Suy Niệm của Huệ Minh

 

Thứ Tu Tuần 18 Thường Niên



*"Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng song"

Trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu hỏi liệu dân chúng nghĩ Người là ai: "Người ta nói Con Người là ai?"

Ở mức đơn giản, Chúa Giêsu hỏi : “Người ta bảo Thầy là ai ?”. Câu trả lời “điều người ta nghĩ về Chúa” có thể không hoàn toàn chính xác, các cảm tưởng của người khác có thể có một phần sự thật. Và một phần sự thật ấy có thể giúp chúng ta có một cái nhìn về chính Chúa. Tuy nhiên, dựa vào điều người khác nói thì thật khó mà đi vào tương quan thiết thân với Chúa.

Kế đến, Chúa Giêsu hỏi : “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” Với câu hỏi này, Chúa Giêsu đòi những ai muốn theo Ngài làm môn đệ phải trả lời ở một mức độ riêng tư hơn. Phải làm thế nào để có thể biết, hiểu và kể lại cho người khác về Chúa bằng chính kinh nghiệm của mình. Đây là điều rất quan trọng và thiết yếu. Mỗi người phải trả lời được câu hỏi này trước mặt Chúa và cho mọi người một cách xác tín mạnh mẽ.

Và ở đỉnh cao của tương quan hay nói cách khác là với tâm ình của thầy trò, Thầy hỏi “Còn các con, các con bảo thầy là ai ?” Chúa muốn mọi người phải trả lời với một sự hiểu biết sâu xa hơn về Thiên Chúa. Đây là điều không thuộc về con người, nhưng là do chính Thiên Chúa tiết lộ, Thiên Chúa ban ơn để cho chúng ta biết về Ngài. Vào ngày phán xét, làm thế nào chúng ta biết tường tận và được nhìn thấy Chúa đó là điều quan trọng nhất. Ngài là ai trước mắt chúng ta và chúng ta là ai trước nhan Ngài.

Sau khi biết ý kiến của dân chúng, Người muốn biết ý kiến của các môn đệ của Người. Đang khi dân chúng còn mù mờ về vai trò và con người của Đức Giêsu thì Phêrô, vị Giáo hoàng tiên khởi đã mạnh mẽ tuyên xưng: “Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Phêrô, thay mặt mọi người tuyên xưng trong đức tin. Chúa Giêsu xác nhận niềm tin của Phêrô.

Câu trả lời của Phêrô thể hiện rằng ông nhận ra trong Chúa Giêsu sự kiện toàn của những lời tiên tri trong Cưu Ước và rằng trong Chúa Giêsu chúng ta có sự mạc khải trọn vẹn về Cha của chúng ta. Sự thú nhận của Phêrô không mới. Lần đầu, sau khi đi trên mặt nước, những môn đệ khác đã tuyên xưng điều tương tự trong đức tin: "Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!" (Mt 14,33). Trong Phúc Âm của Gioan, Mácta tuyên xưng y như Phêrô: "Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa, Ðấng phải đến thế gian" (Ga 11,27).

Chúa Giêsu công bố Phêrô là "Có Phúc!" bởi vì ông đã nhận một mạc khải từ Chúa Cha. Trong hoàn cảnh này cũng thế, câu trả lời của Chúa Giêsu cũng không mới. Lần đầu Chúa Giêsu đã có lời công bố y như vậy về niềm vui của các môn đệ khi mắt thấy tai nghe những điều mà không ai trước đây được biết (Mt 13,16), và đã tôn vinh Chúa Cha vì đã mạc khải Người Con cho những kẻ bé mọn chứ không phải bậc thông thái (Mt 11,25). Phêrô là một trong số những người bé mọn mà Chúa Cha muốn mạc khải cho. Nhận thức về sự hiện diện của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu không đến từ "người phàm mắt thịt", nghĩa là, cũng không phải hoa trái của nỗ lực phàm nhân, mà là một ơn ban của Chúa Cha ban cho ai tuỳ ý Người.

Phêrô được khen là có phúc vì nhận được mạc khải từ trên cao. Thế nhưng chỉ một khoảnh khắc sau, chính Phêrô lại bị Thầy mình trách là “Satan” vì lòng dạ tăm tối, chỉ “hiểu biết những sự thuộc về loài người” và đang “làm cớ cho Thầy vấp phạm”.

Sau lời tuyên xưng đức tin của Phêrô, Đức Giêsu đã mời gọi Phêrô đứng lên để cùng cộng tác trong công trình xây dựng Hội thánh của Ngài: “Phêrô! con là đá, trên tảng đá này, Thày sẽ xây Hội Thánh của Thày”(Mt 16,18). Với lời nói này, Chúa Giêsu chính thức thiết lập Hội Thánh trên trần gian. Chính Chúa là sức mạnh của Hội Thánh. Phêrô là Đá Tảng, nhưng chính Chúa làm cho Đá Tảng được vững bền. Phêrô giữ chìa khoá Nước Trời, nhưng chính Chúa gìn giữ toà nhà Nước Trời.

Vị Giáo hoàng tiên khởi, với biết bao yếu đuối sa ngã, cuối cùng đã lấy cái chết của mình để xác minh chân lý thập giá. Từ chỗ muốn dạy cho Thầy mình về sự khôn ngoan của thế gian đến việc khám phá và ôm ấp giá trị sâu xa sự điên rồ của Thiên Chúa. Từ chỗ phủ nhận và ngăn chận Thầy mình bước đi trên con đường khổ đau, đến việc chính mình anh dũng tiến vào. Nhưng nhờ đâu mà Phêrô có được thái độ và hành vi hào hùng đó? Phải chăng chính nhờ niềm xác tín vào Đức Giêsu, Đấng ông đã tuyên xưng. Nếu không có xác tín, hẳn ông đã chẳng dám theo.

Niềm tin mãnh liệt vào Đức Giêsu thúc đẩy người ta vâng theo lời Ngài. Khi Chúa bảo “Hãy lui ra sau Ta”, Phêrô vâng lời lui ra chứ không giận dỗi bỏ đi. Khi bị mắng là “Satan”, Phêrô vẫn khiêm tốn nhìn nhận tầm nhìn nông cạn của mình chứ không tự ái phản đối.

Sau lời tuyên xưng đức tin của Phêrô, Đức Giêsu đã mời gọi Phêrô đứng lên để cùng cộng tác trong công trình xây dựng Hội thánh của Ngài: “Phêrô! con là đá, trên tảng đá này, Thày sẽ xây Hội Thánh của Thày”(Mt 16,18). Với lời nói này, Chúa Giêsu chính thức thiết lập Hội Thánh trên trần gian. Chính Chúa là sức mạnh của Hội Thánh. Phêrô là Đá Tảng, nhưng chính Chúa làm cho Đá Tảng được vững bền. Phêrô giữ chìa khoá Nước Trời, nhưng chính Chúa gìn giữ toà nhà Nước Trời.

Lời tuyên xưng Chúa Giêsu là “Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” là cốt lõi của nìềm tin Kitô giáo. Lời rao giảng và hành động của Ngài là gì đối với chúng ta tùy thuộc vào việc chúng ta tin Ngài là ai. Nếu tin Ngài là Con Thiên Chúa hằng sống, thì việc lắng nghe và thực hành lời Ngài, cũng như sống theo cách hành động của Ngài, chúng ta sẽ được cứu độ.

Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, ta vẫn thưa với Chúa rằng “Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” . Và ước gì cuộc đời mỗi người chúng ta trở thành một câu trả lời sống động cho Chúa Giêsu, cho anh chị em và cùng với anh chị em, trả lời cho cả xã hội ngày nay rằng: Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa làm người đang sống ở giữa chúng ta.

 

Thứ năm Tuần 18 Thường Niên

VÁC THẬP GIÁ THEO THẦY

Đời là bể khổ ! Khổ đau đến giống như những ngày mưa gió bão bùng để nhắc nhở chúng ta biết sống và trân quý những ngày nắng đẹp, gió hiền. Tất nhiên, không ai muốn mình bị đau khổ và luôn tìm mọi cách để tránh né chúng. Nhưng đôi lúc, chúng ta cần có đau khổ để cảnh báo mình phải dừng lại để đánh giá cuộc sống của mình. 

Trên đời này chẳng ai thích đau khổ. Thế nhưng đau khổ không phải là điều vô ích, hay chỉ gây ra những hậu quả tiêu cực. Thực tế cho thấy, khi đối diện với đau khổ, người ta có nhiều thái độ khác nhau. Có người bị đau khổ đè bẹp, nhưng không ít người đã can đảm vượt qua khổ đau.

Đau khổ làm ta sợ hãi, nhưng đau khổ thực sự là một nhu cầu thiết yếu cho đời sống làm người. Không có đau khổ, hay thiếu vắng đau khổ trong đời, người ta “sẽ không lớn nổi thành người”, không thể hoàn thành “định mệnh” của mình, càng không thể hiểu được giá trị chân thực, sâu xa của đời sống làm người và làm con Thiên Chúa. Đau khổ có một ý nghĩa và giá trị nhất thiết để hoàn thành chính mình theo Thiên ý.

Thật vậy, chính “Đức Giêsu cũng phải trải qua gian khổ để trở thành vị lãnh đạo thập toàn” (Dt 2,10) và Ngài cũng “đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5, 8), để lại một gương mẫu cho chúng ta dõi bước theo Ngài (Pr 2, 22).

Trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với các môn đệ về những điều kiện để được làm môn đệ Ngài: từ bỏ mình, vác Thập giá, và đi theo Chúa Giêsu. Cả ba kiểu nói đều đồng nghĩa với nhau, và đều nói lên cái cốt yếu của đời sống Kitô hữu, đó là đón nhận đau khổ như chính Chúa Giêsu đã đón nhận cuộc khổ nạn và cái chết dành cho Ngài.

Theo Thầy Giêsu gần ba năm rồi, nhưng ông Phêrô vẫn chưa nhớ mình là môn đệ, là người bước theo, đi sau Thầy mình. Ông lấy ý riêng mình để can ngăn Thầy về cuộc Khổ Nạn mà Ngài vừa tiên báo cho các môn đệ (Mt 16, 21-23).

Thầy phải nhắc ông nhớ rằng theo Thầy thì phải bước sau Thầy, là họa lại con đường Thầy đi, và thi hành thánh ý Chúa Cha như Thầy.  Ước muốn theo Thầy không phải là ước muốn hời hợt, nông nổi, nhưng là hành trình tiệm tiến của việc “từ bỏ chính mình và vác thập giá mình mà theo.” Theo Thầy Giêsu là bước vào trong tương quan tình yêu thân thiết với Thầy. Là môn đệ nghĩa là phải từ bỏ mình, không còn lấy cái tôi, lấy ý riêng nhưng là ý muốn của Thầy làm trung tâm, làm qui tắc cho đời sống của mình.

Chúa Giêsu đã đưa ra những điều kiện trên đây liền sau khi Ngài loan báo về cuộc tử nạn của Ngài: Ngài sẽ bị đau khổ và bị treo trên Thập giá. Thập giá vốn là cái giá mà Chúa Giêsu phải trả vì cuộc sống và giáo lý của Ngài. Như vậy tất cả những ai muốn làm môn đệ Ngài đều phải trải qua con đường Thập giá ấy. Thật ra, đau khổ vốn là phần số chung của mọi người: đã mang tiếng khóc vào đời là mang lấy cả thân phận khổ đau, có khác chăng là thái độ của con người trước đau khổ mà thôi.

Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta một thái độ mẫu mực. Ngài không bao giờ lý giải về nguồn gốc của khổ đau, nhưng Ngài đón lấy khổ đau và biến nó thành cội nguồn của yêu thương. Thập giá vốn là tận cùng sự bỉ ổi của con người, nhưng đã được Chúa Giêsu biến thành biểu tượng của tình yêu. Chúa Giêsu chịu treo trên Thập giá, không phải để đề cao đau khổ, mà chính là để biểu lộ tình yêu của Ngài. Như vậy, chính trong mầu nhiệm Thập giá, chúng ta đón nhận khổ đau; chính trong mầu nhiệm Thập giá Chúa Giêsu mà thái độ đón nhận đau khổ của chúng ta mang lấy ý nghĩa.

Hẳn ta còn nhớ tượng Mẹ Maria bồng xác Chúa Giêsu trên tay, do danh họa Michel-Angelo thực hiện và hiện được đặt tại Ðền thờ thánh Phêrô ở Rôma, là một trong những kiệt tác về sự đau khổ. Tượng Mẹ Maria ôm xác Chúa Giêsu trong vòng tay Mẹ, không gì buồn thảm bằng; thế nhưng đó cũng là một trong những kiệt tác về yêu thương. Tất cả đều tùy thuộc thái độ của con người trước khổ đau. Con người có thể trốn chạy khổ đau, con người có thể suốt một đời phàn nàn về khổ đau. Nhưng con người cũng có thể biến khổ đau thành một hành động yêu thương; đó là thái độ của Chúa Giêsu và cũng phải là thái độ của tất cả những ai muốn làm môn đệ Ngài.

Chúa muốn mời gọi ta đi vào lộ trình dấn thân theo gương Chúa, để ta sẵn sàng liên lụy với anh chị em mình, đến mức không ngần ngại chia sẻ, hay gánh đau khổ thay cho họ. Cũng có thể nói, khi ta đau khổ, thì chính Chúa cũng đồng hành bên ta, giúp ta vượt qua khổ đau.

Đau khổ mà ta đang mang trong mình là những thách đố có tính thanh luyện, giúp ta lớn lên trong tương quan với Thiên Chúa và với anh chị em mình. Đau khổ ấy có thể gây đổ vỡ trong tâm hồn, thậm chí là rất đau đớn, vì thanh luyện thường đòi hỏi cắt tỉa, từ bỏ và hi sinh. Nhưng chắc chắn một điều, đau khổ không thể gây nguy hại cho con người (x.G 1, 12).

Vì thế, ta phải hết sức phân định khi gặp đau khổ, phải cân nhắc thật kĩ lưỡng trước khi áp dụng ý nghĩa của sự đau khổ, vì các biến cố khổ đau thường không đơn giản như ta nghĩ. Đau khổ là một mầu nhiệm. Ai quảng đại đón nhận và sống mầu nhiệm đớn đau ấy thì mới lãnh nhận được mối phúc thứ ba của Chúa: “Phúc thay ai đau khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” (Mt 5, 5).

Nơi nào có Thập giá, nơi đó có Thiên Chúa. Nguyện xin Chúa giúp chúng ta luôn tỉnh thức để nhận ra sự hiện diện yêu thương của Ngài ngay trong khổ đau, để giữa những giờ phút tăm tối và thử thách, chúng ta vẫn còn thấy được ý nghĩa của cuộc sống.

 

Thứ sáu Tuần 18 Thường Niên

QUA THẬP GIÁ ĐẾN VINH QUANG

Trang Tin Mừng ta thấy Chúa Giêsu dẫn ba tông đồ Phêrô, Giacôbê, Gioan lên núi và cho các ông thấy việc biến hình của Chúa Giêsu với Môisê và Êlia. Biến cố Chúa biến hình trên núi chuẩn bị cho các tông đồ đi vào mầu nhiệm vượt qua: Tử nạn và Phục sinh, để cho các tông đồ xác tín rằng theo Chúa Giêsu không chỉ có Thập Giá, mà còn có cả vinh quang nữa. Đó là ý nghĩa chính của cuộc biến hình này. Đây là mạc khải về thân phận, về định mệnh, trong tiến trình tự nhiên của con người, và những kinh nghiệm phải có từ ý chí bề ngoài của cuộc sống.

Chúa Giêsu đưa các môn đệ thân tín Phêrô, Giacôbê, Gioan lên núi cầu nguyện. Theo cách diễn tả của thánh sử Luca, thì chúng ta có thể hiểu rằng biến cố đã xảy ra vào lúc ban đêm. Thông thường ta biết sau khi giảng dạy và làm các phép lạ, Chúa Giêsu ẩn mình vào các nơi thanh vắng để cầu nguyện vào ban tối. Và nhất là căn cứ vào thái độ của các môn đệ khi sự việc xảy ra đó là Phêrô, Giacôbê và Gioan.

Thời điểm ban đêm trong trang Tin Mừng đồng hóa với bóng tối được diễn tả ở đây, có thể là biểu hiện cho khuynh hướng xấu, biểu hiện cho phần bóng tối trong tâm hồn của mỗi con người của ta. Nó cũng là một trong những điều mà Luca diễn tả, khiến cho quang cảnh dễ gây xúc động hơn.

Ðang khi cầu nguyện, diện mạo của Chúa Giêsu biến đổi khác thường, chói lòa hào quang ánh sáng. Nhưng Ngài vẫn là Ngài. Ngài vẫn là Chúa Giêsu. Con của Thiên Chúa, có khác chăng là về diện mạo và quang cảnh chung quanh. Một quang cảnh huy hoàng của cuộc đàm đạo giữa Chúa Giêsu với Môisê và Êlia, đến nỗi khi được chiêm ngắm, các môn đệ đã phải thốt lên như trong một cơn mê sảng: "Lạy Thầy, nếu chúng tôi được ở đây thì tốt lắm. Chúng tôi xin dựng ba lều, một cho Thầy, một cho Môisê và một cho Êlia".

Khi nhìn thấy như vậy, họ choáng ngợp trong hạnh phúc và họ không muốn lìa xa nơi họ đã được chứng kiến. Một Thầy chí thánh với vinh quang và ân sủng, một vinh quang và ân sủng có thể hoà quyện trong mơ ước trần thế con người của họ trong những dịp đi theo Chúa.

Hẳn ta biết, Môisê và Êlia là hai tiên tri Cựu Ước, Môisê là người đã được Chúa tuyển chọn để đưa dân Ngài ra khỏi ách nô lệ của nước Ai Cập. Êlia là tiên tri đã được kêu gọi để làm cố vấn cho giao ước, dân Do Thái đã gần như chối từ những ơn Chúa trong đời sống họ.

Biến cố Chúa Giêsu hiển dung trên núi Tabor là một cuộc thần hiện bày tỏ cho chúng ta về mầu nhiệm một Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúa Cha hiện diện qua tiếng từ trời phán. Chúa Giêsu là con yêu dấu của Chúa Cha. Đám mây bao phủ các tông đồ là dấu hiệu chỉ Chúa Thánh Thần. Biến cố biến hình gợi lại biến cố Chúa giêsu chịu phép rửa ở sông Giođan.

Khi đề cập đến biến cố này, các thánh sử khác thì nói rằng: Có một cuộc đàm đạo giữa Chúa và hai vị tiên tri. Trong khi Luca còn đi xa hơn, diễn tả ngay cả nội dung của cuộc đàm đạo giữa Chúa Giêsu, Môisê và Êlia. Họ nói về sự chết của Chúa Giêsu sẽ thực hiện tại Giêrusalem.

Cái chết của Chúa Giêsu không phải là dấu hiệu kết thúc của công trình cứu độ nhưng lại là hừng đông, là khởi điểm khơi mào cho sự sống lại trong vinh quang trong nước Ngài. Trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, sự chết, sự sống lại và lên trời của Chúa Giêsu được thể hiện cùng một lúc trong biến cố biến hình này. Sự chết trong thân xác hay chết của nhân tính của Chúa Giêsu là một sự sửa soạn cho sự vinh quang vĩnh cửu của một đời sống khác trong thiên tính của Chúa Giêsu.

Chịu đựng là vượt qua những thử thách khó khăn. Không phải chúng ta luôn luôn đương đầu với mọi cám dỗ và hoạt động của ma quỉ. Nhưng trong chính thời gian này, sự vinh quang của Thiên Chúa vẫn còn thể hiện trong chính các sinh hoạt của chay tịnh, sự thống hối, ăn năn, tha thứ trong 40 ngày. Lời phán từ trong đám mây minh chứng rằng Ðức Giêsu biến hình ngày hôm nay, chính là Chúa Giêsu Kitô, là Con Thiên Chúa. Ngài đã lãnh nhận và thánh hóa bí tích Rửa tội nơi sông Giođan với Gioan Tẩy Giả, Ngài là Con của Thiên Chúa, là Lời của Thiên Chúa nói với nhân loại và nhân loại phải đón nhận Ngài: "Ðây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người".

Ta cùng với Phêrô, Giacôbê và Gioan chứng kiến việc Chúa Giêsu biến hình và cùng được dự phần vào việc đàm phán của Chúa với hai tiên tri. Từ đó, chúng ta có thể được dự phần vào việc khổ nạn và cuộc Phục sinh của Chúa trong những ngày sắp tới. Ðó là một cách thế chúng ta tham dự trong bất toàn nhân tính, trong con người của Chúa Giêsu và chúng ta cũng sẽ được tham dự vào thiên tính bất diệt của Con Chúa trong ngày tới.

Phêrô, Giacôbê, Gioan cảm thấy vô cùng sung sướng, hạnh phúc trước cảnh Chúa biến hình: “Ở đây sướng lắm, con sẽ làm ba lều”. Các ông muốn mãi mãi ở trên núi và không muốn xuống núi nữa. Đó là thái độ của mỗi người Kitô hữu đi theo Đức Kitô vinh quang thì dễ hơn đi theo Đức Kitô vác thập giá (đi theo Đức Kitô là vua, thì dễ hơn đi theo Đức Kitô là tôi tớ).

Thường khi ta gặp may, hạnh phúc, có cơm ăn áo mặc, đời sống sung túc, thì chúng ta dễ dàng theo Chúa, sống đạo. Ngược lại khi gặp gian nan, thử thách, thất bại, nghèo khổ… chúng ta thường mất niềm tin, kêu trách Chúa, không đi dự lễ, bỏ đạo.

Ở đời mọi sự đều phải trả giá, nhiều khi phải trả giá rất mắc. Không muốn vác thập giá thì làm sao có vinh quang. Không chịu cực, chịu khó làm việc, thì làm sao có thể thành công. Muốn vào vinh quang Nước Trời, chúng ta chẳng đi con đường nào khác, ngoài con đường Đức Kitô đã đi, đó là con đường Thập Giá.

Thập Giá lúc nào cũng kề bên cuộc đời của mỗi người chúng ta. Cuộc sống con người đầy tràn thập giá, cũng như gian khổ… Đằng sau mọi gian nan thử thách, đau khổ, thập giá của cuộc đời, Thiên Chúa luôn luôn hiện diện và yêu thương con người để dẫn đưa chúng ta tới hạnh phúc vĩnh cửu: “Thập giá là con đương đưa đến vinh quang phục sinh”.

Chuyện quan trọng là ta có tin rằng Chúa luôn luôn hiện diện với ta trên  mọi nẻo đường đời hay không mà thôi.

 

Thứ bảy Tuần 18 Thường Niên

TỈNH THỨC VÀ SẴN SÀNG     

Hãy tỉnh thức ! Chúng ta không còn ở trong thời kỳ chờ đợi Chúa giáng sinh làm người, dù rằng năm phụng vụ mở đầu với mùa vọng, mùa chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh. Và mỗi người chúng ta đang ở trong thời kỳ chờ đợi Chúa đến hoàn tất công trình cứu độ nơi mỗi người, cũng như nơi toàn thể nhân loại.

Trong cuộc sống, chúng ta thường nói: Mấy ai học được chữ ngờ. Nghĩa là có nhiều biến cố xảy đến ngoài dự kiến của chúng ta. Nhưng có một cái bất ngờ, tuy không do chúng ta dự liệu, nhưng lại tuỳ thuộc chúng ta định đoạt số phận, đó là cái chết.

Đọc báo chí, nghe truyền thanh và xem truyền hình, chúng ta thấy cái chết phảng phất ở mọi nơi, và trong mọi lúc. Nào là thiên tai bão lụt giết chết hàng trăm người. Nào là núi lửa, động đất giết chết hàng ngàn người. Nào là chiến tranh, đói khổ giết chết hàng vạn người. Dẫu vậy có ai nghĩ rằng mình cũng sẽ phải chết, mà mấy ai đã tỉnh thức và sẵn sàng cho cái bất ngờ cuối cùng ấy.

Sống và chết... hai từ mang hai nghĩa đối lập nhưng luôn được đi đôi với nhau, tại sao ?.. Bởi vì sự sống và cái chết là một ranh giới rất mong manh, đôi khi ta sống hôm nay mà ngày sau vô tình có nhũng thứ ta không ngờ trước được.

Vào ngày 11/9/2001, một nhóm không tặc đã cùng một lúc cướp bốn chiếc máy bay hiệu Boeing và 2 trong số đó được lái đâm thẳng tòa Tháp Đôi của Mỹ. Vụ việc khiến cả nước Mỹ bàng hoàng.  Nhân loại và đặc biệt người Mỹ sẽ chẳng bao giờ quên được ngày 11/9 kinh hoàng. Không có sự trừng phạt của Thánh thần nào hết. Do những cái đầu điên rồ và lương tâm giá lạnh của chính con người ngay trong thế kỷ văn minh này đã mang đến mọi thảm họa bi thương cho con người. 

Sự việc đã lấy đi sinh mạng hơn 2.000 người, nước Mỹ rơi vào khủng hoảng tâm lý trầm trọng. Thảm họa thương tâm ấy khiến không ít người đau lòng, tuyệt vọng.

Và hẳn chúng ta còn nhớ xe bus chở người Việt đi Ngày Thánh Mẫu Missouri 2009.

Mong manh giữa sự sống và sự chết. Mỗi năm, cả nước có đến trên chục ngàn người chết vì tai nạn giao thông, hàng ngàn người chết do tai nạn lao động. Tình trạng ngộ độc thực phẩm ngày càng nghiêm trọng đã và đang cướp đi sinh mạng của biết bao người. Có nhiều người còn trẻ đã phải vĩnh viễn ra đi. Biết bao sáng kiến, biết bao quy định, nhưng số người chết vẫn không giảm. Đã nhiều người lên tiếng, nhưng xem ra tình trạng này chưa được cải thiện. Người dân đành phải sống theo kiểu “ai có thân người ấy lo”. Những điều trên đây cho thấy kiếp người thật mong manh, nay còn, mai mất. Mỗi khi ra đường là lo lắng, chỉ khi về tới nhà mới chắc là mình được an toàn.

Ngẫm về sự mỏng manh của kiếp người, tác giả Thánh vịnh đã thốt lên:

“Kiếp phù sinh tháng ngày vắn vỏi,

tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,

 một cơn gió thoảng là xong,

chốn xưa mình ở cũng không biết mình” (Tv 103, 15-16).

Chình vì thân phận con người mong manh nên con người phải tỉnh thức để chờ Chúa đến với mỗi người.

Tỉnh thức giữa đêm khuya cuộc đời, theo Kinh Thánh, đêm khuya là thời gian của bóng tối của “quyền lực tối tăm” (x.Lc 22,23; Mc 14,49; Ep 6,12). Do đó đêm tối cũng chính là thời gian của cám dỗ, thời gian của thử thách, do đó chúng ta phải mang tâm tình thức tỉnh.

Tỉnh thức không có nghĩa là không ngủ, vì đó là điều bất khả về phương diện thể lý. Để hiểu đúng ý mà Chúa Giêsu muốn nói, chúng ta có thể nghĩ đến một lời mời gọi tỉnh thức đặc biệt mà chính Chúa đưa ra cho các môn đệ thân tín của Người trong một hoàn cảnh khác.

Trong vườn Ghếtsêmani, vào đêm Chúa Giêsu bị bắt, Người nói với ba đồ đệ thân tín: “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện” (14, 38). Trong vườn Ghếtsêmani, lời mời gọi này phải được hiểu trước hết theo nghĩa đen của các từ ngữ. Nhưng điều đó không ngăn cản chúng ta giải thích rằng sự tỉnh thức, sâu xa ra, chính là một thái độ sống hoàn toàn quy hướng một cách rõ ràng về Thiên Chúa, tức là một thái độ cầu nguyện ở mức độ thâm sâu và thực chất.

Áp dụng cách hiểu đó vào lời mời gọi của Chúa, ta có thể hiểu: sự tỉnh thức mà Chúa Giêsu nói đến ở đây chính yếu là một cách sống hoàn toàn trong ý thức liên tục quy hướng về ông chủ và nhiệm vụ mà ông trao phó. Người đầy tớ tỉnh thức là người luôn luôn đặt mình trong ý thức về tư cách của mình là người phục vụ ông chủ và thi hành một cách tốt nhất nhiệm vụ mà ông trao phó cho mình.

Khi ông chủ đi xa, người đầy tớ dễ bị cám dỗ quên ông và quên nhiệm vụ ông trao phó, từ đó hành xử như thể mình là ông chủ, theo hứng riêng của mình từng lúc. Người đầy tớ tỉnh thực sẽ luôn luôn gắn kết cuộc sống mình với ông củ và luôn luôn sẵn sàng trả lời ông về việc thực hiện nhiệm vụ mà ông đã trao phó cho mình. Khi Chúa Giêsu nói các môn đệ của Người phải tỉnh thức như các đầy tớ trong dụ ngôn phải tỉnh thức, là Người muốn nhấn mạnh đến thái độ sống đó, chứ không phải là một sự canh thức về phương diện thể lý đơn giản.

Trong tư thế người phục vụ áo quần tươm tất, gọn ghẽ, nhanh nhẹn, tận tâm và sẵn sàng, nhà cửa sáng sủa, sạch sẽ, chúng ta mới có thể chu đáo đón tiếp Chúa đến bất kỳ khi nào. Với tha nhân cũng thế, chúng ta mới có thể giúp đỡ, hay ứng cứu hiệu quả và kịp thời cho mọi người.

Chẳng thể luộm thuộm, bẩn thỉu áo quần, nhà cửa tăm tối, tâm hồn hoen ố, nhếch nhác tội lỗi mà xứng đáng dón rước Chúa đến thăm. Chẳng thề tham lam, giận ghét, đố kỵ, oán thù, mà đến với tha nhân được.

“Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông đã không để nó khoét vách nhà mình đâu. Anh em cũng vậy, hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.” (Lc 12, 39-40).

Và như vậy, người Kitô hữu mang tâm tình thức tỉnh và cầu nguyện như Chúa Giêsu kêu gọi để chờ, để đợi. Chờ đợi ngày Chúa Giêsu trở lại trong vinh quang, ngày đó Ngài đến thật bất ngờ, không ai biết được ngày giờ. Cho nên anh em phải canh thức, kẻo lỡ ra Ngài đến bất thần, bắt gặp anh em đang mê ngủ (x. Mc 13,33-37).

 

huệ minh- January 8, 2019