Suy Niệm của LM Ngà
Một nền tảng cho niềm tin
Chúa Nhật Thứ 2 Mùa Phục Sinh, Năm C-2010
(Suy niệm Tin Mừng thánh Gioan (Ga 20, 19-31)
Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, sau biến cố tử nạn đau thương, Chúa Giê-su phục sinh bất thần hiện ra giữa các môn đệ đang họp nhau trong phòng đóng kín khiến các ông ngạc nhiên đến sững sờ.
Thấy các môn đệ hoang mang vì tưởng mình là hồn ma hiện về, Chúa Giê-su cho các ông xem tay và cạnh sườn, để chứng thật đây chính là Giê-su có thân xác chứ chẳng phải là hồn ma. Bấy giờ các môn đệ vui mừng khôn xiết vì Thầy Giê-su đã thực sự sống lại.
Thế nhưng hôm ấy ông Tô-ma vắng mặt nên không thể chứng kiến biến cố trọng đại nầy. Khi được các môn đệ khác thuật lại cho hay sự kiện đó, Tô-ma tỏ ra ngờ vực và đòi kiểm chứng: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." (Ga 20,25)
Cũng như Tô-ma, nhiều người ngày nay không dễ tin vào bất cứ điều gì nếu không được tận mắt trông thấy, hay ít ra, được thuyết phục bằng những chứng cớ hiển nhiên.
Hôm nay, để vững tin vào biến cố Chúa Giê-su phục sinh, chúng ta không thể đòi cho được “thấy dấu đinh ở tay Người” hoặc “xỏ ngón tay vào lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn Người” như ông Tô-ma ngày xưa, vì Chúa Giê-su không còn hiện diện cách hữu hình giữa chúng ta, nhưng chúng ta có thể nhận biết Chúa Giê-su đã thật sự sống lại nhờ dựa vào sự kiện các tông đồ của Người đã hiến cả mạng sống và đổ máu mình ra mà minh chứng.
Nếu Chúa Giê-su chết đi mà không sống lại như lời Người đã báo trước, thì các tông đồ sẽ có những phản ứng sau đây:
* Các ông sẽ ngộ ra rằng Thầy Giê-su mà họ đem lòng tin tưởng, yêu mến và ngưỡng mộ bấy lâu nay không phải là Con Thiên Chúa như lời Người nói mà chỉ là một tên lừa bịp và tất nhiên các ông sẽ oán ghét Người, phế bỏ Người.
* Các ông sẽ không dựng lên chuyện Chúa Giê-su phục sinh rồi đi rao truyền khắp nơi để lừa bịp người khác, vì không có lợi lộc gì khi làm như thế; trái lại, phải chịu thiệt hại rất nhiều.
* Các tông đồ sẽ không điên rồ đến nỗi từ bỏ gia đình, cha mẹ, vợ con, lại phải chịu đòn vọt, xiềng xích, tù đầy và chịu chết để đi loan truyền một điều láo khoét.
Trong thực tế, các phản ứng kể trên không hề xảy ra, nên ta có thể tin chắc là Chúa Giê-su đã sống lại thật.
Chỉ khi tận mắt nhìn thấy Đức Giê-su thực sự sống lại thì các tông đồ mới tin Đức Giê-su là Con Thiên Chúa và sẵn sàng vâng lệnh Chúa Giê-su để loan báo cho mọi người nhận biết Người là Đấng Cứu Độ muôn dân, cho dù phải hy sinh tất cả, kể cả mạng sống mình.
Vậy thì ta có thể kết luận rằng:
Sau khi Chúa Giê-su chịu chết và được mai táng trong mồ, sự kiện các tông đồ của Chúa Giê-su tiếp tục từ bỏ gia đình, cha mẹ, vợ con và nhất là từ bỏ cả mạng sống để làm chứng rằng Đức Giê-su sống lại, thì đó là một lời chứng hoàn toàn đáng tin. Không ai liều chết và đánh mất tất cả chỉ vì một điều bịa đặt bao giờ. Vậy sự kiện Đức Giê-su sống lại là hoàn toàn chắc chắn.
***
Sự hi sinh mạng sống mình vì Chúa Ki-tô của các tông đồ ngày xưa trở thành bằng chứng thuyết phục nhất giúp chúng ta tin Chúa Giê-su sống lại.
Vậy cộng đoàn chúng ta, giáo xứ chúng ta và bản thân mỗi người chúng ta cũng phải cố gắng trở thành một dấu chỉ thật thuyết phục về sự phục sinh của Chúa Giê-su Ki-tô để giúp mọi người tin vào Chúa Ki-tô và được hưởng ơn cứu độ do Người trao ban.
Con mắt thứ ba
Chúa nhật II phục sinh, năm C
Cách xử sự của Tô-ma cũng là cách xử sự thông thường của nhiều người. Người ta chỉ chấp nhận là có thật những gì mà người ta có thể xem bằng mắt, bắt bằng tay. Còn những gì người ta không thấy, bị xem như là không có. Khi một số người được hỏi tại sao không tin Thiên Chúa, không tin có linh hồn, không tin có sự sống đời sau... họ trả lời thật đơn giản: "Có thấy đâu mà tin!"
Thế nhưng, có vô số điều chúng ta không thấy nhưng chúng ta vẫn phải nhận là chúng hiện hữu. Người ta không thể nhìn thấy tình mẫu tử nơi người mẹ, không nhìn thấy ý chí kiên cường nơi bậc anh hùng, không nhìn thấy trí khôn tuyệt vời của nhà khoa học, nhưng không ai dám phủ nhận rằng những thực tại nầy không có.
Với đôi mắt trần nầy, tầm nhìn của người ta rất hạn hẹp, như "cóc ngồi đáy giếng coi trời bằng vung".
Với đôi mắt trần nầy, chúng ta chỉ nhận thấy một ít sự vật phù du mà thôi. Còn những điều quan trọng, những điều chính yếu thì không thể nhận thấy, đúng như nhận định của Saint Exupéry: "L'essentiel est invisible pour les yeux" [những thực tại thiết yếu thì mắt trần không thấy được]
Do đó, nhân loại cần đến những con mắt khác, những con mắt thứ ba để nhận thức những thực tại cao siêu. Con mắt nầy giúp người ta nhìn xa, nhìn rộng, nhìn sâu, nhìn thấy điều thiết yếu, nhìn thấy chân lý.
Con mắt thứ ba của các nhà vi trùng học là ống kính hiển vi, nhờ nó, các nhà nghiên cứu có thể nhìn thấy cả những siêu vi.
Con mắt thứ ba của các nhà thiên văn là ống kính thiên văn, nhờ đó các nhà khoa học có thể thấy được những ngôi sao cách mặt đất đến mười tỉ năm ánh sáng.
Con mắt thứ ba của các nhà quân sự là màn ảnh ra-đa, là vệ tinh quan sát... Chúng giúp các nhà quân sự phát hiện máy bay địch từ xa, nắm rõ địa hình cũng như các bí mật quân sự của đối phương nhằm đạt tới chiến thắng.
Trong Phật giáo, con mắt thứ ba của nhà tu hành đạt đạo là 'huệ nhãn', giúp người ta thấy được những thực tại siêu hình.
Đối với Đức Giê-su, con mắt thứ ba mà Ngài mong muốn các môn đệ Ngài phải có là Đức Tin. Nhờ Đức Tin, nhân loại có thể nhận ra Thiên Chúa là Cha yêu thương, nhận ra Đức Giê-su là Đấng Cứu Độ, nhận ra mình có hồn thiêng bất tử, biết mình có cuộc sống mai sau, có thiên đàng hoả ngục...
Tông đồ Tô-ma chưa có con mắt thứ ba. Anh chỉ tiếp cận với thế giới qua đôi mắt trần. Anh chủ trương chỉ những gì được xem thấy tận mắt, được sờ tận tay, mới là điều có thực. Chính vì thế, khi nghe các môn đệ bảo anh: "Nầy Tô-ma, Thầy đã sống lại và đã hiện ra với chúng tôi", Tô-ma cho là chuyện đùa.
Cho dù Tô-ma có thấy Chúa tận mắt đi nữa, chắc gì anh đã tin, vì biết đâu đó chỉ là bóng ma của Chúa Giê-su hiện về. Anh đòi phải kiểm chứng bằng cách xỏ ngón tay vào lỗ đinh, đặt bàn tay vào cạnh sườn Chúa thì anh mới chịu.
Chúa Giê-su không hài lòng với quan điểm đó. Ngài nói: "Tô-ma, vì anh đã thấy Thầy nên anh mới tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin." Như thế, phúc cho những ai không dùng đôi mắt trần, nhưng dùng con mắt thứ ba, con mắt Đức Tin để nhận ra Chúa.
Lạy Chúa Giê-su,
Chúa luôn tuyên dương những ai có Đức Tin vì đó là con mắt tối cần giúp thấy được những thực tại siêu hình và đạt tới ơn cứu độ;
Chúa luôn khiển trách các môn đệ khi các ông yếu lòng tin;
Chúa buồn phiền vì dân chúng thiếu lòng tin;
Chúa khiển trách Tô-ma là kẻ cứng lòng tin;
Xin khai mở cho chúng con con mắt thứ ba, con mắt Đức Tin, để nhận biết Thiên Chúa Cha là Cha yêu thương, nhận biết Chúa là Đấng cứu độ nhân loại và nhận biết Chúa Thánh Thần là Đấng thánh hoá mọi người. Amen.
Lm. Inhaxiô Trần Ngà - dongcong.net