| |
CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN, NAM C-2022
TÌNH YÊU, CỐT LÕI CỦA KITÔ GIÁO
Đnl 30,10-14; Cl 1,15-20; Lc 10,25-37
Trong tác phẩm Quo Vadis của nhà văn Henry Sienkiewicz kể lại rằng: Một này nọ, một người ngoại giáo đến hỏi Thánh Phêrô khi ngài vừa tới Rôma: “Người Hy Lạp đem đến cho chúng tôi sự khôn ngoan, người La Mã chúng tôi có lề luật và quyền lực, còn tôn giáo của ông đem lại điều gì? Thánh Phêrô không ngần ngại trả lời: Tình yêu! Kitô giáo mang đến cho thế giới tình yêu.”
Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật XV giới thiệu với chúng ta một chủ đề đáng suy nghĩ, đó là: “Mến Chúa và yêu người.” Đây là luật mới và là cốt lõi của đời sống người Kitô hữu.
1- Mến Chúa trên hết mọi sự
Trong bài đọc I trích từ sách Đệ Nhị Luật, qua môi miệng của Môsê, Thiên Chúa mời gọi dân Chúa hãy tuân giữ các giới răn và huấn lệnh của Người. Luật này không phải ở đâu xa xôi, nhưng là ở bên cạnh các ngươi, trên môi miệng và khắc ghi trong lòng các ngươi. Luật này đạt tới sự viên mãn nhờ và trong Đức Kitô (Bài đọc II).
Cốt lõi của Lề Luật được tìm thấy trong bài Tin Mừng hôm nay: “Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn người, và hãy yêu thương anh em như chính mình” (Lc 10,27). Chúa Giêsu xác nhận đó là con đường dẫn tới sự sống đời đời.
Vậy, “yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi” có nghĩa là gì? Xin thưa: có nghĩa là chúng ta phải đặt Thiên Chúa ở chỗ nhất trong bậc thang giá trị của cuộc sống. Theo đó, Thiên Chúa là ưu tiên số một, là quan trọng nhất trong mỗi suy nghĩ, phán đoán và hành động của đời ta, còn những thứ khác là thứ yếu. Và mỗi ngày ta sống theo chọn lựa đó, trong khi có những người bên cạnh có thể chọn tiền bạc, danh dự, quyền lực, hưởng lạc là chỗ nhất cho cuộc đời của họ.
2. Yêu người như chính mình
Nhưng chỉ mến Chúa thôi thì chưa đủ, mới chỉ được một nửa, chúng ta còn phải “yêu thương anh em như chính mình.” Ở đây, chúng ta để ý chữ “như chính mình” trở thành chuẩn mực: Đơn giản là chúng ta hãy xem mình đối xử với chính mình như thế nào thì cũng phải đối xử với người khác như vậy. Đức Khổng Tử dạy: “Đừng làm cho người khác những gì mà bạn không muốn làm cho mình.” Đức Giêsu còn đi xa hơn: “Hãy làm cho người khác những gì mà bạn muốn làm cho mình,” nhất là đối với những người đang cần đến sự giúp đỡ của chúng ta. Vì thế, theo tinh thần của Tin Mừng, chúng ta không được phép tìm mọi cách để đạp đổ và hạ bệ những người khác khi họ thành công, cũng không được phép vui mừng khi thấy họ gặp thất bại. Trái lại, chúng ta phải vui với người vui, khóc với người khóc!
Cũng cần chú giải thêm dụ ngôn: Vị tư tế và Lêvi đã không giúp đỡ người gặp nạn trên đường. Tại sao? Xét theo luật của Cựu Ước, thì họ không sai, họ đang giữ luật. Vì theo luật Do Thái, khi lên Đền Thờ thì mọi người, nhất là tư tế, luật sỹ phải giữ mình khỏi ô uế và phải sạch. Nên họ không được đụng đến máu, xác chết, không được vào nhà gặp gỡ người ngoại. Vì vậy khi làm như thế, hai vị này đang trung thành tuân giữ lề luật của Do Thái Giáo. Nhưng ở đây, Chúa Giêsu mang đến cho chúng ta một sự mới mẻ. Đó là luật bác ái vượt trên mọi lề luật khác. Ai yêu thương là chu toàn lề luật. Và mến Chúa và yêu người là cốt lõi của Kitô giáo.
3- Hãy đi và làm như vậy
Như thế, chúng ta tìm thấy câu trả lời cho Kark Marx, ông tổ của học thuyết cộng sản vô thần, khi ông nói rằng tôn giáo của chúng ta chỉ lo cho sự sống mai hậu nhưng lại sao nhãng bổn phận xây dựng cuộc sống trần thế. Có thể Marx đã có lý trên bình diện thực tiễn, khi ông không thấy có những Kitô hữu thực sự sống Tin Mừng vào thời ông, hay nói như triết gia Jacques Maritain rằng “nỗi đau của thế kỷ XIX là không phải có Marx, mà là không có những Kitô hữu giống như Marx.” Bởi lẽ, cốt lõi của Kitô giáo dạy chúng ta là yêu mến Thiên Chúa và từ đó hướng tới tha nhân, không phân biệt ai, hướng tới xây dựng xã hội bình đẳng, công bình và bác ái. Việc đến nhà thờ là để giúp chúng ta sống tốt hơn trong gia đình, nơi công sở, trong công việc chúng ta. Việc đọc kinh xem lễ không phải là để ẩn náu, thoát đời một cách ích kỷ, nhưng là để tìm kiếm sự bình an cho tâm hồn mình, từ đó chúng ta mang bình an về trong gia đình và lan tỏa bình an đó ngoài xã hội.
“Hãy đi và làm như vậy!” Lời đó Chúa nói với người thông luật và hôm nay Người cũng nói với mỗi người chúng ta. Như người Samaritanô nhân hậu đã ưu tiên chọn bác ái là trên hết, tất cả chúng ta cũng được mời gọi thực hành luật bác ái bằng việc làm cụ thể cho tha nhân. Bằng cách đó, chúng ta đang yêu mến Chúa, đang giữ luật và đang xây dựng thế giới này theo nền văn minh tình thương do Chúa Giêsu gợi hứng cho chúng ta hôm nay. Amen!
ĐCV Vinh Thanh - Nghệ An
http://nguoinguphu.blogspot.com/
ĐỪNG
SỢ!
Nỗi sợ là tên trùm khủng bố kinh khủng nhất vây quanh đời người,
luôn rình rập chụp xuống tâm não con người. Có những nỗi sợ chính
đáng. Nhưng cũng có những nỗi sợ chẳng chính đáng chút nào…
Hôm
nay, kể câu chuyện người Samaritanô nhân hậu, Chúa “lật đổ” thái
độ vô tâm cách đáng tội của hàng giáo sĩ trong Hội Thánh. Hãy
nghe Chúa nói về hàng giáo sĩ của Chúa: “Một
người kia từ Giêrusalem xuống Giêricô, dọc đường bị rơi vào tay
kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc
người ấy nửa sống, nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống
trên con đường ấy. Trông thấy nạn nhân, ông tránh qua bên kia
mà đi. Rồi một thầy Lêvi tới chỗ ấy, thấy thế, cũng tránh qua
một bên mà đi…” Tư tế là ai? Lêvi là ai? Những người
đó tương đương những bậc “chân tu” của thời đại. Họ là tất cả
Giám mục, linh mục của Chúa.
Tôi
vẫn có thói quen tìm những lý lẽ để biện minh cho người bị “kết
tội”, để dù có tội, tội của người ấy cũng sẽ được nhìn
ở khía cạnh nhẹ nhất. Cứ coi như Chúa kết tội thái độ vô tâm
của hàng giáo sĩ, thì tôi vẫn nhìn thấy bên trong sự vô tâm ấy
là một nỗi sợ hãi. Tôi biện minh cho thái độ vô tâm ấy là do sợ
hãi. Bởi sợ nên vô tâm. Tư tế và Lêvi vô tâm đối với người bị
cướp vì họ sợ bị nhiễm ô uế. Luật Do thái quy định, ai đụng chạm
vào xác chết, nhất là đụng chạm hoặc tiếp xúc người ngoại giáo,
sẽ bị nhiễm ô uế. Tư tế và Lêvi chắc chắn thông suốt lề
luật. Chính vì thế, họ hiểu rõ luật về nhiễm ô uế.
Mà đã nhiễm ô uế, sẽ không được phép tham dự mọi nghi
thức phụng vụ chung của cộng đoàn... Cứ cho rằng, người
bị cướp có thể là người ngoại, lại còn sắp chết nữa. Vì thế, để
khỏi nhiễm ô uế, Tư tế và Lêvi trong dụ ngôn đã “tránh
qua một bên mà đi”.
Ngày
hôm nay, biết đâu vẫn còn những nhà lãnh đạo trong Hội Thánh sống
trong sự nơm nớp lo sợ tương tự như thế. Chẳng hạn như ai đó sợ
không được xây nhà thờ chỉ vì cho phép phát tờ bướm bảo
vệ sự sống. Tôi đã từng gặp vài anh chị em trong nhóm Bảo
vệ sự sống ở Sài Gòn kể rằng, có những linh mục, khi được ngỏ
lời để chỉ xin phát những “tờ rơi” quảng bá việc bảo vệ sự sống
ở một góc nào đó thật khiêm tốn trong khuôn viên nhà thờ thôi,
lại bị từ chối, thậm chí bị đuổi ngay lập tức. Lý do rất… vô lý
rằng: “Sợ… không được xây nhà thờ”.
Không lẽ việc xây nhà thờ lại quan trọng đến nỗi, công tác bảo
vệ sự sống, là một trong những công tác hàng đầu, hơn thế,
là nhiệm vụ thuộc thánh chức linh mục, lại phải nhường
bước? Nỗi sợ nào chính đáng? Để nỗi sợ không đáng để sợ
lên ngôi, trong trường hợp này, linh mục trở thành kẻ vô
tâm hết sức, nếu không muốn nói là đã phạm tội.
Vì
sao cấm phát tờ bướm nơi nhà thờ của mình lại phạm tội?
Hội Thánh là Mẹ và là Thầy. Hơn nữa, Hội Thánh không hề sai lầm
và sẽ không bao giờ sai lầm trong vấn đề bảo vệ luân lý, bảo vệ
chân lý đức tin. Trong vai trò là Mẹ, là Thầy không thể sai lầm,
Hội Thánh dạy nhiều lề luật luân lý và chân lý đức tin. Bảo vệ
sự sống là luật luân lý hàng đầu, là vấn đề cấp bách, bởi đang
gây sóng gió cho nền luân lý của Hội Thánh, làm nhức nhối lương
tâm Hội Thánh, chúng ta không được phép làm ngơ. Hãy trung thành
bảo vệ sự sống của mình cũng như của đồng loại. Không dám nói
rằng, cấm phát tờ rơi là không bảo vệ sự sống. Vì nói như thế
là hàm hồ. Người ta có thể bảo vệ sự sống bằng nhiều cách, chứ
không phải chỉ phát tờ rơi. Có khi phát tờ rơi không hiệu quả
bằng những sáng kiến khác để bảo vệ sự sống. Tuy nhiên, nếu để
len lỏi trong tâm hồn mình một sự sợ hãi đối với luật dân sự,
đến nỗi xem nhẹ luật Hội Thánh là Mẹ và là Thầy không sai lầm
của mình, thì chúng ta đã thật sự có lỗi. Tội là ở điểm này.
Nếu đúng như thế, thì sự sợ hãi của ta hôm nay, có khác gì sự
sợ hãi của tư tế, Lêvi trong dụ ngôn của Chúa ngày xưa! Sợ một
thứ luật thấp hèn để loại trừ luật cao trọng. Sợ một thứ luật
của một nền thống trị để loại trừ luật nhân ái đối với con người.
Sợ một thứ đụng chạm để loại trừ tình yêu. Sợ bị nghi kỵ mà
làm thinh để cho việc giết người trở thành công khai, trở
thành hợp thức hóa, được luật pháp không những cho phép
mà hình như còn có vẻ khuyến khích. Sợ bị trả thù nơi
thân xác mà sẵn sàng làm thinh và thỏa hiệp với tội
lỗi. Sợ bị bắt bớ, bị kết tội mà làm thinh để chuốc
lấy tội có sức hủy diệt tâm hồn mình… Cuối cùng, nặng
hơn: sợ con người mà bỏ qua Thiên Chúa.
Đáng
buồn hơn, người bị thế giới của sự sợ hãi giam hãm, thế giới của
quyền lực tối tăm “bỏ tù” đến nỗi phải sợ hãi như thế, lại
chính là linh mục của Chúa… Nghĩ lại mà hỗ thẹn, mà cảm
thấy có lỗi với cha ông. Bởi chúng ta thua xa đức tin của
cha ông chúng ta. Dù đức tin còn mới mẻ vô cùng vì mới được
truyền giáo, nhưng suốt ba thế kỷ bắt đạo là ba thế kỷ hằn lên
một niềm tin kiên vững, bất khuất, bất chấp tất cả nỗi sợ hãi.
Cha
Ông chúng ta, các thánh Tử Đạo Việt Nam là một bằng chứng sống
động cho lời Chúa Giêsu đã từng dạy: “Các
con đừng sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh
hồn. Đúng ra, các con phải sợ Đấng có thể tiêu diệt cả xác lẫn
hồn trong hỏa ngục…” Cha Ông chúng ta đã chẳng sợ
bất cứ điều gì. Các ngài bất chấp tất cả mọi nguy hiểm, mọi thế
lực, dù những nguy hiểm, những thế lực ấy hung bạo đến đâu, tàn
khốc đến đâu, dã man đến đâu đi nữa. Cha Ông chúng ta còn bất
chấp cả sự chết, đã quyết một đời trung kiên theo Chúa, thì giây
phút cuối cùng của mạng sống, sẽ hiến dâng trọn vẹn một đời cho
Chúa. Cha Ông chúng ta đã trung thành cao rao danh Chúa không
chỉ bằng lời, không chỉ bằng hành động, không chỉ bằng đời sống,
nhưng bằng cả SỰ SỐNG của mình. Là người, như chúng ta, các thánh
Tử Đạo Việt Nam, chắc không khỏi khiếp đãm trước cái chết, không
khỏi sợ hãi trước những quyền lực thế gian đen tối, không
khỏi sợ hãi trước những thói tàn nhẫn, bạo ngược...
Nhưng vì lòng yêu mến Chúa, các thánh Tử Đạo Việt Nam đã bỏ
lại nỗi sợ hãi phía sau mạng sống đời này của mình, để đi tới
trong đời vĩnh cửu. Hiến dâng mạng sống vì lòng tin, các thánh
Tử Đạo Việt Nam đã đi đến tận cùng của lòng thần phục Thiên Chúa,
“Đấng có thể tiêu diệt cả xác lẫn hồn
trong hỏa ngục…”
Hội
Thánh của Chúa, Nước Chúa ở trần gian đã được trao lại cho mỗi
Kitô hữu hôm nay gìn giữ và bảo vệ. Các Kitô hữu ấy chính là hàng
hàng lớp lớp người đang nhìn nhận Chúa là Thiên Chúa của đời mình.
Các Kitô hữu ấy chính là mọi tầng lớp giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân
của Chúa. Nước Chúa mà các Kitô hữu ra sức gìn giữ là gia tài,
là kho báu vô giá mà họ phải bất chấp tất cả nỗi sợ hãi để ra
sức gìn giữ đến cùng. Đúng hơn, đứng trước gia tài vĩnh cửu là
Nước Chúa, đứng trước vấn đề của đức tin, các Kitô
hữu chỉ giữ lại cho mình một nỗi sợ cuối cùng mà thôi, đó là LÒNG
KÍNH SỢ CHÚA, SỢ TỘI LỖI LÀM MẤT LÒNG CHÚA.
Thế
giới quanh ta vẫn còn đó, rất nhiều những người bị cướp như người
khách bị cướp hại trong dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu.
Họ là những bào thai không phương thế tự vệ, là những trẻ em ngỗ
nghịch, thất học, là những mảnh đời ngụp lặn trong dòng đời nhầy
nhụa, đến một cụ già bị bỏ quên trên góc phố… Tất cả những người
ấy, đều rất cần chúng ta, những bàn tay của người Samaritanô thời
đại. Chúng ta hãy dẹp bỏ thái độ vô tâm của tư tế, Lêvi để cúi
xuống trên những anh chị em đau khổ của mình. Hãy nhớ rằng, chỉ
khi trở thành người Samaritanô, ta mới thật sự là anh em của những
người “bị cướp” ấy.
Lạy
Chúa Giêsu, Chúa đã vượt lên trên nỗi sợ hãi của bạo quyền thế
gian, vượt lên trên nỗi sợ hãi đối với lòng người đen tối, để
quyết đi đến cùng con đường cứu chuộc chúng con. Lẽ nào, hôm nay,
chúng con vẫn chưa thuộc bài học Chúa dạy “Các
con đừng sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh
hồn. Đúng ra, các con phải sợ Đấng có thể tiêu diệt cả xác lẫn
hồn trong hỏa ngục…”. Xin cho chúng con biết nhìn
lên Chúa, và nhìn những tấm gương vượt thoát sợ hãi nơi anh chị
em mà đi đến cùng con đường theo Chúa, bất chấp tất cả nỗi sợ
hãi đe dọa chúng con.
Lạy
Chúa, người Samaritanô nhân hậu đã cúi xuống, ôm lấy nỗi đau của
anh em mình. Nhân loại hôm nay vẫn còn đầy đau thương và nước
mắt. Nhân loại vẫn cay đắng cơ hàn, đói lương thực, đói tinh thần
và đói cả tình thương. Xin cho chúng con, những kẻ được thừa hưởng
tình yêu thương vô bờ của Chúa, biết vượt lên mọi nỗi sợ hãi của
trần thế, chỉ sợ mất lòng Chúa mà thôi. Từ đó giúp con can đảm
trở thành người Samaritanô hôm nay, để sống vì và sống cho sự
sống của anh chị em chúng con. Amen.
Lm.
VŨ XUÂN HẠNH
CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN NĂM C : LC 10,25-37
25Khi ấy, có người thông luật kia muốn thử Đức Giê-su, mới đứng lên hỏi Người rằng : “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” 26Người đáp : “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” 27Ông ấy thưa : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.” 28Đức Giê-su bảo ông ta : “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.”
29Tuy nhiên, ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giê-su rằng : “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” 30Đức Giê-su đáp : “Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. 31Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy nạn nhân, ông tránh qua bên kia mà đi. 32Rồi một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, thấy thế cũng tránh qua bên mà đi. 33Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới chỗ nạn nhân, thấy vậy thì động lòng thương. 34Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu xức vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. 35Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói : “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác.” 36Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” 37Người thông luật trả lời : “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy.” Đức Giê-su bảo ông ta : “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy.”.
THẾ NÀO LÀ BÁC ÁI KI-TÔ GIÁO?
Trong bài Tin Mừng hôm nay, khi trả lời câu hỏi của một tay thông luật : “Ai là người thân cận của tôi?” Đức Ki-tô đã kể dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân lành. Đọc thì thấy đơn giản, câu chuyện này thực ra có một tầm mức rất quan trọng để hiểu về cuộc sống Ki-tô giáo. Quả vậy, trong đó ta thấy các thành tố cốt tủy của đức bác ái đã được thu ngắn một cách chính xác, gãy gọn và cụ thể.
Vì tình yêu chính là Sự Sống của Thiên Chúa được thông ban nhưng không, nên sống bác ái là bắt chước Người : “Anh em hãy noi gương Thiên Chúa”, thánh Phao-lô từng dạy (Ep 5,1). Đức Ki-tô đã yêu ta bằng chính tình yêu mà Ba Ngôi đời đời yêu nhau. Nhờ ơn Người, ta được thật sự tham dự, dẫu cách bất toàn, vào Tình yêu hoàn toàn là chính Hữu thể Thiên Chúa. Thế mà dụ ngôn người Sa-ma-ri cho ta thấy khi diễn ra trong hành vi con người, tình yêu hoàn toàn ấy sẽ ra sao. Nó phải có 4 đặc tính : phổ quát, tự do, hiệu lực và rộng rãi.
1- Phổ quát.
Kẻ mà lữ khách Sa-ma-ri gặp bị thương trên đường đi Giê-ri-khô là một kẻ xa lạ. Y đã không là gì đối với ông ta hết : không phải họ hàng, đồng hương, cũng chẳng phải là bạn hữu. Nhưng y là một người và như vậy đủ để ông ta yêu thương. Trước đây ông đã không là thân cận của y chút nào cả, ngoại trừ chuyện ông cũng là một con người; nhưng bây giờ vì ông đến gần y nên đã biến mình nên thân cận của y.
Thiên Chúa chẳng tư vị người nào. Hữu thể mà bản tính là Tình Yêu không bị giới hạn trong tình yêu. Giới hạn là do ta từ chối hay cưỡng lại mà có. Và chắc chắn không phải vô cớ mà khi trả lời tay thông luật, Đức Giê-su đã chẳng bảo ông phải bắt chước một thầy Lê-vi hay một thầy tư tế nhưng bắt chước một con người thuộc một chủng tộc mà dân Thiên Chúa vẫn gớm ghét và khinh bỉ. Thiên Chúa đã yêu người Sa-ma-ri ấy đến độ đã cho ông ta biết yêu theo kiểu của Người, đang khi con cái Ít-ra-en, vì đã chẳng đón nhận một tình yêu cũng được hiến ban như thế, nên đã không yêu mà “tránh qua một bên” rồi “bỏ đi thẳng.”
Thành thử muốn yêu như Thiên Chúa, thì không phải chỉ cần yêu người thân cận với ta theo bản tính. Tình yêu nào chỉ là bản năng hoặc tình cảm thì chưa phải là đức bác ái thần linh : “Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?” (Mt 5,47).
Dĩ nhiên tình yêu đối với một kẻ xa lạ thường xuất phát từ ý chí và dễ với con tim lạnh lùng. Nhưng Tin Mừng lại nói rõ : khi nhìn thấy kẻ nằm sóng soải nửa sống nửa chết trên đường, người Sa-ma-ri đã “chạnh lòng thương” (nguyên tự : xôn xao gan ruột), mặc dầu kẻ này từng không là gì đối với ông ta. Giữa con người vẫn luôn có một sợi dây liên lạc chặt chẽ, một cái gì sâu xa hơn việc thuộc về cùng một chủng tộc hay một gia đình, dấu chỉ cho thấy có một cái gì tuyệt đối làm nền tảng cho sự công bình và khiến người ta phải thương nhau với lòng kính trọng nội tại. Ngày nay Ki-tô hữu biết mọi người đều là hình ảnh Thiên Chúa và Đức Ki-tô đã chết để, nhờ trở nên con cùng một Cha, chúng ta thật sự là anh em với nhau. Điểm cốt yếu đó của Tin Mừng, người Sa-ma-ri đã không biết, như hàng triệu người quanh ta ngày nay còn chưa biết. Nhưng ông ta đã cảm thấy, như hàng triệu người quanh ta đang cảm thấy, rằng khát vọng của loài người về sự hợp nhất huynh đệ của thế giới bắt rễ trong một thực tại mầu nhiệm sâu xa nằm bên kia những cái thuộc về nhân loại.
Dĩ nhiên đức ái chẳng loại trừ trật tự, và phải thi hành bác ái trước tiên đối với người thân cận hơn cả. Có điều là việc sẵn sàng yêu thương những kẻ tự nhiên không liên hệ gì với ta chứng tỏ tình yêu đặc biệt chính đáng của ta đối với thân nhân hay bạn hữu, dầu là bản năng, cũng đã được đức ái thấm nhuần rồi. Tình yêu nào chỉ muốn giới hạn trong nhóm đóng kín của gia đình, giai cấp, quốc gia, chủng tộc, tình yêu đó rất có thể chỉ là bản năng hay tình cảm tự nhiên; nhưng tình cảm nào muốn sẵn sàng yêu thương mọi người, kể cả những kẻ xa lạ, thì chứng tỏ nó không phải là bản năng thuần túy, nhưng là bác ái thật sự (bác=rộng rãi, ái=yêu thương).
2. Tự do
Người Do-thái bị thương của dụ ngôn không phải chỉ là một kẻ xa lạ đối với người Sa-ma-ri; y còn thuộc một dòng giống thù địch nữa. “Người Do-thái, thánh Gio-an nói, không giao thiệp với người Sa-ma-ri” (Ga 4,9). Nhưng chính trong tình yêu kẻ thù mà sự tự do của tình yêu mới tươi nở. Một tình yêu còn lấy việc được yêu lại làm điều kiện thì chưa tự do. Theo bản chất, tình yêu phải vô điều kiện. Tình yêu thù địch bắt chước tình yêu của Thiên Chúa. Khi phạm tội, chúng ta đã trở nên thù địch với Người; nhưng Người đã yêu thương chúng ta “đến nỗi đã ban Con Một, để chúng ta có sự sống đời đời” (Ga 3,16).
Điều đó không muốn nói : sự trao đổi là một cản trở đối với tính hoàn hảo của tình yêu. Ba Ngôi yêu thương nhau hoàn hảo trong một sự trao đổi hoàn hảo. Vì vô cùng đáng yêu, cả Ba Ngôi vừa yêu thương một cách vô cùng vừa được yêu thương một cách vô cùng. Thành thử chẳng lạ chi khi nơi bình diện sự bất toàn của loài người, tình yêu cũng vừa là trao ban cho kẻ khác, vừa là mời gọi, ao ước kẻ khác đáp trả và yêu thương lại. Cộng đoàn tình yêu bao gồm thân mật và đối thoại chỉ có thể phát sinh từ sự gặp gỡ của hai luồng tình yêu, hai đà dâng hiến, hai cuộc tâm sự : vì nó chính là sự trao đổi. Và kết quả đẹp nhất của tình yêu chắc chắn là đánh thức được tình yêu nơi người mình yêu, thúc giục được kẻ đó trao ban bằng như đã đón nhận. Đối với nhiều kẻ từng sống như đã chết, niềm vui được yêu cho họ cảm tưởng được sinh ra lại.
Nhưng tình yêu phải tỏ ra mạnh hơn oán thù. Chính khi thắng được oán thù và bản năng báo thù mà nó biểu lộ được đặc tính của nó là tự do. Và bấy giờ tính cách nhưng không của nó được thấy rõ. Ai chưa bao giờ tha thứ, không thể biết mình đã bao giờ yêu chưa. Và làm sao biết được mình đã tha thứ, khi chưa thực thi bác ái tích cực đối với kẻ thù? Tha thứ tự bản tính là phủ nhận mình, là chết cho mình, thành thử là tham dự vào tình yêu của Đức Ki-tô, Đấng đã chết để chúng ta được tha thứ. Thật ý nghĩa khi một trong những lời cuối cùng của Người là để giúp cho các kẻ thù : “Lạy Cha, xin tha cho họ…”.
3- Hữu hiệu
Người Sa-ma-ri không bằng lòng thí cho nạn nhân Do-thái một cái nhìn âu yếm và đôi câu nói tốt lành; ông ta đã hành động. Đức bác ái của ông được diễn ra bằng nhiều cử chỉ cụ thể; nó thể hiện trong sự giúp đỡ hiệu lực.
Yêu mà không giúp không phải là yêu. Tất cả cuộc đời Đức Ki-tô chỉ là phục vụ. Đi vào thế giới các thân xác, Người đã tuân theo định luật của thế giới này là liên lạc giữa các ngôi vị thiêng liêng phải đi qua trung gian của thân xác. Người đã thương xót các thân xác và đã truyền cho ta phải làm như vậy một cách rất khẩn khoản. Vẫn biết các bệnh tật Người chữa lành tượng trưng tội lỗi mà Người muốn cứu ta thoát khỏi, và tượng trưng sự yếu đuối mà sức mạnh của Người chiến thắng trong ta. Nhưng chúng vẫn không kém là các chuyện của cơ thể mà Người lưu tâm thật sự. Những kẻ đã hưởng phép lạ của Người đều cảm thấy được thật sự yêu thương, yêu thương riêng, mỗi người theo nhu cầu và nỗi khổ. Các phép lạ trong Tin Mừng không phải là một thứ kỹ thuật giúp ích cho hiệu lực tinh thần. Chúng là dấu chỉ chứ không là phương tiện. Lòng bác ái đối với thể xác cũng có mục đích riêng của nó, và nếu quả thực nó là một khí cụ tông đồ mạnh mẽ, ta vẫn không được quan niệm nó như thế và phải để cho nó giữ được tính cách trong sạch vô vị lợi mà tất cả những gì cao thượng đều mang.
4- Rộng rãi.
Tin Mừng nhấn mạnh là người Sa-ma-ri đã chẳng tính toán phí tổn : ông đã bỏ tiền và bỏ giờ một cách rất quảng đại. Thánh Tô-ma Tiến sĩ bảo : con người bủn xỉn thì tính toán : ưu tư số một của y là phải ít tốn hết sức. Vì y tìm cách chi phí ít hết sức nên y chỉ dám làm những việc rất nhỏ; và ngay cả trong những việc nhỏ mọn này, y vẫn còn tính toán vì sợ chi nhiều quá. Đối lập với con người bủn xỉn, thánh Tô-ma đưa ra con người “rộng rãi”. Đang khi kẻ kia chỉ dán mắt vào mình để khỏi phải quá chi tiêu hay quá phí sức, thì kẻ này lại đưa mắt nhìn vào sự lớn lao của công việc phải làm, và bằng lòng tiêu pha để công việc được thành tựu. Kẻ bủn xỉn bảo : Trên hết, phải liệu ít tốn kém nhất. Người rộng rãi nói : Trên hết, phải liệu làm được việc lớn hơn cả. Kẻ bủn xỉn bảo : việc muốn ra sao thì ra; người rộng rãi nói : phí tổn bao nhiêu cũng được.
Người Sa-ma-ri đã rộng rãi như Thiên Chúa. Thánh Kinh vẫn hằng ca tụng lòng rộng rãi của Đức Gia-vê, việc Người ban ơn dư dật, sự quảng đại vô biên biểu lộ qua các công việc Người làm. Thánh nhân, kẻ được Thiên Chúa dạy cho biết ban phát không tính toán, cũng y như vậy.
Cuối cùng, đức bác ái đưa con người thi hành bác ái đến chỗ chết. Cũng như tính cách phổ quát của tình yêu đạt được cao điểm trong việc yêu thương kẻ thù, thì tính cách rộng rãi của tình yêu cũng kết thúc trong sự chết : “Không ai có tình yêu cao cả hơn người hy sinh mạng sống vì kẻ mình yêu” (Ga 15,12).
Chính vì vậy mà Thánh Thể, sự hiện diện tích cực của Thân thể Đức Ki-tô và là việc tưởng nhớ cái chết cho tất cả của Người, là dấu chỉ hữu hiệu của việc mọi người phải phục vụ nhau cách cụ thể cho đến chết thể xác, để cộng đoàn phổ quát của các ngôi vị được thiết lập trong tình yêu rộng rãi.
Kết :
Trong số mọi hiền nhân lớn của nhân loại, trong số mọi tư tưởng gia lớn từng tung ra một đại phong trào trong lịch sử, Đức Giê-su là nhân vật hiếm hoi đã minh nhiên đề ra cho loài người một tình yêu không biên giới, như ta nói hôm nay… bằng cách nhìn ai nấy, dẫu đương sự thế nào, như thân cận mình, như anh em mình, con cùng một Thiên Phụ.
Đặc điểm của Tin Mừng không hẳn là tình yêu đơn giản. Điều này, mọi nền luân lý đều nói cả (nhân ái của Khổng giáo, từ bi của Phật giáo…). Đặc điểm của Tin Mừng chính là tình yêu tuyệt đối, tình yêu phổ quát, tình yêu không chút loại trừ và là tình yêu hiến mạng.
Một lần nữa, hãy nhấn mạnh tầm quan trọng của sứ điệp Đức Giê-su đối với sự sống còn cùa nhân loại. Hoặc người ta sẽ tiếp tục dấn sâu vào óc bè phái đủ loại, và thành thử vào trong bạo lực chẳng ngừng… hoặc qua việc tha thứ, thương yêu kẻ thù, loài người sẽ đạt đến một thời đại hòa bình đích thực.
by Lm. Phêrô Phan Văn Lợi 2025
AI LÀ NGƯỜI THÂN CẬN by Lm. Thái Nguyên 2025
Chúa Nhật 15 Thường Niên năm C - Lc 10, 25-37
Suy niệm
Yêu mến Thiên Chúa hết tình và yêu người thân cận như chính mình là điều kiện để đạt tới sự sống đời đời. Nhưng câu hỏi được nêu lên: "Ai là người thân cận của tôi?". Người Do Thái vẫn hiểu đó là đồng bào, đồng đạo, thuộc dân Thiên Chúa. Phải chăng vị luật sĩ muốn tìm một câu định nghĩa toàn bích hơn về “người thân cận”? Nhưng đối với Đức Giêsu, định nghĩa về "người thân cận" không quan trọng bằng thực thi bác ái với người thân cận. Thay vì tìm hiểu ai là người thân cận với mình, thì tốt hơn là nên tìm hiểu mình là người thân cận với ai? Nói cách khác, nên tỏ ra mình là người thân cận đối với những ai đang cần mình giúp đỡ. Với ý hướng đó, Đức Giêsu đã đưa ra một dụ ngôn vừa cụ thể vừa sâu sắc, vừa éo le vừa lạ lùng.
Éo le là vì đứng trước tình cảnh một người đang bị trọng thương trên đường, mà thầy Tư tế và Lê vi lại làm ngơ, giả vờ như không thấy, và tránh qua bên kia đường mà đi. Lạ lùng là người Samari ngoại giáo vừa trông thấy nạn nhân, đã đến cứu giúp tận tình, mà nạn nhân đó có thể là người Do Thái, kẻ thù của dân tộc mình. Người Samari đã sống luật yêu thương một cách trọn vẹn, không chỉ là lòng thương cảm mà "yêu bằng việc làm", và làm với hết khả năng của mình. Những việc làm cụ thể thường hùng hồn hơn những lời nói suông. Con đường dài nhất là con đường từ trái tim đến đôi tay. Chúa Giêsu muốn chúng ta đi hết con đường đó: "Hãy đi và làm như vậy".
Sở dĩ người ta không dám làm một cái gì đó cho những người anh em, là vì họ không có can đảm vượt qua nỗi sợ. Sở dĩ thầy Tư tế và thầy Lê vi "tránh qua bên kia mà đi" là vì các thầy sợ ô uế khi đụng vào xác chết, sợ bọn cướp còn ẩn nấp đâu đây, sợ rắc rối phiền hà xảy ra cho mình. Những nỗi sợ xem ra rất khôn ngoan và hợp lý, chỉ có điều chẳng có chút tình yêu nào. Sở dĩ chúng ta không dám làm một cái gì đó cho người cần giúp đỡ, là vì chúng ta sợ phải thiệt thòi, sợ tốn công tốn sức, tốn thời giờ, sợ phải trả giá, sợ đụng đến sự an toàn hay tiện nghi của mình. Chúng ta muốn được yên thân! Yên thân là bất động, là sự sống bị tắt nghẽn, nên tình yêu không còn được chuyển thông.
Đứng trước nạn nhân, có lẽ câu hỏi mà hai vị giáo sĩ đặt ra là:“Nếu tôi dừng lại giúp đỡ người này, chuyện gì sẽ xảy ra cho tôi?”. Nhưng xem ra người Samari đảo ngược lại câu hỏi:“Nếu tôi không dừng lại giúp đỡ người này, chuyện gì sẽ xảy ra cho anh ta?”. Hai câu hỏi với hai hướng khác nhau, nên cách thái hành động cũng khác nhau. Một câu hỏi hướng về sự an toàn của bản thân, còn một câu hỏi hướng đến lợi ích của tha nhân. Cách đặt câu hỏi hay cách đặt vấn đề cũng là một cách xác định tâm hồn và tính cách của một con người.
Ở cuối dụ ngôn, Đức Giêsu cũng đảo chiều câu hỏi: “Ai là người thân cận của tôi?” thành câu: “Ai là người thân cận của kẻ bị cướp?” Với lối đặt câu hỏi này, mọi hàng rào ngăn cách và quan niệm lâu đời của người Do Thái bị phá đổ. Tôi không chỉ phục vụ cho người thân cận của tôi, mà tôi trở thành người thân cận với người tôi phục vụ, và người ấy trở thành người thân cận của tôi. Như thế ai cũng có thể thành người thân cận của tôi, và tôi cũng có thể trở thành người thân cận của bất cứ ai, khi tôi dám yêu họ như chính mình.
Yêu thương không phải là cho đi một cái gì, nhưng là cho đi chính bản thân. Kahlil Gibran có một câu nói chí tình: "Bạn cho đi quá ít khi chỉ cho đi của cải. Chỉ khi nào cho đi chính mình, bạn mới thực sự cho đi". Mẹ Têrêsa Calcutta cũng xác định: "Kitô hữu là người trao ban chính bản thân". Đó là ý nghĩa thật nhiệm mầu trong Bí tích Thánh Thể. Tham dự thánh lễ chẳng có ý nghĩa gì khi tôi không sống lòng nhân ái. Càng đi tìm bản thân, tôi càng đánh mất chính mình. Càng co cụm trong vỏ ốc của mình, tôi càng chết dần mòn trong nỗi cô đơn. Càng muốn được yên thân, tôi càng vong thân.
Nỗi khát khao hạnh phúc của tôi chỉ được lấp đầy khi tôi biết coi trọng hạnh phúc của tha nhân. Người tín hữu Kitô chỉ thực sự là con Chúa khi họ dám tiêu hao vì người khác. Muốn vậy, tôi hãy yêu rồi làm. Khi đã yêu rồi tôi mới biết phải làm gì cho người anh em, nhất là những người nghèo hèn đau khổ. Khi đã yêu rồi, tôi mới biết cách làm cho kẻ xa lạ trở nên người thân cận; kẻ thù địch trở nên người bạn tốt; chỉ cần tôi dám dừng lại, đến gần và cúi xuống trước anh em. Tôi cần lột bỏ “cái tôi”, cái “lớp vỏ” an toàn che chắn bản thân mình, để tình yêu Chúa có thể thấm nhập và làm nên con người mới.
Cầu nguyện
Lạy Chúa Giêsu!
Đường về quê hương sự sống đời đời,
là đường Chúa đã gọi mời con đi,
nhưng đi với trái tim mới tới đích,
bằng không sẽ dang dở cuộc hành trình.
Thầy Tư tế đã rẽ sang hướng khác,
để tìm đường yên ổn cho riêng mình,
thầy Lê-vi cũng đi theo như vậy,
vì họ không mang theo một trái tim,
chỉ mang theo của lễ ở bên ngoài,
nhưng Chúa chỉ đoái hoài lòng nhân hậu.
Người Sa-ma-ri lên đường không của lễ,
nhưng anh có trái tim để hiến dâng,
với tấm lòng yêu thương người lân cận,
nên anh cảm thấu được nỗi khổ đau,
của những ai đang gặp phải cơ cầu,
và cúi xuống để tận tình hầu hạ.
Con đường đến quê hương sự sống mới,
không khó không dài như phải lên non,
nhưng đường dài khó nhất đối với con,
là đường từ trái tim đến bàn tay.
Xin Chúa đặt tim con trên bàn tay,
thu ngắn lại cho con chặng đường dài,
để con không sợ gì những trở ngại,
mọi cái sẽ dễ lại trước khó khăn.
Xin cho con lên đường với trái tim:
suy nghĩ và nhìn đời với trái tim,
lắng nghe và hành động với trái tim,
một trái tim nên giống Chúa mỗi ngày. Amen.
by Lm. Thái Nguyên
12 tháng 7 năm 2025 PNS-FL.
|
|