làm sinh động và làm trẻ hóa Giáo hội: với Người, chúng ta không cần phải sợ hãi, bởi vì Người, Đấng là sự hòa hợp, luôn giữ cho tính sáng tạo và sự đơn giản đi đôi với nhau, truyền cảm hứng cho sự hiệp thông và sai đi truyền giáo, mở ra cho sự đa dạng và đưa dẫn về sự hiệp nhất. Người là sức mạnh của chúng ta, là hơi thở của lời loan báo của chúng ta, là nguồn nhiệt huyết tông đồ. Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến!

Buổi Tiếp kiến chung kết thúc với kinh Lạy Cha và phép lành Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

 

+ March 12, 2024